(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:
Tóm lược: Nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ lấy cảm hứng từ cốt truyện dân gian dựng nên vở kịch nói nổi tiếng cùng tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Vở kịch kể về bi kịch của Trương Ba – một người làm vườn hiền lành, đức độ nhưng vì một sự cố, linh hồn ông phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt phàm tục. Sự khác biệt giữa linh hồn thanh cao và thân xác đầy bản năng tạo ra mâu thuẫn lớn, khiến Trương Ba ngày càng đau khổ. Ông phải đối mặt với sự thay đổi từ chính mình khi bắt đầu bị ảnh hưởng bởi những đòi hỏi bản năng của thân xác. Đồng thời, gia đình và những người thân yêu cũng dần xa lánh ông vì không còn nhận ra người Trương Ba trước kia. Trong tâm trạng giằng xé, ông có một cuộc đối thoại đầy căng thẳng với chính thân xác hàng thịt – nơi cả hai bên vạch trần những xung đột sâu sắc giữa linh hồn và thể xác. Đoạn trích sau là phần đầu chương 7 của vở kịch, tái hiện “Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác”.
(Trên sân khấu, hồn Trương Ba tách ra khỏi xác anh hàng thịt và hiện hình lờ mờ trong dáng nhân vật Trương Ba thật. Thân xác bằng thịt vẫn ngồi nguyên trên chõng và lúc này chỉ còn là thân xác.)
Xác hàng thịt: (bắt đầu) Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác...
Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lý, mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù...
Xác hàng thịt: Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy!
Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc!
Xác hàng thịt: Có thật thế không?
Hồn Trương Ba: Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…
Xác hàng thịt: Tất nhiên, tất nhiên. Sao ông không kể tiếp: Khi ông ở bên nhà tôi... Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại... Đêm hôm đó, suýt nữa thì...
Hồn Trương Ba: Im đi! Đấy là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày...
Xác hàng thịt: Thì tôi có ghen đâu! Ai lại ghen với chính thân thể mình nhỉ! Tôi chỉ trách là sao đêm ấy ông lại tự dưng bỏ chạy, hoài của!... Này, nhưng ta nên thành thật với nhau một chút: Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao? Để thoả mãn tôi, chẳng lẽ ông không tham dự vào chút đỉnh gì? Nào, hãy thành thật trả lời!
Hồn Trương Ba: Ta... ta... đã bảo mày im đi!
Xác hàng thịt: Rõ là ông không dám trả lời. Giấu ai chứ không thể giấu tôi được! Hai ta đã hoà với nhau làm một rồi!
Hồn Trương Ba: Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn...
Xác hàng thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!
Hồn Trương Ba: (bịt tai lại) Ta không muốn nghe mày nữa!
Xác hàng thịt: (lắc đầu) Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi. Tôi đã cho ông sức mạnh. Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi... Ha ha!
Hồn Trương Ba: Ta cần gì đến cái sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo.
Xác hàng thịt: Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Đâu phải lỗi tại tôi... (buồn rầu) Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân... Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi... Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác… Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác... Mỗi bữa tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ!
Hồn Trương Ba: Nhưng... Nhưng...
Xác hàng thịt: Hãy công bằng hơn, ông Trương Ba ạ! Từ nãy tới giờ chỉ có ông nặng lời với tôi, chứ tôi thì vẫn nhã nhặn với ông đấy chứ (thì thầm). Tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn...
Hồn Trương Ba: Chiều chuộng?
Xác hàng thịt: Chứ sao? Tôi thông cảm với những “trò chơi tâm hồn của ông”. Nghĩa là: Những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh, vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều xấu gì ông cứ việc đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết: Cần phải để cho tính tự ái của ông được ve vuốt. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện! Hà hà, miễn là... ông vẫn làm đủ mọi việc để thoả mãn những thèm khát của tôi!
Hồn Trương Ba: Lí lẽ của anh thật ti tiện!
Xác hàng thịt: Ấy đấy, ông bắt đầu gọi tôi là anh rồi đấy! Có phải lí lẽ của tôi đâu, tôi chỉ nhắc lại những điều ông vẫn tự nói với mình và với người khác đấy chứ! Đã bảo chúng ta tuy hai mà một!
Hồn Trương Ba: (như tuyệt vọng) Trời!
Xác hàng thịt: (an ủi) Ông đừng nên tự dằn vặt làm gì! Tôi đâu muốn làm khổ ông, bởi tôi cũng rất cần đến ông. Thôi, đừng cãi cọ nhau nữa! Chẳng còn cách nào khác đâu! Phải sống hoà thuận với nhau thôi! Cái hồn vía ương bướng của tôi ơi, hãy về với tôi này!
(Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào xác hàng thịt. Trên sân khấu, nhân vật Trương Ba biến đi. Chỉ còn lại xác hàng thịt mang hồn Trương Ba ngồi lặng lẽ bên chõng... Vợ Trương Ba vào.)
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, NXB Kim Đồng, 2021)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định mâu thuẫn chính trong đoạn trích trên.
Câu 2. Chủ đề của đoạn trích trên là gì?
Câu 3. Xác định nghĩa của yếu tố Hán Việt “thuận” trong những câu sau:
a. Phải sống hoà thuận với nhau thôi!
b. Thuyền thuận gió lao đi vun vút.
Câu 4. Phân tích một số lời thoại mà anh/chị cho rằng có tác dụng trong việc thể hiện tính cách của nhân vật Trương Ba.
Câu 5. Anh/ chị đồng tình hay phản đối với những lập luận của phần xác anh hàng thịt trong đoạn trích trên. Hãy lí giải quan điểm của bản thân bằng đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng.
Câu 1: Biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử
Di tích lịch sử là những bằng chứng quan trọng về quá trình hình thành và phát triển của dân tộc. Bảo vệ và phát huy giá trị các di tích là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Dưới đây là một số biện pháp thiết thực:
Trước tiên, cần nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của di tích lịch sử thông qua giáo dục và truyền thông. Các trường học nên tổ chức những buổi học ngoài trời tại di tích, kết hợp với các hoạt động trải nghiệm thực tế.
Thứ hai, nhà nước cần đầu tư, trùng tu và bảo tồn di tích một cách bài bản, không làm mất đi giá trị nguyên gốc của chúng. Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác du lịch tại các di tích để tránh tình trạng xâm hại và hủy hoại.
Thứ ba, các hoạt động du lịch và tham quan cần được tổ chức có quy hoạch, kết hợp giữa giữ gìn và khai thác hợp lý. Du khách cũng cần được giáo dục về ý thức bảo vệ di tích.
Tóm lại, việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Chúng ta cần chung tay để giữ gìn những giá trị văn hóa và lịch sử quý báu cho thế hệ mai sau.
Câu 2: Phân tích đoạn thơ
Bài thơ "Mùi cơm cháy" của Vũ Tuấn đã khắc họa hình ảnh một tuổi thơ gắn liền với ký ức quê hương đầy tình cảm. Tác giả dùng hình ảnh "mùi cơm cháy" như một biểu tượng của những ký ức thơ ấu, gắn với tình yêu gia đình và quê hương.
Từ "Mùi cơm cháy, con vẫn ăn ngày trước" đến "Chẳng nơi nào... có vị cơm năm xưa", tác giả gợi nhớ về những năm tháng gắn bó với quê nhà, với những món ăn dân dã mà thơ ấu đã quen thuộc. Các hình ảnh "có nắng, có mưa", "lời mẹ ru, ngọt ngào cay đắng" tạo nên bức tranh quê hương vừa mộc mạc, vừa đầy yêu thương.
Ngoài ra, bài thơ còn nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ, những gian lao cực nhọc mà người con đi xa mới thấu hiểu. Nhờ quê, nhờ gia đình càng làm tăng thêm tình yêu đối với đất nước.
Tóm lại, "Mùi cơm cháy" là bài thơ chất chứa tình yêu gia đình, quê hương và tâm hồn của người con xa xứ.
Câu 1
Di tích lịch sử là tài sản vô giá, là minh chứng sống động cho quá khứ hào hùng của dân tộc, do đó việc bảo vệ và phát huy giá trị của chúng là trách nhiệm thiêng liêng của mọi công dân. Để bảo vệ hiệu quả, trước hết cần tăng cường đầu tư ngân sách và nguồn nhân lực chuyên môn cho công tác trùng tu, tôn tạo di tích theo đúng nguyên tắc khoa học, tránh tình trạng "làm mới hóa" làm mất đi nét đặc trưng lịch sử. Song song đó, phải siết chặt quản lý, xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm, buôn bán hoặc làm hư hại di tích theo quy định pháp luật, tạo thành hàng rào an toàn cho các di tích. Để phát huy giá trị, cần tích hợp di tích vào hệ thống giáo dục lịch sử, tổ chức các chương trình trải nghiệm thực tế cho học sinh, sinh viên giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về cội nguồn dân tộc. Đồng thời, cần khai thác du lịch văn hóa một cách thông minh và bền vững, biến di tích thành không gian văn hóa sống động, thu hút du khách qua đó lan tỏa ý nghĩa lịch sử, văn hóa đến cộng đồng rộng lớn hơn. Chỉ khi mọi người cùng chung tay bảo vệ và phát huy thì di tích mới có thể tồn tại mãi mãi, truyền tải giá trị lịch sử cho các thế hệ sau.
Câu 2:
Đoạn thơ trích từ bộ sưu tập Khúc ru quê của nhà thơ Vũ Tuấn không chỉ là một bức tranh ký ức tuổi thơ dịu dàng, mà còn là lời tự tình chân thành về tình yêu quê hương, tình cảm gia đình được gói ghém trong những chi tiết bình dị nhất. Với hình ảnh trung tâm là mùi cơm cháy, nhà thơ đã xây dựng nên một bức thơ giàu sức gợi, gợi lên nỗi nhớ sâu nặng cho mọi người con xa quê.
Mở đầu đoạn thơ, nhà thơ đã gieo rắc nỗi nhớ bằng giọng điệu tâm tình như lời tự sự: "Con đi xa, nhớ hương vị tuổi thơ / Mùi cơm cháy, con vẫn ăn ngày trước". Ngay từ những câu đầu, người đọc đã cảm nhận được sự xa cách địa lý giữa người con và quê hương, và đó chính là động lực để ký ức trở về với những ngày tháng tuổi thơ. Hình ảnh "mùi cơm cháy" không chỉ là hương vị của một món ăn thông thường, mà đã trở thành biểu tượng cho toàn bộ ký ức tuổi thơ, cho những ngày tháng bình dị, an yên tại quê nhà. Nhà thơ càng nhấn mạnh tính độc nhất của hương vị này khi viết: "Đôi chân con đi khắp miền Tổ quốc / Chẳng nơi nào... có vị cơm năm xưa". Dù đã đi đến mọi miền đất nước, dù đã trải qua nhiều món ăn ngon khác, nhưng không gì có thể thay thế được hương vị cơm cháy quê nhà, hương vị được gắn liền với tình cảm gia đình và những kỷ niệm không thể nào quên.
Trong các khổ thơ sau, nhà thơ đã làm sâu sắc hơn hình ảnh "cơm cháy quê nghèo" bằng những chi tiết nhỏ nhưng đầy sức gợi. Đầu tiên là sự kết hợp giữa thiên nhiên và lao động quê hương: "có nắng, có mưa", "vị thơm rơm, cánh đồng mùa gặt", "hè nắng gắt". Những hình ảnh này gợi lên bức tranh lao động lam lũ, cần cù của người dân quê, sự vất vả nhưng tràn đầy sức sống của cuộc sống tại quê nhà. Đặc biệt, nhà thơ đã kết hợp giữa vị giác và tình cảm gia đình khi viết: "Có lời mẹ ru, ngọt ngào cay đắng" và "mặn mồ hôi cha". Cụm từ "ngọt ngào cay đắng" đã làm nổi bật sự phong phú của tình cảm gia đình: bên cạnh sự ngọt ngào của tình mẫu tử, có cả nỗi vất vả, cơ cực của cuộc sống quê nghèo. Hình ảnh "mặn mồ hôi cha" lại càng làm tăng thêm sự chân thành, khắc họa sự tảo tần, gánh vác của người cha, người đã nuôi nấng và vun đắp cho quê hương.
Không chỉ dừng lại ở tình cảm gia đình, nhà thơ còn chuyển hóa hình ảnh cơm cháy thành nền tảng để khẳng định tình yêu nước: "Con yêu nước mình... từ những câu ca...". Những kỷ niệm bình dị về quê hương, những chi tiết nhỏ về cuộc sống hàng ngày đã nuôi dưỡng tình yêu đất nước sâu sắc trong tâm hồn mỗi người con. Đoạn thơ kết thúc bằng một nét đẹp thơ mộng, thanh bình: "Có ánh trăng vàng... chị múc bên sông...". Hình ảnh chị múc nước bên sông dưới ánh trăng vàng đã làm cân bằng lại sự vất vả trước đó, gợi lên một không gian yên bình, đẹp đẽ của quê hương, là nơi mỗi người con luôn muốn quay về.
Toàn bộ đoạn thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi, với giọng điệu tâm tình như lời tự sự, khiến người đọc cảm nhận được nỗi nhớ và tình yêu quê hương một cách chân thành nhất. Đặc biệt, việc lặp lại cụm từ "Cơm cháy quê nghèo..." đã tạo ra nhịp điệu trầm lắng, nhấn mạnh sự dai dẳng của ký ức, khiến nỗi nhớ quê hương càng trở nên sâu sắc và không thể quên. Đoạn thơ Mùi cơm cháy không chỉ là một tác phẩm thơ hay, mà còn là lời tự tình về công ơn quê hương, về tình cảm gia đình, gợi cho mỗi người con đất Việt trân trọng cội nguồn, nhớ ơn quê hương và đất nước.