K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:                                 TỰ MIỄN                         (Tự khuyên mình) Phiên âm:                Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,                Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;                Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,                Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương. Dịch nghĩa:        ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

                                TỰ MIỄN

                        (Tự khuyên mình)

Phiên âm:

               Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

               Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

               Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

               Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

Dịch nghĩa:

               Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,

               Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;

               Tai ương rèn luyện ta,

               Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.

Dịch thơ:

                     Ví không có cảnh đông tàn,

               Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

                     Nghĩ mình trong bước gian truân,

               Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

168
25 tháng 1 2025

1 PTBT Chính đc sử dụng trong bài thơ là biểu cảm kết hợp với tự sự

2 thất ngôn tứ tuyết

3 là tương phản

4. là cơ hội để rèn luyện,thử thách bản thân

5 Khó khăn,thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống và là cơ hội đề con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn

1 tháng 2

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

Câu 2:

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt đường luật

Câu 3:

- Biện pháp tu từ: phép đối

+ "Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh"

(Ví có cảnh đông tàn tiều tụy)

+ "Tương vô xuân noãn đích huy hoàng" (Thì đâu có cảnh xuân ấm áp huy hoàng)

- Phân tích:

+ Sự đối lập giữa "đông hàn" (mùa đông lạnh lẽo, tiêu điều) và "xuân noãn" (mùa xuân ấm áp, huy hoàng) tạo nên hình ảnh tương phản mạnh mẽ.

+ Hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: cảnh đông tàn (gian truân, tai ương) là tiền đề để có được mùa xuân huy hoàng (thành công, cuộc sống tươi đẹp).

Câu 4:

- Đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa:

+ Đối với nhân vật trữ tình (Hồ Chí Minh), tai ương có ý nghĩa tích cực là cơ hội để rèn luyện và tôi luyện bản lĩnh, tinh thần, ý chí thêm vững vàng, kiên cường.

+ Câu thơ "Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng" thể hiện rõ điều này. Thay vì bi quan, nản lòng, Bác Hồ coi những gian nan trong tù ngục là môi trường để tự thử thách, từ đó khiến tinh thần mình trở nên mạnh mẽ hơn. 

Câu 5:

- Bài học ý nghĩa nhất là về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Bài thơ dạy chúng ta rằng trong cuộc sống gian truân, thử thách là điều không thể tránh khỏi nhưng chính những khó khăn đó lại là chất xúc tác, là cơ hội để mỗi người tự rèn luyện, trưởng thành và vươn đến thành công, hạnh phúc. Chúng ta cần giữ vững niềm tin, ý chí và không ngừng nỗ lực vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống.





Đề thi đánh giá năng lực

13 tháng 4 2025

Câu 1

Bài thơ "Ca sợi chỉ" của Hồ Chí Minh mượn hình ảnh sợi chỉ để gửi gắm thông điệp sâu sắc về sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc. Ban đầu, sợi chỉ tượng trưng cho mỗi cá nhân yếu ớt, nhỏ bé, “ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời”. Nhưng khi các sợi chỉ “họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều”, chúng dệt nên tấm vải “bền hơn lụa, lại điều hơn da” đó là hình ảnh ẩn dụ cho một tập thể vững chắc khi biết gắn bó, đoàn kết. Hồ Chí Minh sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, để làm nổi bật sự chuyển hóa từ yếu ớt đến mạnh mẽ của sợi chỉ, đồng thời nhấn mạnh vai trò của đoàn kết trong công cuộc kháng chiến. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng đầy sức gợi, kết thúc bằng lời kêu gọi chân thành “Việt Minh hội ấy mau mau phải vào” như một lời nhắn gửi thiết tha tới toàn dân. Qua đó, bài thơ không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn là bài học sâu sắc về tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng


Câu 2

Trong cuộc sống, không ai có thể sống và phát triển một mình. Mỗi người đều là một phần của tập thể, cộng đồng. Vì thế, đoàn kết , gắn bó, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau luôn là yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh. Ông cha ta đã từng dạy “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" Câu nói giản dị ấy đã khẳng định vai trò to lớn của sự đoàn kết trong cuộc sống con người

Trước hết, đoàn kết giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Khi mỗi người biết cùng nhau chia sẻ, hỗ trợ, mọi công việc dù khó khăn đến đâu cũng sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Một cá nhân có thể yếu ớt, nhưng khi nhiều người cùng đồng lòng, họ sẽ tạo nên một sức mạnh vững chắc. Cũng như những sợi chỉ nhỏ bé, khi kết lại với nhau sẽ dệt nên tấm vải bền đẹp, con người khi gắn bó sẽ tạo nên một tập thể mạnh mẽ

Trong lịch sử dân tộc, tinh thần đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu giúp nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù. Từ thời Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, toàn dân đã cùng nhau đứng lên bảo vệ đất nước. Sự gắn bó, đồng lòng của nhân dân từ miền xuôi đến miền ngược, từ già đến trẻ đã tạo nên sức mạnh vô địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta"

Không chỉ trong chiến tranh, đoàn kết còn rất quan trọng trong học tập và làm việc. Một lớp học chỉ có thể tiến bộ khi các bạn biết giúp đỡ nhau cùng học tốt. Một nhóm làm việc chỉ hiệu quả khi các thành viên biết lắng nghe, phối hợp. Gia đình cũng chỉ hạnh phúc khi mọi người biết yêu thương, nhường nhịn. Như vậy, đoàn kết chính là chìa khóa để xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và xã hội văn minh

Ngược lại, nếu thiếu đoàn kết, con người dễ rơi vào mâu thuẫn, tranh cãi, thậm chí chia rẽ. Một tập thể không có sự gắn bó sẽ yếu ớt, dễ tan rã. Lợi ích chung bị ảnh hưởng, mục tiêu lớn không thể thực hiện được. Vì vậy, mỗi người cần học cách tôn trọng, lắng nghe và đặt lợi ích tập thể lên trên cá nhân để xây dựng sự đoàn kết vững chắc

Tóm lại, đoàn kết là sức mạnh to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, tạo nên những thành tựu lớn lao. để lớp học, trường học phát triển, mỗi học sinh cần đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết chính là góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh và tốt đẹp hơn


14 tháng 4 2025

Câu1:

Bài thơ "Ca sợi chỉ" của tác giả Hồ Chí Minh là một tác phẩm mang nhiều bài học sâu sắc, thể hiện tư tưởng nhân đạo và tinh thần cách mạng của Bác Hồ. Sợi chỉ là một vật nhỏ bé, quen thuộc, giản dị và thiết thực trong đời sống, tác giả Hồ Chí Minh đã gửi gắm những bài học về tinh thần đoàn kết, gắn bó và trách nhiệm trong công việc chung của tập thể. Những câu thơ “ Càng dài lại càng mỏng manh,

             Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!

               Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

      Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                 Dệt nên tấm vải mỹ miều,

        Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da"

Qua lối miêu tả chiều dài và cách nhìn nhận sợi chỉ từ góc nhìn của người ngoài, tác giả đã lấy hình ảnh sợi chỉ để gợi ra hình ảnh con người, phần nào làm rõ khả năng của một cá nhân khi ở riêng lẻ và khi ở trong tập thể. Nhấn mạnh sức mạnh chung, đồng thời là trách nhiệm của một cá nhân với tập thể. Bài thơ sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc, gần gũi, đồng thời là ngôn ngữ mộc mạc giàu sức miêu tả, khiến thông điệp truyền tải trở nên sâu sắc nhưng dễ cảm nhận. 2 câu thơ cuối           

              "Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

    Việt Minh hội ấy mau mau phải vào."

Là 1 lời kêu gọi xuyên thời gian, kêu gọi nhân dân trong quá khứ và khơi gợi mãnh liệt tình yêu nước của những người trẻ hiện tại của chủ tịch Hồ Chí Minh. "Ca sợi chỉ" không chỉ là một bài thơ giàu nghệ thuật mà còn là lời nhắn gửi về tinh thần trách nhiệm, đoàn kết và ý nghĩa của sự cống hiến trong cuộc sống.

Câu 2:

Đoàn kết là một trong những phẩm chất quan trọng nhất để xây dựng nên một tập thể vững mạnh và xã hội phát triển. Từ ngàn đời nay, ông cha ta đã khẳng định: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, nhấn mạnh vai trò to lớn của tinh thần đoàn kết trong đời sống con người. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, sự gắn bó, đồng lòng giữa các cá nhân cũng luôn là nền tảng tạo nên thành công.

Đoàn kết không chỉ đơn thuần là việc cùng làm một việc gì đó, mà còn là sự thấu hiểu, cảm thông, sẵn sàng chia sẻ và cùng hướng tới một mục tiêu chung. Khi mọi người biết gạt bỏ lợi ích cá nhân, biết hỗ trợ và nâng đỡ lẫn nhau, thì sức mạnh được tạo ra sẽ lớn hơn rất nhiều so với nỗ lực riêng lẻ. Một tập thể thống nhất sẽ có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách mà nếu đi một mình, ta khó có thể vượt qua. Câu chuyện bó đũa vẫn luôn là minh chứng rõ ràng nhất: một chiếc đũa dễ bị bẻ gãy, nhưng cả bó đũa thì lại rất cứng cáp.

Trong lịch sử dân tộc, tinh thần đoàn kết đã làm nên những chiến thắng vẻ vang. Nhờ sự đồng lòng của toàn dân mà chúng ta đã vượt qua những thời kỳ gian khổ, chiến thắng thực dân, đế quốc, giành lại độc lập tự do. Không có sự đoàn kết, sẽ không có một Việt Nam vững mạnh và kiên cường như hôm nay. Trong thời kỳ hiện đại, khi đại dịch COVID-19 lan rộng, tinh thần đoàn kết của người dân cả nước – từ bác sĩ, chiến sĩ, đến những người dân thường đã góp phần kiểm soát dịch bệnh và lan tỏa tình người giữa cuộc sống đầy biến động.

Không chỉ trên bình diện quốc gia, đoàn kết còn cần thiết trong từng môi trường nhỏ hơn như trường lớp, cơ quan, hay chính gia đình. Một lớp học có tinh thần gắn bó, biết hỗ trợ nhau trong học tập sẽ tạo nên môi trường tích cực, thân thiện. Một gia đình đoàn kết là nền tảng để nuôi dưỡng yêu thương, giáo dục con người. Một tập thể làm việc biết cùng hướng về mục tiêu chung sẽ luôn phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn.

Tuy nhiên, xây dựng sự đoàn kết không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi mỗi người phải biết tôn trọng người khác, biết lắng nghe, chia sẻ và hy sinh cái tôi cá nhân vì lợi ích chung. Sự đoàn kết thực sự đến từ sự chân thành, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng cao.

      Đoàn kết là một sức mạnh to lớn, là chiếc cầu nối giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể. Trong thời đại ngày nay, khi thế giới ngày càng phức tạp và cạnh tranh gay gắt, tinh thần đoàn kết lại càng trở nên cần thiết. Là một người trẻ, chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của đoàn kết, và góp phần xây dựng một xã hội yêu thương, gắn bó và vững mạnh hơn

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:                                CA SỢI CHỈ                        Mẹ tôi là một đoá hoa,                Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.                        Xưa tôi yếu ớt vô cùng,                Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.                        Khi tôi đã thành chỉ rồi,              ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

                               CA SỢI CHỈ

                       Mẹ tôi là một đoá hoa,

               Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.

                       Xưa tôi yếu ớt vô cùng,

               Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.

                       Khi tôi đã thành chỉ rồi,

               Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,

                       Mạnh gì sợi chỉ con con,

               Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!

                       Càng dài lại càng mỏng manh,

               Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!

                       Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

               Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                       Dệt nên tấm vải mỹ miều,

               Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

                       Đố ai bứt xé cho ra,

               Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

                       Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,

               Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.

                       Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

               Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

                       Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

               Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                       Dệt nên tấm vải mỹ miều,

               Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

                       Đố ai bứt xé cho ra,

               Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

311
24 tháng 2 2025

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.

Câu 2:

Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.

Câu 3:

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là nhân hóa, sợi chỉ cũng có ý thức, có bạn bè: 

Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Thể hiện rằng khi hợp lại, những sợi chỉ có thể có sức mạnh phi thường.

=> Tình đoàn kết.

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh: 

Dệt nên tấm vải mỹ miều,

Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.

Câu 4:

- Đặc tính của sợi chỉ: Mỏng manh nhưng dẻo dai, có thể hợp lại với các sợi chỉ khác để tạo nên cái đẹp và sự bền vững.

- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết.

Câu 5:

- Bài học: Sức mạnh của tình đoàn kết tạo ra những thắng lợi vẻ vang.

- Ý nghĩa: Phải biết yêu đồng bào, yêu dân tộc, biết nhường nhịn và cùng nỗ lực để đạt đến thành công.

24 tháng 2 2025

Câu 2 bông hoa

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ cho thấy thái độ của người đi đường với người đàn bà bán ngô nướng. Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:  Người đi qua thờ ơ Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ cho thấy thái độ của người đi đường với người đàn bà bán ngô nướng.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ: 

Người đi qua thờ ơ
Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống
Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm
Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con

Câu 4. Trình bày mạch cảm xúc của bài thơ. 

Câu 5. Nêu một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc bài thơ và lí giải. 

Bài đọc:

         Những người đàn bà bán ngô nướng

Những người đàn bà bán ngô nướng
Bày số phận mình bên đường
Những nhem nhuốc bên ngoài che dấu
Bao ngọt lành, nóng hổi bên trong

Người đi qua thờ ơ
Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống
Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm
Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con

Tôi ngồi xuống hai bàn tay ấp ủ
Một tuổi thơ lam lũ ruộng bùn
Cắn vào kí ức
Từng hạt ngô rơi
         Những kỉ niệm lon ton
Những hạt ngô - những giọt lệ của mẹ
Những mắt tròn xoe đói khát em thơ
Không dám cắn nữa
            áp bắp ngô lên má
Hình như là nồng ráp ổ rơm?
Hình như là bờ vai cha mằn mặn
Che gió mùa, ấp ủ… nửa đêm…
Người bán Ngô thổi hồng bếp lửa
Xoay những mảnh đời dù cháy vẫn còn thơm!

         (Nguyễn Đức Hạnh, trích Khoảng lặng, NXB Đại học Thái Nguyên, 2016, tr.107-108)

5

Câu 1: thể thơ tự do

Câu 2: thái độ người đi đường thờ ơ

Câu 3: biện pháp tu từ: nhân hóa

4 tháng 2


Câu 1. Thể thơ của văn bản

→ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2. Những từ ngữ thể hiện thái độ của người đi đường

Các từ ngữ:

  • “thờ ơ”
  • “rẻ rúng cầm lên vứt xuống”

→ Thể hiện thái độ lạnh nhạt, vô cảm, coi thường của một bộ phận người qua đường đối với người đàn bà bán ngô nướng.

Câu 3. Biện pháp tu từ và tác dụng

Biện pháp:

  • Ẩn dụ: “Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” → “bán mảnh đời” ẩn dụ cho việc lao động nhọc nhằn, đánh đổi sức lực và tuổi xuân để mưu sinh.
  • Đối lập: giữa thái độ “thờ ơ, rẻ rúng” của người qua đường với sự hi sinh thầm lặng của người mẹ.

Tác dụng:

  • Làm nổi bật nỗi cơ cực của người phụ nữ nghèo.
  • Tố cáo sự vô cảm của xã hội.
  • Khơi gợi lòng thương cảm, trân trọng đối với những người lao động lam lũ.

Câu 4. Mạch cảm xúc của bài thơ

→ Mạch cảm xúc đi từ:

  • Sự quan sát hình ảnh những người đàn bà bán ngô nướng bên đường;
  • → Xót thương, day dứt trước cuộc mưu sinh nhọc nhằn và thái độ vô cảm của người đời;
  • → Cuối cùng là sự thấu hiểu, trân trọng và biết ơn đối với những hi sinh thầm lặng của người mẹ, người phụ nữ lao động.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Thông điệp em tâm đắc:

→ Cần biết yêu thương, trân trọng những người lao động nghèo, đừng sống vô cảm trước nỗi khổ của người khác. Bởi đằng sau những gánh hàng nhỏ bé là cả một cuộc đời hi sinh vì con cái và gia đình.

Lí giải:

Sự thờ ơ của con người có thể làm nỗi đau thêm nặng nề, còn một chút cảm thông sẽ sưởi ấm những phận đời cơ cực.


20 tháng 1 2025

Lớp 12 ☠

9 tháng 2

huhu

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội.  Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn.  Câu...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. 

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản và lí giải. 

Bài đọc:

Sống mòn

       Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.

       Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.

       Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...

       Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?

(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)

Chú thích: 

(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.

26
20 tháng 1 2025

Ưạ

4 tháng 2


Câu 1. Ngôi kể

→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội

  • “sống rụt rè hơn, sền so hơn, sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
  • “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê”
  • “chẳng có việc gì làm, sẽ ăn bám vợ”

→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.

Câu 3. Biện pháp tu từ

“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

  • Biện pháp: so sánh – ẩn dụ “phế nhân”.
  • Tác dụng: nhấn mạnh cảm giác vô dụng, tuyệt vọng của Thứ; thể hiện bi kịch người trí thức trước xã hội cũ.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ

  • Ở Sài Gòn: nhiều ước mơ, tin vào tương lai.
  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, thực dụng, cam chịu, chỉ lo cơm áo.

→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Văn bản gửi gắm thông điệp:

→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.

Lí giải:

Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.


19 tháng 2


Phần II. Viết




Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Phân tích nhân vật “tôi” trong đoạn trích


Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và yêu nghệ thuật. Cậu có thể nhìn thấy trong bức tranh hình ảnh con trăn nuốt con voi, trong khi người lớn chỉ thấy một chiếc mũ vô nghĩa. Điều đó cho thấy cậu có khả năng quan sát tinh tế và một tâm hồn sáng tạo phong phú. Tuy nhiên, trước sự thờ ơ và không thấu hiểu của người lớn, cậu dần cảm thấy thất vọng và từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Nhân vật “tôi” cũng là người giàu suy tư, bởi khi trưởng thành, cậu nhận ra rằng người lớn thường không tự hiểu được những điều giản dị mà trẻ em cảm nhận rất rõ. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự trân trọng thế giới nội tâm trẻ thơ và đồng thời bày tỏ nỗi tiếc nuối khi con người lớn lên đã đánh mất khả năng mơ mộng và sáng tạo ban đầu của mình.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Suy nghĩ về ý kiến: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.”


Giacomo Leopardi từng cho rằng: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói đã gợi ra sự đối lập sâu sắc giữa thế giới của trẻ em và thế giới của người lớn, đồng thời gửi gắm một triết lí nhân sinh đầy ý nghĩa.


Trẻ con có một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Với các em, một hòn sỏi có thể trở thành kho báu, một bức tranh nguệch ngoạc có thể là cả thế giới thần tiên, một câu chuyện nhỏ cũng đủ làm nên niềm vui lớn. Các em nhìn cuộc sống bằng đôi mắt tò mò và háo hức, luôn khám phá mọi điều xung quanh bằng cảm xúc chân thành. Vì thế, “nơi chẳng có gì” đối với người lớn lại trở thành “tất cả” đối với trẻ em, bởi các em biết cảm nhận giá trị từ những điều rất giản dị.


Ngược lại, khi trưởng thành, con người dần bị cuốn vào guồng quay của công việc, danh lợi và những toan tính thực tế. Người lớn có trong tay rất nhiều thứ: tiền bạc, tri thức, địa vị, tiện nghi vật chất. Nhưng chính sự bận rộn và áp lực ấy khiến họ đánh mất khả năng rung cảm trước những điều nhỏ bé. Họ có thể đứng trước một bầu trời đầy sao mà không thấy đẹp, sống giữa tình yêu thương mà không nhận ra hạnh phúc. Bởi vậy, dù “có tất cả”, họ vẫn “chẳng tìm được gì” cho tâm hồn mình.


Ý kiến của Leopardi không nhằm phủ nhận vai trò của người lớn mà nhắc nhở con người hãy biết giữ lại một phần tâm hồn trẻ thơ trong quá trình trưởng thành. Con người cần học cách sống chậm lại, biết trân trọng những niềm vui giản dị như một buổi chiều yên bình, một lời hỏi thăm chân thành, hay một giấc mơ nhỏ bé của bản thân. Khi đó, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn, không chỉ là chuỗi ngày mưu sinh khô khan.


Từ góc nhìn của người trẻ, em nhận thấy rằng mình cần biết dung hòa giữa hai thế giới: vừa học tập, rèn luyện để trở thành người trưởng thành có trách nhiệm, vừa giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và lòng yêu cái đẹp. Không nên để áp lực học tập hay thành tích làm mất đi niềm vui sống và khả năng mơ ước. Chỉ khi giữ được “đứa trẻ” trong tâm hồn, con người mới có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn.


Như vậy, câu nói của Leopardi là lời nhắn nhủ sâu sắc: hãy học ở trẻ em cách nhìn cuộc sống bằng trái tim trong sáng và giàu cảm xúc. Khi biết tìm thấy “tất cả” trong những điều giản dị, con người sẽ không còn cảm thấy trống rỗng dù đang sống giữa thế giới đầy đủ và hiện đại.


Câu 1:

Nhân vật "tôi" trong đoạn trích mở đầu của tác phẩm Hoàng tử bé không chỉ đơn thuần là người kể chuyện, mà còn là hiện thân của một bi kịch về sự lạc lõng giữa thế giới người lớn khô khan. Ngay từ khi lên sáu, "tôi" đã bộc lộ một bản năng nghệ sĩ thuần khiết với trí tưởng tượng vượt xa những giới hạn vật lý thông thường. Hình ảnh con trăn nuốt chửng con thú dữ trong cuốn sách về rừng hoang đã khơi dậy trong cậu bé một khát khao tái hiện thế giới qua lăng kính cá nhân. Tuy nhiên, bức "kiệt tác số một" – vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi – lại trở thành một phép thử nghiệt ngã cho sự kết nối giữa hai thế giới: trẻ thơ và người lớn.Sự đối lập giữa cái nhìn của "tôi" và "người lớn" chính là điểm mấu chốt khắc họa tính cách nhân vật. Trong khi cậu bé nhìn thấy một cuộc đấu tranh sinh tồn mãnh liệt và đầy bí ẩn bên trong bụng con trăn, thì những người lớn chỉ thấy một "cái mũ" tầm thường và vô hại. Nỗi thất vọng của "tôi" không chỉ đến từ việc bị chê bai kỹ năng hội họa, mà sâu sắc hơn, đó là nỗi đau khi trí tưởng tượng bị từ chối. Phản ứng của người lớn – khuyên cậu nên gạt bỏ những bức vẽ "vô bổ" để tập trung vào địa lý, lịch sử, toán học – đại diện cho áp lực của xã hội thực dụng, nơi những giá trị tinh thần bị bóp nghẹt bởi những con số và sự hữu dụng bề nổi.Chính vì sự cô độc ấy, "tôi" đã phải chọn một ngã rẽ khác: trở thành phi công. Nghề nghiệp này cho phép nhân vật bay lượn trên bầu trời, giữ một khoảng cách nhất định với mặt đất đầy những quy tắc cứng nhắc. Thế nhưng, dù đã trưởng thành và tiếp xúc với rất nhiều "người lớn quan trọng", nhân vật "tôi" vẫn luôn mang theo bức vẽ số một như một "chiếc la bàn tâm hồn". Cậu dùng nó để tìm kiếm một người bạn thực sự, một người có khả năng nhìn thấu lớp vỏ "cái mũ" để thấy con voi bên trong. Nhân vật "tôi" vừa là một người lớn đã "bị thuần hóa" bởi cuộc đời, nhưng cũng vừa là một đứa trẻ vĩnh cửu, luôn khao khát sự thấu cảm và sự chân thực. Qua nhân vật này, Saint-Exupéry đã gửi gắm một thông điệp xót xa: sự trưởng thành đôi khi là một quá trình đánh mất đi đôi mắt của trái tim, và nhân vật "tôi" chính là người đang nỗ lực cứu vãn những mảnh vỡ cuối cùng của sự hồn nhiên đó.


Trong mênh mông của văn học thế giới, hiếm có tác phẩm nào thức tỉnh tâm hồn con người về sự hồn nhiên mạnh mẽ như Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry. Qua hình ảnh cậu bé với bức vẽ con trăn nuốt voi bị người lớn coi là cái mũ, ta sực nhớ đến nhận định đầy suy tư của Giacomo Leopardi: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". Câu nói như một tấm gương phản chiếu sự đối lập nghiệt ngã giữa hai thế giới quan: một bên là sự giàu có của trí tưởng tượng, một bên là sự nghèo nàn của tâm hồn thực dụng.

Trước hết, tại sao nói "trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì"? Với một đứa trẻ, thế giới không vận hành bằng những con số hay định nghĩa khô khan. "Chẳng có gì" ở đây có thể là một hòn đá cuội, một chiếc hộp rỗng, hay một đường kẻ nguệch ngoạc trên giấy. Nhưng qua lăng kính của trẻ thơ, hòn đá ấy là một hành tinh xa xôi, chiếc hộp là ngôi nhà của một con cừu bí ẩn, và đường kẻ ấy chính là con trăn đang tiêu hóa một con voi khổng lồ. Trẻ em sở hữu một năng lực kỳ diệu: năng lực sáng tạo ra ý nghĩa. Chúng không nhìn sự vật bằng hình dáng vật lý đơn thuần mà nhìn bằng trái tim và niềm tin thuần khiết. Với chúng, thế giới là một kho báu vô tận mà mỗi ngóc ngách đều ẩn chứa một câu chuyện.

Ngược lại, bi kịch nằm ở vế thứ hai: "người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". "Tất cả" ở đây chính là sự đủ đầy về kiến thức, vật chất, địa vị và những trải nghiệm thực tế. Người lớn biết rõ về địa lý, lịch sử, toán học; họ sở hữu những chiếc cà vạt sang trọng và bàn luận về chính trị, bài bạc. Thế nhưng, chính sự "biết tất cả" ấy lại vô tình trở thành bức tường ngăn cách họ với vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Khi tâm hồn đã bị "thuần hóa" bởi tư duy thực dụng, họ chỉ nhìn thấy những gì có ích, có giá trị sử dụng. Họ nhìn bức vẽ của nhân vật "tôi" và chỉ thấy một cái mũ vì họ đã mất đi khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc. Họ có tất cả các phương tiện để hiểu thế giới, nhưng lại thiếu đi cái "chìa khóa" quan trọng nhất: sự rung động và trí tưởng tượng.

Sự đối lập này dẫn đến một hệ lụy xót xa mà chúng ta thấy trong đoạn trích: nhân vật "tôi" đã phải từ bỏ ước mơ họa sĩ để học lái máy bay. Xã hội người lớn tôn vinh những môn học "văn hóa" nhưng lại xem nhẹ những giấc mơ "viển vông". Họ nhân danh sự trưởng thành để ép buộc trẻ em phải nhìn thế giới theo cách của họ – một cách nhìn phẳng lặng, thiếu màu sắc và đầy tính toán. Khi người lớn khuyên cậu bé hãy "để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán", họ đã vô tình dập tắt một mầm mống nghệ thuật thiên tài, biến một tâm hồn bay bổng thành một bánh răng trong bộ máy xã hội.

Tuy nhiên, bài học từ câu nói của Leopardi không phải để chúng ta phủ nhận sự trưởng thành, mà là để nhắc nhở chúng ta về sự cân bằng. Chúng ta cần kiến thức để sinh tồn, nhưng chúng ta cần trí tưởng tượng để "sống" đúng nghĩa. Một người lớn thực sự sáng suốt là người dù có đi khắp thế gian, am tường mọi lẽ, vẫn giữ được trong lòng một "đứa trẻ" biết ngạc nhiên trước một bông hoa hay biết đau lòng trước một bức vẽ bị hiểu lầm. Như nhân vật "tôi", dù đã trở thành phi công, vẫn luôn giữ bức vẽ số một bên mình như một lời nhắc nhở về bản ngã chân thật.

Tóm lại, thế giới không thay đổi, chỉ có cách chúng ta nhìn thế giới là thay đổi. Đừng để sự giàu có về vật chất và kiến thức tỉ lệ nghịch với sự nghèo nàn của tâm hồn. Hãy học cách "tìm thấy tất cả" từ những điều giản đơn nhất, để cuộc đời không chỉ là một chuỗi những phép tính khô khan, mà là một cuộc phiêu lưu đầy màu sắc của trái tim. Bởi sau cùng, như lời của chính Hoàng tử bé: "Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Những gì cốt yếu thì mắt thường không nhìn thấy được".



(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:        Hồi lên sáu, tôi có nhìn thấy một lần, một bức tranh tuyệt đẹp, trong một cuốn sách về Rừng Hoang nhan đề: "Những câu chuyện có sống qua". Bức tranh vẽ hình một con trăn đang nuốt một con thú dữ. Đây là bản sao của bức vẽ.       Trong sách, người ta nói: "Loài trăn nuốt chửng cả con mồi, không nhai. Sau chúng chẳng nhúc nhích gì...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

      Hồi lên sáu, tôi có nhìn thấy một lần, một bức tranh tuyệt đẹp, trong một cuốn sách về Rừng Hoang nhan đề: "Những câu chuyện có sống qua". Bức tranh vẽ hình một con trăn đang nuốt một con thú dữ. Đây là bản sao của bức vẽ.

Hình minh họa trong Hoàng tử bé


      Trong sách, người ta nói: "Loài trăn nuốt chửng cả con mồi, không nhai. Sau chúng chẳng nhúc nhích gì được nữa và ngủ sáu tháng liền để tiêu hóa con mồi.".

      Từ đó, tôi hay nghĩ đến các chuyện xảy ra trong rừng rậm, và đến lượt tôi, với một cây bút chì màu, tối vẽ được hình vẽ đầu tiên của tôi. Hình vẽ số một của tôi. Nó như thế này:

Hình minh họa trong Hoàng tử bé

      Tôi đưa cho các người lớn xem kiệt tác của tôi và hỏi họ bức vẽ của tôi có làm cho họ sợ không.

      Họ trả lời: "Sao một cái mũ lại làm cho sợ được?".

      Bức tranh của tôi đâu có vẽ một chiếc mũ. Nó vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi. Thế là tôi vẽ lại bên trong bụng trăn, để cho các người lớn có thể hiểu được. Đối với người lớn, bao giờ cũng phải giảng. Bức vẽ số hai của tôi thế này:

Hình ảnh minh họa trong Hoàng tử bé

      Các người lớn khuyên tôi hãy để qua một bên các bức vẽ trăn nhìn bên ngoài hay bổ đôi kia đi, và hãy để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp. Như vậy đó mà vào tuổi lên sáu, tôi đã bỏ một cuộc đời họa sĩ tuyệt diệu.

      Tôi thất vọng vì bức vẽ số một và bức vẽ số hai của tôi không thành công. Các người lớn không bao giờ tự mình hiểu được điều gì, và trẻ con lúc nào, lúc nào cũng phải giảng giải cho các ông, đến nhọc!

      Thế là tôi phải chọn một nghề khác, và tôi học lái máy bay. Trên thế giới, đâu tôi cũng từng có bay một tí. Và môn địa lí, đúng thế, có giúp cho tôi nhiều, chỉ nhìn qua, tôi biết nhận ra đây là Trung Quốc chứ không phải vùng Arizona. Cái đó cần lắm, nếu ban đêm ta bị lạc.

      Như vậy đấy, trong cuộc đời tôi, tôi có hàng đống những cuộc gặp gỡ với khối người quan trọng. Tôi đã sống nhiều ở nhà những người lớn. Tôi đã nhìn thấy họ rất gần. Việc này vẫn chẳng làm tôi đánh giá họ khá hơn bao nhiều.

      Khi gặp một người lớn có vẻ hơi sáng suốt một chút, tôi liền đem bức vẽ số một mà tôi vẫn giữ, để thử ông ta, ông ta trả lời hoài: "Đây là một cái mũ.". Thế là tôi chẳng thèm nói với ông ta về rắn trăn, rừng hoang hay trăng sao gì nữa. Tôi tự hạ ngang tầm ông ta. Tôi nói với ông ta về bài bạc, về đấu bóng, về chính trị và về cà vạt. Thế là người lớn rất lấy làm bằng lòng được gặp một người biết điều như tôi.

(Trích tiểu thuyết Hoàng tử bé, Saint Exupéry)

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.

Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì? 

Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ thật nhiều?

Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy? 

Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân? 

85
21 tháng 1 2025

Câu 1. Ngôi kể trong văn bản trên: Ngôi thứ nhất. Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là: Bức vẽ số một – hình vẽ một con trăn đang nuốt chửng và tiêu hóa một con voi (bên ngoài trông giống một cái mũ). Câu 3. Người lớn bảo cậu bé hãy chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích vẽ vì: Người lớn thường thực dụng, chỉ coi trọng những kiến thức "hữu ích" trong học tập và công việc. Họ không có khả năng nhìn nhận sáng tạo, tưởng tượng, và không hiểu được ý nghĩa sâu xa trong bức vẽ của cậu bé. Câu 4. Người lớn được miêu tả: Thực tế, thực dụng, thiếu sáng tạo và không hiểu được tâm hồn của trẻ con. Họ thường đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài và áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ em. Nhận xét: Những người lớn trong văn bản đại diện cho cách tư duy khô khan, hạn chế trí tưởng tượng và sự sáng tạo, khiến trẻ con dễ cảm thấy thất vọng hoặc bị ép buộc theo những lối mòn. Câu 5. Bài học rút ra: Hãy giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của bản thân, không để ý kiến của người khác làm mất đi niềm đam mê. Trẻ em cần được khuyến khích và tôn trọng những ý tưởng của mình, thay vì áp đặt hay phủ nhận. Quan trọng hơn, chúng ta cần học cách nhìn sâu vào vấn đề, không chỉ đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài.

19 tháng 2


Phần I. Đọc hiểu



(Văn bản trích từ tiểu thuyết Hoàng tử bé của Saint-Exupéry)



Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.



Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.





Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?



Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ con trăn đang nuốt (và tiêu hóa) một con voi – hình vẽ số một và hình vẽ số hai (vẽ rõ phần bên trong bụng trăn).





Câu 3. Vì sao người lớn lại bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ nhiều?



Vì:


  • Người lớn nhìn bức tranh chỉ thấy đó là “một cái mũ”, không hiểu được trí tưởng tượng và ý nghĩa thực sự của bức vẽ.
  • Họ đề cao những môn học thực dụng như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp hơn là hội họa và sáng tạo.
  • Điều này cho thấy người lớn thiếu sự đồng cảm với thế giới tâm hồn trẻ thơ và không trân trọng năng khiếu nghệ thuật của cậu bé.






Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Nhận xét về các nhân vật ấy.



Những người lớn được miêu tả là:


  • Khô khan, thực dụng, thiếu trí tưởng tượng.
  • Không hiểu được suy nghĩ và thế giới nội tâm của trẻ em.
  • Chỉ quan tâm đến những vấn đề “người lớn” như bài bạc, chính trị, cà vạt…



Nhận xét:

Họ đại diện cho một kiểu người trưởng thành đã đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống một cách hồn nhiên. Đây là lời phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của tác giả đối với tư duy máy móc của người lớn.





Câu 5. Qua văn bản, em rút ra những bài học gì cho bản thân?



Qua văn bản, em rút ra bài học:


  • Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của bản thân và của người khác.
  • Không nên nhìn mọi việc chỉ bằng con mắt khô cứng, thực dụng.
  • Phải học cách lắng nghe, thấu hiểu suy nghĩ của trẻ em cũng như của những người xung quanh.
  • Giữ gìn tâm hồn trong sáng, hồn nhiên dù đã trưởng thành.