K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau: Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)      Kim Trọng tìm Kiều      Nỗi nàng tai nạn đã đầy, Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.      Từ ngày muôn dặm phù tang, Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.      Vội sang vườn Thuý dò la, Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.    ...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

     Kim Trọng tìm Kiều

     Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

     Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

     Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

     Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

     Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

     Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

     Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

     Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

     Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

     Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

     Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

     Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

     Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

     Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

     Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

     Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

     Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

     Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

     Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

     Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

     Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

     Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

     Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

     Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

     Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

     Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

     Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

     Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

     Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

     Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

     Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

     “Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

     Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

     Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

     Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

     Sinh càng trông thấy, càng thương,

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

     Rằng: “Tôi trót quá chân ra,

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.

     Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Những điều vàng đá, phải điều nói không!

     Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

     Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

     Nỗi thương nói chẳng hết lời,

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.

     […]

     Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

     Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.

Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.

Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.

6
19 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì? Văn bản kể về sự việc Kim Trọng sau khi chịu tang chú ở Liêu Dương trở về, vội vã sang tìm Thúy Kiều thì thấy cảnh nhà xưa đã hoang tàn. Chàng tìm đến nơi ở mới của gia đình họ Vương, được nghe kể về bi kịch gia đình Kiều và việc nàng đã bán mình chuộc cha. Đoạn trích tập trung diễn tả nỗi đau đớn tột cùng của Kim Trọng và quyết tâm đi tìm nàng của chàng. Câu 2. Một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản: Cảnh vườn Thúy hoang vắng: “Cỏ mọc, lau thưa”, “vách mưa rã rời”, “gai gốc mọc đầy”, “rêu phong dấu giày”. Cảnh nhà mới của gia đình Kiều: “Nhà tranh, vách đất tả tơi”, “lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”, “sân đất cỏ dầm mưa”. Câu 3. Cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thúy Kiều: Ngỡ ngàng, hụt hẫng: Trước sự thay đổi quá lớn của cảnh vật vốn là nơi hẹn hò thơ mộng (“Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa”). Cô đơn, trống trải: Cảm giác quạnh quẽ khi đối diện với lầu không, cỏ dại, không thấy bóng dáng người thương (“Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?”). Ngao ngán, xót xa: Khi tận mắt thấy nơi ở mới rách nát của gia đình Kiều, chàng cảm thấy bàng hoàng và thương cảm sâu sắc cho hoàn cảnh sa sút của người yêu. Câu 4. Biện pháp nghệ thuật trong hai câu thơ: Biện pháp: Điệp cấu trúc (điệp từ “càng”) kết hợp với phép đối (Gan càng tức tối / ruột càng xót xa). Hiệu quả: Nhấn mạnh mức độ tăng dần, dồn dập của nỗi đau đớn, uất ức trong lòng Kim Trọng. Cụ thể hóa nỗi đau từ cảm xúc tinh thần sang sự đau đớn về thể xác (gan, ruột). Thể hiện sự đồng cảm, trân trọng và tình yêu sâu nặng mà chàng dành cho Kiều; cho thấy Kim Trọng là người trọng tình trọng nghĩa. Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều: Tình cảm của Kim Trọng là một tình yêu thủy chung, son sắt, vượt qua mọi định kiến và rào cản. Nỗi đau đớn đến cuồng nhiệt: Chàng không chỉ khóc mà còn “vật mình”, “ngất đi sống lại” khi nghe tin dữ. Điều này cho thấy Kiều chiếm vị trí độc tôn trong trái tim chàng. Sự trân trọng và khẳng định nghĩa vợ chồng: Mặc dù chưa chính thức cưới hỏi, chàng vẫn khẳng định: “Chưa chăn gối, cũng vợ chồng”. Chàng coi lời thề xưa là “vàng đá”, không hề thay lòng khi nàng gặp nạn. Quyết tâm tìm kiếm vô điều kiện: Câu thơ “Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!” và “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua” thể hiện ý chí mãnh liệt, sẵn sàng hy sinh cả sự nghiệp (treo ấn từ quan) để đi tìm người yêu, dù phải vào sinh ra tử.

21 tháng 12 2025

C1

nỗi đau đớn và sự tìm kiếm tuyệt vọng của Kim Trọng khi trở về nhà, phát hiện Thúy Kiều đã phải bán mình chuộc cha, và mọi thứ thay đổi, tình yêu đẹp đẽ thuở xưa giờ tan vỡ, thể hiện nỗi xót xa, day dứt của chàng trước bi kịch số phận của nàng.

C2

vườn tược hoang tàn, Cửa đóng then cài,ảnh hoa đào,biến đổi của đồ vật

C3

Bàng hoàng và ngỡ ngàng.Khi đến nơi, trước mắt chàng không còn là cảnh nhộn nhịp, ấm cúng mà là sự hoang tàn: "Đầy rẫy cỏ mọc, lối đi rêu phong", "cửa đóng then cài". Sự đối lập gay gắt giữa hình ảnh "hoa đào năm ngoái" vẫn nở và sự vắng bóng của người yêu "Trước sau nào thấy bóng người" khiến chàng rơi vào trạng thái hẫng hụt, sửng sốt.

C4

-bptt Điệp ngữ:"càng... càng" được lặp lại nhiều lần -t/d: hàm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt. nhấn mạnh nỗi đau đớn, xót xa và tình yêu thương, sự tức giận dâng trào không ngừng, mỗi lúc một mãnh liệt hơn.

C5

-Qua đoạn trích Kim Trọng trở lại tìm Kiều, tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều là một tình yêu thủy chung, sâu nặng, vượt lên trên mọi biến cố và định kiến. Chàng không chỉ yêu nhan sắc, tài năng mà còn trân trọng nhân cách và thấu hiểu cho nỗi đau của nàng.

- Sự đau đớn tột cùng khi mất người yêu của kim trọng còn được thể hiện rõ hơn ở câu thơ "sinh cảm trông thấy càng thương/gan càng tức tối ruột càng xót xa".Việc sử dụng các hình ảnh cơ thể như "gan", "ruột" cho thấy đây là nỗi đau hữu hình, giày vò trực tiếp vào thể xác và tâm hồn Kim Trọng.

...
Đọc tiếp
Phân tích cấu tạo ngữ pháp cho những câu sau  xác định kiểu câu của chúng: a) Chồng  ốm nặng làm cho gia đình  càngnghèo hơn. b) Thế  bằng lời kể đã cho tôi những chi tiếtbằng ghi chép đã cho tôi những cảm xúc chânthật. c) Hai nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng loạingười không bao giờ  thể chiến thắng đượcbệnh tật. d) Buổi sớm kia, khi trở dậy trong căn phòng nhà trọtôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe . e) Chúng ta phải cố gắng dân tộc hóa lời nói  câuvăn của chúng ta. a) Chính phủ tặng  mẹ ấy danh hiệu  mẹ Việt Nam anh hùng. b) Trong nhiều năm qua, người ta đã chứng kiến sựphát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền. c) Họ đang đấu tranh để đạt được sự bình đằng hoàntoàn giữa nam  nữ. d) Cuộc sống của họ cũng sang một hướng khác.  e)  gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện. f) Trong năm học tớicác em hãy cố gắngsiêng nănghọc tậpngoan ngoãnnghe thầyyêu bạn. g) Hàng năm, khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia cung cấp cho  hội vài chục cử nhân báo chí.
1
14 tháng 4

Câu 1. a) Chủ ngữ chồng bà, vị ngữ ốm nặng làm cho gia đình bà càng nghèo hơn, kiểu câu đơn, vì chỉ có một cụm chủ vị chính
b) Chủ ngữ cô, vị ngữ đã cho tôi những chi tiết bằng ghi chép, đã cho tôi những cảm xúc chân thật, kiểu câu ghép, vì có hai cụm chủ vị song song
c) Chủ ngữ hai nhà nghiên cứu, vị ngữ cũng thừa nhận rằng loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, trong đó có mệnh đề phụ loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, kiểu câu phức
d) Chủ ngữ tôi, vị ngữ thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe lá, phần khi trở dậy trong căn phòng nhà trọ là trạng ngữ, kiểu câu đơn mở rộng
e) Chủ ngữ chúng ta, vị ngữ phải cố gắng dân tộc hóa lời nói và câu văn của chúng ta, kiểu câu đơn

Câu 2. a) Chủ ngữ chính phủ, vị ngữ tặng bà mẹ ấy danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, kiểu câu đơn
b) Chủ ngữ người ta, vị ngữ đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền, trạng ngữ trong nhiều năm qua, kiểu câu đơn
c) Chủ ngữ họ, vị ngữ đang đấu tranh để đạt được sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ, kiểu câu đơn
d) Chủ ngữ cuộc sống của họ, vị ngữ cũng sang một hướng khác, kiểu câu đơn
e) Chủ ngữ nó, vị ngữ gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện, kiểu câu đơn
f) Chủ ngữ các em, vị ngữ hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn, trạng ngữ trong năm học tới, kiểu câu đơn
g) Chủ ngữ khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia, vị ngữ cung cấp cho xã hội vài chục cử nhân báo chí, trạng ngữ hàng năm, kiểu câu đơn

17 tháng 12 2025

Câu 1:

Trong truyện ngắn "Người bán mai vàng" của Nguyễn Quang Hà, nhân vật Mai hiện lên là biểu tượng của một thế hệ trẻ năng động, vừa giàu lòng nhân ái, vừa có khát vọng đổi mới cuộc đời. Trước hết, Mai là người con hiếu thảo và có trái tim bao dung. Thừa hưởng tâm hồn tinh tế từ người cha mù, anh không chỉ yêu hoa mai bằng sự si mê mãnh liệt mà còn mở rộng lòng mình để cưu mang Lan – một cô bé mồ côi – trong lúc khốn cùng nhất. Hành động đưa Lan về nuôi dưỡng và xây dựng tổ ấm hạnh phúc cùng cô cho thấy một nhân cách cao đẹp, luôn trân trọng giá trị của chữ "Tâm" mà cha mình đã truyền dạy. Tuy nhiên, điểm bứt phá ở Mai chính là ý chí và trách nhiệm với gia đình. Đứng trước sự khắc nghiệt của thiên tai và cái nghèo bủa vây, Mai không chọn cách sống cam chịu hay "ẩn dật" như trước. Anh trăn trở về việc "những người trồng hoa ở Huế sống bằng cách nào?" và quyết tâm đi học hỏi kinh nghiệm thực tế. Mai đại diện cho tư duy thực tế: anh nhận ra tình yêu nghệ thuật phải đi đôi với khả năng kinh tế để duy trì sự sống. Dù việc cưa bỏ một nửa vườn mai để lấy vốn là một quyết định đau đớn, nhưng nhờ sự năng nổ và nhạy bén của vợ chồng Mai, anh đã giúp gia đình bắt nhịp với cuộc sống mới. Qua nhân vật Mai, tác giả khẳng định rằng sự năng động và ý chí vươn lên, khi được đặt trên nền tảng của tình thân và lòng nhân hậu, sẽ tạo nên sức sống bền bỉ cho con người.

Câu 2:

Trong thời đại kỹ thuật số hiện nay, bên cạnh những giá trị tích cực, mạng xã hội cũng kéo theo những hệ lụy về mặt lối sống. Một trong những hiện tượng đáng lo ngại là lối sống khoe khoang, phô trương "ảo" những thứ không thuộc về mình của một bộ phận giới trẻ.

Thực chất, đây là lối sống mượn những giá trị vật chất hào nhoáng bên ngoài như đồ hiệu, xe sang, hay những chuyến du lịch xa xỉ của người khác để "đắp" lên bản thân mình trên không gian mạng. Thay vì nỗ lực để tự sở hữu, họ chọn cách "phù phép" bằng công cụ chỉnh sửa hình ảnh hoặc mượn danh nghĩa để tạo ra một vỏ bọc hoàn hảo, giàu sang.

Nguyên nhân của hiện trạng này bắt nguồn từ tâm lý hám danh lợi và sự thiếu tự tin vào giá trị thực của bản thân. Nhiều người trẻ chịu áp lực từ "hào quang" của người khác trên mạng xã hội, dẫn đến nỗi sợ bị tụt hậu. Họ lầm tưởng rằng sự ngưỡng mộ thông qua những cái "like", những lượt "comment" khen ngợi về sự giàu có sẽ nâng tầm giá trị con người mình , nhưng điều đó là hoàn toàn sai lệch .

Hậu quả của lối sống này rất khôn lường. Trước hết, nó biến con người trở thành nô lệ của sự giả dối. Khi sống trong một cái bóng quá lớn không phải là mình, người trẻ dễ rơi vào trạng thái bất an, luôn phải lo sợ bị bóc trần. Điều này không chỉ gây lãng phí thời gian vào những giá trị vô nghĩa mà còn làm xói mòn lòng tự trọng. Nguy hiểm hơn, nó tạo ra một thế hệ chỉ thích "sống mòn", lười lao động nhưng lại muốn hưởng thụ, gây ra cái nhìn lệch lạc về giá trị của sự thành công.

Như nhân vật Mai trong câu chuyện Người bán mai vàng, anh đã chọn cách đối mặt với cái nghèo bằng lao động thực tế và sự học hỏi chân chính. Đó mới là giá trị bền vững.

Để loại bỏ thói phô trương "ảo", mỗi bạn trẻ cần hiểu rằng: "Chiếc áo không làm nên thầy tu". Giá trị của một con người nằm ở tri thức, tâm hồn và những gì chúng ta thực sự làm ra bằng đôi tay và khối óc của mình.

Tóm lại, sự hào nhoáng mượn tạm chỉ là phù du. Thay vì mải mê xây dựng một lâu đài trên cát, giới trẻ hãy tập trung tu dưỡng và sống thật với chính mình. Bởi lẽ, niềm hạnh phúc đích thực chỉ đến khi ta được là chính ta, với tất cả những gì thực chất nhất.

20 tháng 12 2025

câu 1

Nhân vật Mai trong văn bản “Người bán mai vàng” là một người giàu cảm xúc, có tấm lòng nhân hậu và biết đồng cảm với người khác. Qua việc chứng kiến hoàn cảnh của ông già bán mai, Mai không chỉ quan sát mà còn suy nghĩ sâu sắc về số phận con người và giá trị của tình cảm gia đình. Mai cảm nhận được nỗi đau, sự hi sinh thầm lặng của ông lão khi phải bán đi chậu mai gắn bó với gia đình mình để lo chongười thân. Điều đó cho thấy Mai là người sống tình cảm, có trái tim nhạy cảm trước những cảnh đời khó khăn. Sự xúc động và trăn trở trong suy nghĩ của Mai thể hiện một tâm hồn giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tình thân và những giá trị giản dị của cuộc sống. Qua nhân vật Mai, tác giả gửi gắm thông điệp về lòng yêu thương, sự sẻ chia giữa con người với con người, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng hạnh phúc gia đình mình đang có.

câu 2

Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những lối sống tích cực, vẫn còn tồn tại một bộ phận giới trẻ có lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, cần được nhìn nhận và phê phán nghiêm túc.

Trước hết, lối sống khoe khoang, phô trương “ảo” thể hiện qua việc nhiều bạn trẻ thường xuyên đăng tải hình ảnh sang chảnh, hàng hiệu, xe xịn hay cuộc sống xa hoa trên mạng xã hội dù thực tế không phải như vậy. Họ mượn đồ, chỉnh sửa hình ảnh hoặc nói quá sự thật để tạo vỏ bọc hào nhoáng cho bản thân.Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ tâm lý muốn được chú ý, muốn được công nhận, chạy theo hình thức và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mạng xã hội. Ngoài ra, sự thiếu bản lĩnh, thiếu hiểu biết và định hướng đúng đắn cũng khiến nhiều bạn trẻ dễ sa vào lối sống ảo.

Hậu quả của lối sống này là rất nghiêm trọng. Nó khiến con người sống giả tạo, đánh mất giá trị thật của bản thân, dễ so sánh, ganh đua và nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực.Không chỉ vậy, việc chạy theo hào nhoáng bên ngoài còn làm giới trẻ sao nhãng học tập, lao động và các giá trị đạo đức tốt đẹp.

Để khắc phục, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ giá trị thật của bản thân, sống trung thực, giản dị và biết nỗ lực vươn lên bằng chính khả năng của mình. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục, định hướng lối sống đúng đắn, giúp giới trẻ hiểu rằng giá trị con người không nằm ở sự phô trương mà ở nhân cách và cống hiến.

Tóm lại, lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” của một bộ phận giới trẻ là hiện tượng tiêu cực cần được phê phán và điều chỉnh. Mỗi người trẻ cần biết sống trung thực, khiêm tốn, nỗ lực khẳng định bản thân bằng giá trị thật. Chỉ khi sống đúng với chính mình, con người mới có được sự tôn trọng và hạnh phúc lâu dài.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)   Đọc văn bản sau:   Người bán mai vàng        Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá:...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

 

Đọc văn bản sau:

 

Người bán mai vàng

 

     Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá: “cho cây tụ nhựa”. Những ngày giá lạnh nhất, mặc chiếc áo dạ sờn, mái tóc bạc ghé tai vào gốc mai, ông nghe rõ cả dòng nhựa đang chảy âm thầm trong gốc mai cổ. Đôi bàn tay nhăn nheo, khô khẳng lần sờ từng mắt mầm, xem mầm đã nứt nanh đến đâu.

 

     Những chùm nụ xanh lớn dần nôn nao hay chính lòng ông nôn nao. Tay ông mân mê, vuốt ve từng núm nụ không biết chán, cái láng lẩy của da nụ làm những ngón tay mê mẩn. Như không biết gió lạnh, suốt ngày ông quanh quẩn với từng gốc mai. Núm nụ đầu tiên, mới nhú màu cánh vàng hé nở, ông biết liền. Ngón tay ông đặt đúng vào cái nụ ấy. Ông nhận ra bằng hương thơm của hoa mai dẫn đường hay bằng linh cảm ông cũng không biết, chỉ biết rằng, ông đã đến đúng nụ hoa cần đến. Rồi mừng rỡ gọi con:

 

     – Ra mà xem, Mai ơi, hoa sắp nở rồi!

 

     Người con trai dù đang ăn, đang uống cũng bỏ, chạy nhào ra với cha. Lập tức anh cũng bị cái màu vàng óng ả vừa nứt hé ra kia hút hồn. Cả hai cha con không biết ai mê mải hơn ai. Cái tên Mai ông đặt cho con bắt đầu từ nỗi si mê ấy. […]

 

     Mùa xuân năm ấy hai cha con chặt mai đem bán bên vỉa hè trước cổng Thương Bạc. Hai cha con ngủ lại giữ mai. Đêm hai mươi tám tết cuối năm đó, Mai gặp cô bé dắt mẹ đi ăn xin, bà mẹ bị cảm lạnh chết. Cô khóc đứt hơi. Ôm xác mẹ lăn lộn dưới mái ni-lông che bên cột đèn vườn hoa. Tiếng cô khóc kéo Mai lại. Nhóm từ thiện đường phố chôn cất cho bà mẹ. Cám cảnh, Mai nói với cô bé:

 

     – Lan ơi – tên cô bé – đời ăn mày khổ lắm. Anh biết. Nhà anh rất nghèo, em có muốn về nhà ở với cha con anh không?

 

     Trong lúc khốn cùng, có một bàn tay dắt, còn gì hơn. Lan đứng bán mai cùng cha con Mai, đến gần giao thừa mới về nhà. Tết ấy, nhà Mai vui hơn. Mai gắng sức nuôi thêm một người. Chỉ một năm sau, Lan đã có thể góp sức cùng anh nuôi nổi mình. Ba năm sau Lan trở thành một thiếu nữ xinh tươi. Hoàn toàn khác cô gái Mai nhặt được ở Thương Bạc. Hai người yêu nhau từ lúc nào. Già Mai bằng lòng cho hai người thành vợ thành chồng. Vườn mai vàng bên núi Ngũ Tây chứng giám cho đám cưới của họ. […]

 

     Tình thương yêu trong gia đình vượt lên được cái nghèo. Già Mai chiêm nghiệm cả tối, nói được một câu với con dâu: “Đời không gì bằng chữ Tâm, Lan ạ. Con nhớ điều ấy cho ba.”. Lan sinh con trai. Ông nội lấy chữ Tâm đặt tên cho cháu. Cu Tâm ra đời vào những năm gian lao. Năm đầu trời đại hạn. Nước mặn trên sông Hương tràn lên tận bến Tuần. Lúa cháy. Từ thành phố xuôi về Thuận An, toàn thấy xe đi bán nước ngọt. Con suối chảy quanh năm trước vườn mai cạn khô. Xuôi xa một cây số dòng suối mới bắt đầu có nước lại. Mai và Lan cùi cụi suốt ngày gánh nước tưới mới cứu được vườn mai. Tết ấy mai mất mùa. Năm sau trời lạnh buốt. Ba cha con già Mai cắt cỏ ủ gốc, qua Tết mai mới chúm nụ. Lại thêm một năm trời giật mất miếng cơm. Mai thương cha, thương vợ. Trong nỗi quẫn trí, anh bật nảy một điều trong óc: “Những người trồng hoa ở Huế, họ sống bằng cách nào?”.

 

     Ý nghĩ ấy kéo anh đi. Già Mai ở nhà trông cháu. Lan vào rừng kiếm củi, hái lá nón. Mai lần mò đến các gia đình trồng hoa. Lâu nay anh sống cam chịu, sống bó mình. Tự ti cũng có, buông thả cũng có. Anh bằng lòng sống đạm bạc ở một gia đình con con. Nhiều lúc không hơn người đi ở ẩn. Những vườn hoa của đồng nghiệp làm anh bừng tỉnh. Song tỏ tường rồi thì anh buồn.

 

     Anh mang theo nỗi niềm ấy về nhà. Lan lựa lời, lúc có cha chồng, Lan mới dám hỏi:

 

     – Răng anh buồn rứa?

 

     Hết bữa cơm chiều, Mai mới nói được với cha và vợ:

 

     – Mai vàng quý. Song chẳng ai sống được bằng vườn mai. Họ trồng cúc, trồng hồng, trồng tùng, trồng bách và cả trồng mai trong chậu nữa mới sống nổi bằng nghề hoa. Những người có vườn rộng họ trồng huệ, trồng lay ơn. Nghĩa là họ phải trồng tất cả những gì trồng được. Cách trồng, chúng ta đi học. Nhưng cái chúng ta thiếu là không có vốn. Không có vốn thì không thể nói mạnh được điều gì.

 

     Không khí gia đình chùng hẳn xuống. Nỗi bất lực đè nặng lên họ. […] Ông già Mai lặng thinh. Vừa cõng cháu trên lưng, vừa lang thang trong vườn mai. Ông đếm từng cây mai một. Bàn tay xương xẩu rờ rẫm, vuốt ve chúng, như bàn tay già rờ rẫm đứa con xa lâu ngày gặp lại. Gió lạnh và mưa bay. Ông già đã nhận ra mùi hoa mai nở. Ông ngồi tựa cột ngửa mặt lên nhìn trời hít ngửi mùi hoa ngây ngất. Ông như nghe rõ từng tiếng lách tách của mỗi cánh hoa xòe nở. Ông tự nói với mình: “Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu. Vườn mai này sẽ là của chúng.”. […]

 

     Ông nói:

 

     – Cha bằng lòng cho con cưa nửa vườn mai, cưa cả cây, những cơ quan giàu có họ chẳng thích mua kiểu mai cây của mình đó sao. Ba bằng lòng cho các con, để các con có vốn ban đầu.

 

     – Thật chứ ba? – Mai reo lên.

 

     – Miễn sao vợ chồng con có hạnh phúc. Ngần ấy cũng đủ làm niềm vui tuổi già của ba rồi.

 

     Đúng ngày cưa mai, ông già Mai dắt cháu lang thang khắp đồi núi Ngũ Tây. Ông kể cho cháu nghe, xưa kia, không phải đồi trọc như bây giờ, mà là những cánh rừng, mùa xuân về nở đầy hoa mai. Thằng bé nghe chẳng hiểu gì. Nó dắt ông hết mỏm đồi này sang mỏm đồi khác, còn ông già cứ kể. Đi thật xa và kể để ông khỏi nghe tiếng cưa đang cắt những cây mai có từng mảnh đời ông hóa thân trong đó. Sau đó là những đêm không ngủ. Ông lần ra vườn mai. Đặt bàn tay mình nơi nhát cây bị cắt. Nghe nhựa mai dính dính nơi bàn tay. Ông chết lặng đi và âm thầm khóc một mình. Ông những tưởng mình sẽ gục ngã cùng những cây mai bị cắt kia, song sức ông đã hồi sinh nhờ sự năng nổ của vợ chồng Mai, bắt được cái nhịp của cuộc sống mới bằng chính những cánh mai vàng.

 

(Nguyễn Quang Hà, Tạp chí Sông Hương, số ra tháng 2 năm 1995)

 

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

 

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên.

 

Câu 2. Tóm tắt văn bản trong khoảng 5 đến 7 câu.

 

Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai.

 

Câu 4. Em thích nhất chi tiết nào trong văn bản? Vì sao?

 

Câu 5. Yếu tố “tình cảm gia đình” có ảnh hưởng như thế nào đến nhân vật Mai?

 

26
14 tháng 12 2025

câu 1 ngôi kể thứ ba

17 tháng 12 2025

Câu 1. Ngôi kể của văn bản Văn bản được kể theo ngôi kể thứ ba. Tác dụng: Giúp người kể chuyện quan sát một cách khách quan, bao quát toàn bộ diễn biến câu chuyện và đi sâu vào diễn biến tâm lý của nhiều nhân vật khác nhau (ông già Mai, Mai, Lan).

Câu 2. Tóm tắt văn bản (khoảng 5 - 7 câu) Dưới chân núi Ngũ Tây có một gia đình hai cha con ông già mù sống bằng nghề chăm sóc vườn mai vàng cổ kính. Một mùa Tết nọ, anh Mai (con trai ông cụ) đã cưu mang và đưa cô bé mồ côi tên Lan về nuôi dưỡng, sau này hai người nên duyên vợ chồng. Cuộc sống trở nên khó khăn khi thời tiết khắc nghiệt khiến mai mất mùa, anh Mai nhận ra gia đình cần thay đổi cách làm kinh tế để thoát nghèo nhưng thiếu vốn. Thấu hiểu tâm tư của con, ông già mù đã nén nỗi đau thầm kín, đồng ý cho con cưa bỏ một nửa vườn mai quý để bán lấy vốn làm ăn. Dù vô cùng xót xa khi mất đi những "kỷ vật" gắn bó cả đời, ông già vẫn cảm thấy an lòng khi nhìn thấy sự năng nổ và tương lai tươi sáng của con cháu. Sự hy sinh của ông đã giúp gia đình tìm thấy nhịp sống mới trên mảnh đất quê hương.

Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai Nhân vật ông già Mai hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: Người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế: Tuy mù lòa nhưng ông có khả năng giao cảm đặc biệt với thiên nhiên. Ông nghe được tiếng nhựa chảy, cảm nhận được từng nụ hoa hé nở bằng linh cảm và tình yêu mãnh liệt dành cho cây mai. Người cha giàu lòng nhân hậu: Ông không chỉ đồng ý cho con trai cưu mang người lạ (Lan) mà còn luôn lấy chữ "Tâm" để giáo dục con cái. Sự hy sinh cao cả: Chi tiết ông đồng ý cưa nửa vườn mai – vốn là máu thịt, là linh hồn của ông – để cho con vốn làm ăn là minh chứng rõ nhất cho tình yêu thương vô bờ bến. Đó là sự hy sinh "cái tôi" và niềm đam mê cá nhân vì tương lai và hạnh phúc của con cháu

Câu 4. Chi tiết ấn tượng nhất Chi tiết: Hình ảnh ông già Mai dắt cháu đi lang thang trên đồi núi Ngũ Tây để tránh nghe tiếng cưa cắt vào những gốc mai. Vì sao: Đây là chi tiết đắt giá và gây xúc động nhất. Nó cho thấy sự giằng xé nội tâm đau đớn của ông già. Tiếng cưa ấy không chỉ cắt vào cây mà như đang cắt vào da thịt, vào những kỷ niệm đời ông. Hành động đi thật xa để "khỏi nghe" vừa cho thấy sự yếu lòng của một tâm hồn nhạy cảm, vừa cho thấy bản lĩnh của một người cha sẵn sàng chấp nhận đau thương để đánh đổi lấy sự ấm no cho gia đình.


Câu 5. Ảnh hưởng của yếu tố “tình cảm gia đình” đến nhân vật Mai Tình cảm gia đình là động lực then chốt chi phối mọi suy nghĩ và hành động của nhân vật Mai: Biết sẻ chia và yêu thương: Nhờ sự giáo dục của cha, Mai có tấm lòng nhân hậu, biết thương xót và cưu mang Lan trong lúc khốn cùng nhất. Ý chí vươn lên thoát nghèo: Chính tình thương dành cho cha già, vợ yếu và con nhỏ ("Mai thương cha, thương vợ") đã thôi thúc anh thoát khỏi sự tự ti, buông thả để đi tìm hướng đi mới cho vườn hoa. Sự kết nối thế hệ: Tình cảm gia đình giúp Mai hiểu được giá trị của chữ "Tâm", giúp anh có thêm sức mạnh để bắt nhịp với cuộc sống mới, biến sự hy sinh của cha thành thành quả lao động thực tế.

3 tháng 12 2024

a: Xét (O) có

AB,AC là các tiếp tuyến

Do đó: AB=AC

=>A nằm trên đường trung trực của BC(1)

Ta có: OB=OC

=>O nằm trên đường trung trực của BC(2)

Từ (1),(2) suy ra OA là đường trung trực của BC

=>OA\(\perp\)BC tại H và H là trung điểm của BC

Xét ΔOBA vuông tại B có BH là đường cao

nên \(OH\cdot OA=OB^2=R^2\)

b: ΔODE cân tại O

mà OI là đường trung tuyến

nên OI\(\perp\)DE tại I

Xét ΔFOA có

AI,OB là các đường cao

AI cắt OB tại G

Do đó: G là trực tâm của ΔFOA

=>FG\(\perp\)OA 

c: Gọi H là trung điểm của FA

ΔFIA vuông tại I

mà IH là đường trung tuyến

nên IH=HA=HF

=>H là tâm đường tròn ngoại tiếp ΔFIA

ΔOIG vuông tại I

mà IQ là đường trung tuyến

nên QI=QG

=>ΔQIG cân tại Q

\(\widehat{HIQ}=\widehat{HIG}+\widehat{QIG}=\widehat{HAI}+\widehat{QGI}\)

mà \(\widehat{QGI}=\widehat{BGA}\)(hai góc đối đỉnh)

nên \(\widehat{HIQ}=\widehat{BGA}+\widehat{BAG}=90^0\)

=>HI\(\perp\)IQ

=>IQ là tiếp tuyến của đường tròn ngoại tiếp ΔFIA

14 tháng 4

Ta có:

mA = 10,1 g, mX = 12,5 g
⇒ mO = 12,5 - 10,1 = 2,4 g
⇒ nO = 2,4 / 16 = 0,15 mol

Khí thu được là H₂:
nH₂ = 2,479 / 22,4 ≈ 0,11 mol

Gọi số mol Mg = x, Zn = y

Sau khi nung:
Mg → MgO, Zn → ZnO

⇒ nO = x + y = 0,15 (1)

Khi cho vào H₂SO₄:
MgO + H₂SO₄ → MgSO₄ + H₂O
ZnO + H₂SO₄ → ZnSO₄ + H₂O

Nếu còn kim loại dư thì:
Mg + H₂SO₄ → MgSO₄ + H₂
Zn + H₂SO₄ → ZnSO₄ + H₂

Vì có H₂ sinh ra ⇒ còn kim loại chưa bị oxi hóa

⇒ số mol kim loại dư = nH₂ = 0,11

Tổng mol kim loại ban đầu:
x + y = ?

Ta có khối lượng:
24x + 65y = 10,1 (2)

Và số mol kim loại bị oxi hóa:
= nO = 0,15

⇒ tổng mol kim loại ban đầu:
= 0,15 + 0,11 = 0,26 mol

⇒ x + y = 0,26 (3)

Từ (2) và (3):
24x + 65y = 10,1
x + y = 0,26

⇒ x = 0,26 - y

Thế vào:
24(0,26 - y) + 65y = 10,1
6,24 - 24y + 65y = 10,1
41y = 3,86
⇒ y ≈ 0,094 mol

⇒ x = 0,26 - 0,094 = 0,166 mol

a) nH₂SO₄ phản ứng:
Phản ứng với oxit: 0,15 mol
Phản ứng với kim loại: 0,11 mol

⇒ nH₂SO₄ = 0,15 + 0,11 = 0,26 mol

b) % khối lượng:
mMg = 24 × 0,166 ≈ 3,984 g
mZn = 65 × 0,094 ≈ 6,11 g

%Mg = 3,984 / 10,1 × 100 ≈ 39,5%
%Zn = 60,5%

Kết luận:
a) nH₂SO₄ = 0,26 mol
b) Mg ≈ 39,5%, Zn ≈ 60,5%

14 tháng 4

Câu 1. Một giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm ở địa phương là đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế, nhiều lao động hiện nay chưa có kĩ năng phù hợp nên khó tìm việc, vì vậy cần mở các lớp dạy nghề như may mặc, cơ khí, công nghệ, dịch vụ để người dân có tay nghề, bên cạnh đó địa phương cần thu hút doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất để tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, đồng thời khuyến khích người dân tự khởi nghiệp bằng các mô hình kinh tế nhỏ như kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt, ngoài ra cần cung cấp thông tin việc làm đầy đủ để người lao động dễ tiếp cận, giải pháp này vừa giúp giảm thất nghiệp vừa góp phần phát triển kinh tế địa phương

2 tháng 12 2024

.

2 tháng 12 2024

2\(x^2\) + 5\(x\) + 3 = 0

a - b + c = 2 - 5 + 3 = 0

Vậy pt có hai nghiệm phân biệt là:

\(x_1\) = -1; \(x_2\) = - \(\dfrac{c}{a}\) = \(\dfrac{-3}{2}\)

Vậy S= {- \(\dfrac{3}{2}\); -1}

2 tháng 12 2024

Ta có: \(2x^2+5x+3=0\)

=>\(2x^2+2x+3x+3=0\)

=>2x(x+1)+3(x+1)=0

=>(x+1)(2x+3)=0

=>\(\left[{}\begin{matrix}x+1=0\\2x+3=0\end{matrix}\right.\)

=>\(\left[{}\begin{matrix}x=-1\\2x=-3\end{matrix}\right.\)

=>\(\left[{}\begin{matrix}x=-1\\x=-\dfrac{3}{2}\end{matrix}\right.\)

2 tháng 12 2024

Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du là một phần đặc sắc và sâu sắc. Nhan đề mà bạn có thể đặt cho 6 câu thơ đầu có thể là:

"Tâm trạng Kiều ở lầu Ngưng Bích"

Nhan đề này phản ánh tình cảm cô đơn, buồn bã và nhớ nhà của Thúy Kiều khi bị giam cầm tại lầu Ngưng Bích.