K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Cột cờ Hà Nội - biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến Ảnh: Cột cờ Hà Nội      Cột cờ Hà Nội      Cột cờ Hà Nội được xây dựng xong từ năm 1812 vào thời Vua Gia Long triều Nguyễn trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long. Trải qua hơn 200 năm in dấu và “sống” cùng những thăng trầm của mảnh...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Cột cờ Hà Nội - biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến

Ngữ văn 10, Văn bản thông tin, olm 

Ảnh: Cột cờ Hà Nội

      Cột cờ Hà Nội

      Cột cờ Hà Nội được xây dựng xong từ năm 1812 vào thời Vua Gia Long triều Nguyễn trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long. Trải qua hơn 200 năm in dấu và “sống” cùng những thăng trầm của mảnh đất Thủ đô ngàn năm văn hiến, những phần hư hỏng của Cột cờ đã được trùng tu lại, nhưng vẫn giữ được hiện trạng ban đầu. Và Cột cờ Hà Nội hiện nay là công trình còn nguyên vẹn và hoành tráng nhất trong quần thể di tích Hoàng thành Thăng Long. 

      Cột cờ Hà Nội trước đây còn có tên gọi Kỳ đài Hà Nội. Thời nhà Nguyễn, Kỳ đài còn có chức năng là vọng canh, vì theo trục bắc-nam, kiến trúc này chỉ cách Đoan Môn khoảng 300m, cách điện Kính Thiên 500m và cách cửa Bắc chừng gần 1.000m. Từ trên đỉnh của kỳ đài có thể quan sát cả một vùng khá rộng trong và ngoài khu thành cổ.

      Nhìn tổng thể cột cờ gồm những khối lăng trụ xếp chồng nhau, cao thót dần từ dưới lên trên. Bố cục cân đối ấy đã tạo những đường nét thẳng, khoẻ khoắn, vững vàng. Đứng dưới chân cột cờ, dù cảm thấy đỉnh cao ngất, nhưng không hề có cảm giác nặng nề, mà trái lại, dáng vẻ của nó hài hoà, thanh thoát giữa các tam cấp, thân cột và vọng canh. Ở mỗi cấp, tường xây được trang trí bằng những hoa văn khác nhau, tuy đơn giản nhưng lại tạo ra những đường nét mềm mại và mang vẻ đẹp riêng cho từng cấp.

      Công trình kiến trúc cổ kính này được xây dựng bao gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Tầng một, mỗi chiều dài 42,5m; cao 3,1m có 2 cầu thang bằng gạch cổ dẫn lên. Tầng hai, mỗi chiều dài 27m; cao 3,7m có 4 cửa thông gió, cửa hướng Đông trên có đắp hai chữ “Nghênh Húc” (đón ánh sáng ban mai), cửa Tây với hai chữ “Hồi Quang” (ánh sáng phản chiếu), cửa Nam với hai chữ “Hướng Minh” (hướng về ánh sáng), cửa Bắc không đề chữ. Tầng ba, mỗi chiều dài 12,8m; cao 5,1m, có cửa lên cầu thang trông về hướng Bắc. Ở cửa hướng bắc được bố trí hai cầu thang lên sân thượng phía bên phải và trái, mỗi cầu thang gồm 14 bậc, có tay vịn bằng sắt. Sân thượng được bao quanh bằng lan can gỗ cùng với tường hoa trổ những hình lục giác có hình vuông ở giữa, được đan lồng với nhau trông tựa hình mạng nhện. 

      Trên tầng này là phần thân của cột cờ, cao 18,2m; hình trụ 8 cạnh, thon dần lên trên, mỗi cạnh đáy chừng 2m. Trong thân có 54 bậc cầu thang xây xoáy trôn ốc lên tới đỉnh. Toàn thể được soi sáng (và thông hơi) bằng 39 lỗ hình hoa thị và 6 lỗ hình dẻ quạt. Những lỗ này được đặt dọc các mặt, mỗi mặt có từ 4 đến 5 lỗ. Nhờ có các lỗ thông hơi chạy xung quanh thân cột nên ánh sáng tự nhiên và không khí lúc nào cũng được thông thoáng.

      Đỉnh Cột Cờ (Vọng canh) được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3m, có 8 cửa sổ tương ứng với tám mặt, có thể đủ cho 5-6 người đứng quan sát. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4m, cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (cán cờ cao 8m). Phần mái giống như hình nón đội, xương mái làm bằng bê tông cốt thép, lợp ngói và giữa đỉnh mái có cột sắt cùng với ròng rọc để treo cờ.

      Toàn bộ cột cờ cao 33,4m, nếu kể cả cán cờ là 41,4m. Điều đặc biệt của cột cờ là giữa những ngày Hà Nội nóng nhất, nhiệt độ bên trong cột cờ vẫn luôn mát mẻ như có máy lạnh. Hơn nữa, kết cấu các cửa lên xuống của cột cờ được xây dựng rất khoa học, mỗi khi trời mưa to, nước cũng không thể chảy vào trong lòng tháp.

      Biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến

      Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được treo lên Cột cờ Hà Nội. Chính vì vậy, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, hình ảnh Cột cờ Hà Nội đã được in trang trọng trên đồng tiền được phát hành đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

      Đến ngày 10-10-1954, Hà Nội tưng bừng rạo rực chào đón ngày hội lớn - ngày Thủ đô Hà Nội hoàn toàn được giải phóng. Cả Hà Nội dồn về cột cờ chờ đón giây phút lịch sử: Lễ thượng cờ Tổ quốc trên đỉnh “Cột cờ Hà Nội”. Đúng 15 giờ, khi còi Nhà hát Thành phố nổi lên, Đoàn quân nhạc cử Quốc ca, cờ Tổ quốc - lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên theo nhịp khúc quân hành. Lần đầu tiên sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cờ Tổ quốc lại tung bay hiên ngang trên bầu trời lộng gió của thủ đô Hà Nội. 

      Giờ đây, Cột cờ Hà Nội là một điểm du lịch không thể bỏ qua trong hành trình khám phá lịch sử đất Hà Thành. Theo thống kê của Ban Quản lý Khu di tích Cột cờ - Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, mỗi ngày có 1.000 - 2.000 du khách đến thăm quan cụm di tích (Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam và Cột cờ Hà Nội) này. Điểm di tích này mở cửa tất cả các ngày trong tuần, trừ thứ hai và thứ năm đóng cửa để bảo dưỡng. 

      Hơn 60 năm qua, gắn trên đỉnh Cột cờ Hà Nội là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay trên nền trời của Thủ đô, mãi mãi là biểu tượng vinh quang, là niềm tự hào của dân tộc, đất nước Việt Nam độc lập, tự do.

      Được khởi công xây dựng từ năm 1805 và hoàn thành vào năm 1812, cột cờ Hà Nội là một trong những công trình kiến trúc làm nên dáng vóc của Hà Nội thời bấy giờ. Đến nay, cột cờ Hà Nội không chỉ là một biểu tượng hùng thiêng của Thủ đô, mà còn là một điểm đến du lịch không thể bỏ qua của Hà Thành. Năm 1989, cột cờ Hà Nội được công nhận là di tích lịch sử và thu hút được nhiều du khách tới thăm quan khi đến với Hà Nội. 

Lan Khanh (tổng hợp) 

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nào?

Câu 2. Nhan đề của văn bản thể hiện sự đánh giá như thế nào về Cột cờ Hà Nội?

Câu 3. Các đề mục nhỏ và nội dung của văn bản đã triển khai vấn đề được đưa ra ở nhan đề như thế nào? 

Câu 4. Theo em, vì sao văn bản Cột cờ Hà Nội - biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến lại được coi là văn bản thông tin tổng hợp?

Câu 5. Phân tích tác dụng của các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản. 

7
21 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về di tích lịch sử:

Cột cờ Hà Nội.

Câu 2.

Nhan đề của văn bản đã khẳng định giá trị lớn lao của Cột cờ Hà Nội. Theo thời gian, Cột cờ Hà Nội đã trở thành biểu tượng tiêu biếu của Thủ đô.

Câu 3.

- Các đề mục nhỏ trong văn bản:

+ Phần 1: Cột cờ Hà Nội.

+ Phần 2: Biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến.

=> Các đề mục của văn bản đã triển khai rất cụ thế, rõ ràng hai nội dung chính của văn bản, đó là những thông tin cơ bản về Cột cờ Hà Nội (đặc điểm, cấu trúc,...) và ý nghĩa của Cột cờ Hà Nội trong đời sống của người dân Hà Nội.

Câu 4.

Văn bán

Cột cờ Hà Nội - biểu tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến

lại được coi là văn bản thông tin tống hợp vì:

  • Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về Cột cờ Hà Nội - một công trình kiến trúc tiêu biểu của Thủ đô.
  • Văn bản đã triển khai được các nội dung về đặc điểm, quá trình xây dựng và giá trị cúa Cột cờ Hà Nội.
  • Các thông tin đưa ra trong văn bản đều đảm bảo tính chân thực, chính xác, có số liệu, minh chứng rõ ràng,... được diễn đạt bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
  • Văn bản kết hợp sử dụng các phương thức biểu đạt khác nhau và kết hợp sử dụng giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.


26 tháng 12 2025

Câu 1 :



24 tháng 12 2025

câu 1 Nhân vật Thị Phương trong đoạn trích để lại ấn tượng sâu sắc bởi những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Trước hết, Thị Phương là người giàu lòng hiếu thảo và tình nghĩa. Trong hoàn cảnh chạy giặc hiểm nguy, nàng vẫn một lòng chăm sóc, bảo vệ mẹ chồng, dù phải chịu cảnh lưu lạc suốt mười tám năm. Đặc biệt, khi đối mặt với quỷ dữ và hổ dữ, Thị Phương không hề nghĩ đến sự sống chết của bản thân mà sẵn sàng hi sinh mạng sống để cứu mẹ chồng. Hành động tình nguyện dâng mạng mình cho hổ đã thể hiện lòng dũng cảm, đức hi sinh và tình thương vô điều kiện. Bên cạnh đó, Thị Phương còn là người nhân hậu, vị tha, biết xin tha cho người khác ngay cả khi bản thân đang gặp nguy hiểm. Qua nhân vật Thị Phương, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp đạo đức của người phụ nữ trong xã hội xưa, đồng thời gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc: sống có tình, có nghĩa thì cái thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác.

câu 2

Trong nhịp sống hiện đại đầy bận rộn, không ít bạn trẻ đang dần hình thành thói quen “bỏ quên” gia đình. Họ dành nhiều thời gian cho mạng xã hội, công việc, bạn bè hay thế giới ảo mà quên mất rằng gia đình mới chính là điểm tựa vững chắc nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đây là một thói quen đáng lo ngại và cần sớm được thay đổi. Trước hết, gia đình là nơi yêu thương vô điều kiện, nơi mỗi người được chở che, bao dung dù có vấp ngã hay thất bại. Cha mẹ luôn âm thầm hi sinh, lo lắng cho con cái từng bữa ăn, giấc ngủ mà không đòi hỏi sự đáp trả. Thế nhưng, nhiều bạn trẻ lại vô tâm, thờ ơ, thậm chí cáu gắt với chính những người thân yêu nhất của mình. Sự “bỏ quên” ấy không chỉ làm tổn thương cha mẹ mà còn khiến bản thân đánh mất những giá trị tinh thần quý giá. Bên cạnh đó, gia đình còn là nền tảng hình thành nhân cách con người. Tình yêu thương, sự dạy dỗ từ gia đình giúp mỗi người biết sống nhân ái, có trách nhiệm và biết trân trọng các mối quan hệ xung quanh. Khi xa rời gia đình, con người dễ rơi vào lối sống ích kỉ, lạnh nhạt, thiếu sự đồng cảm với người khác. Thực tế cho thấy, không ít bạn trẻ khi gặp biến cố trong cuộc sống mới nhận ra rằng, nơi duy nhất sẵn sàng dang tay đón họ trở về vẫn là gia đình. Để từ bỏ thói quen “bỏ quên” gia đình, mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực: dành thời gian trò chuyện với cha mẹ, quan tâm đến sức khỏe của người thân, cùng ăn một bữa cơm gia đình hay đơn giản là một lời hỏi han chân thành. Bên cạnh đó, cần biết cân bằng giữa công việc, học tập và đời sống gia đình, không để thế giới ảo chiếm trọn thời gian và cảm xúc của mình. Gia đình không phải là nơi chỉ để trở về khi mệt mỏi, mà là nơi cần được gìn giữ và yêu thương mỗi ngày. Khi biết trân trọng gia đình, con người sẽ sống nhân văn hơn, hạnh phúc hơn và có thêm động lực để vững bước trên đường đời. Vì vậy, mỗi bạn trẻ hãy học cách yêu thương, quan tâm và đừng bao giờ “bỏ quên” gia đình – mái ấm thiêng liêng nhất của cuộc đời mình.

24 tháng 12 2025

Câu 1

Nhân vật Thị Phương trong đoạn trích được coi là một hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ giàu tình cảm, sống chân thành và có trách nhiệm với gia đình. Ở Thị Phương, ta dễ dàng nhận thấy sự quan tâm sâu sắc dành cho những người thân yêu, thể hiện qua lời nói và hành động giản dị nhưng ấm áp. Nhân vật không đặt bản thân lên trên lợi ích chung mà luôn nghĩ cho người khác trước, cho thấy một tấm lòng vị tha, nhân hậu.Bên cạnh đó, Thị Phương còn là người giàu nội tâm, biết suy nghĩ, trăn trở trước những thay đổi của cuộc sống. Những cảm xúc buồn vui, lo lắng của nhân vật được thể hiện một cách chân thực, khiến người đọc dễ đồng cảm. Chính sự chân thật ấy đã làm nên chiều sâu cho nhân vật, giúp Thị Phương trở nên gần gũi, đời thường mà vẫn đáng trân trọng.Qua nhân vật Thị Phương, tác giả không chỉ khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong gia đình mà còn gửi gắm thông điệp về giá trị của tình thân là thứ tình cảm thiêng liêng, bền vững giữa dòng đời nhiều biến động.

Câu 2

Trong nhịp sống hiện, nhiều bạn trẻ đang dần hình thành một thói quen đáng lo ngại: “bỏ quên” gia đình. Mải mê với học tập, công việc, bạn bè hay thế giới mạng, không ít người quên mất rằng gia đình mới chính là nơi yêu thương vô điều kiện và là điểm tựa vững chắc nhất trong cuộc đời mỗi con người.

“Bỏ quên” gia đình không có nghĩa là không còn sống chung hay không còn quan hệ huyết thống, mà là sự thờ ơ trong cảm xúc và hành động. Đó là khi con cái ít trò chuyện với cha mẹ, bữa cơm gia đình ngày càng vắng tiếng cười, những câu hỏi han trở nên hiếm hoi. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ áp lực cuộc sống, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và suy nghĩ sai lầm rằng gia đình luôn ở đó nên không cần quan tâm quá nhiều.

Tuy nhiên, việc “bỏ quên” gia đình để lại những hậu quả sâu sắc. Với cha mẹ, đó là nỗi cô đơn, chạnh lòng khi con cái ngày một xa cách. Với chính người trẻ, đó là sự thiếu hụt về tinh thần, bởi dù thành công đến đâu, con người vẫn cần một nơi để trở về, cần sự yêu thương chân thành không toan tính. Gia đình không chỉ nuôi dưỡng ta về thể chất mà còn bồi đắp nhân cách, giúp ta vững vàng trước sóng gió cuộc đời.

Nhận thức được điều đó, mỗi bạn trẻ cần chủ động thay đổi. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực: dành thời gian trò chuyện với cha mẹ, ăn cơm cùng gia đình, lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn. Đừng để điện thoại hay mạng xã hội chiếm trọn sự quan tâm của mình khi người thân đang ở ngay bên cạnh. Quan trọng hơn, hãy học cách bày tỏ tình yêu thương, bởi đôi khi chỉ một lời hỏi han cũng đủ làm ấm lòng người ở lại phía sau ta.

Gia đình không phải là điều hiển nhiên có thể tồn tại mãi mãi. Thời gian trôi đi, cha mẹ già đi từng ngày, và những khoảnh khắc sum vầy sẽ không thể quay lại nếu ta vô tình đánh mất. Vì vậy, từ bỏ thói quen “bỏ quên” gia đình chính là học cách trân trọng những giá trị bền vững nhất của cuộc sống. Khi biết yêu thương gia đình, con người sẽ sống hoà thuận và trưởng thành, hạnh phúc hơn trên hành trình của chính mình.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ)(Trích chèo Trương Viên)Mụ:                                − Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng.Thị Phương: (Nói sử)     − Mẹ ơi,                               ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ)

(Trích chèo Trương Viên)

Mụ:                                − Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng.

Thị Phương: (Nói sử)     − Mẹ ơi,

                                        Con trông bên đông có lửa

                                        Mẹ ngồi đây, con thử vào coi

                                        Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ: (Ra)                        − Động ta đây nghiêm chỉnh sắp bày

                                        Ủa kìa người họa phúc tới đây

                                        Sai chúng quỷ ra vây bắt lấy

(Xưng danh)                    Mỗ bạch yêu tinh

                                        Chiếm cao san nhất động

                                        Ngày ngày thường bắt người nuốt sống

                                        Đêm thời đón khách nhai gan

                                        Lộc thiên trù đưa đến tự nhiên

                                        Nay được bữa no say... cha chả!

                                        Này người kia,

                                        Sơn lâm rừng vắng

                                        Đỉnh thượng non cao

                                        Chốn hang sâu sao dám tìm vào

                                        Đi đâu đó, kìa con, nọ mẹ?

Thị Phương:                   − Trình lạy ông thương đoái

                                        Mẹ con tôi đói khát lắm thay

                                        Xẩy nhà lạc bước đến đây

                                        Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ:                                − Không khiến kêu van kể lể

                                        Ta quyết nhai tuổi, nuốt sống không tha

Quỷ cái: (Ra)                  − Chàng ăn thịt gì cho thiếp tôi ăn với!

Quỷ:                                 − Ta ăn thịt Thị Phương.

(Lược một đoạn: Quỷ nói chuyện với Quỷ cái. Thương cho Thị Phương, Quỷ cái nhận Thị Phương là em kết nghĩa để nàng không bị ăn thịt. Quỷ cái còn cho Thị Phương năm lạng vàng để nàng đem về nuôi mẹ.)

Thị Phương: (Quay ra) − Mẹ thức hay ngủ mẹ ơi!

Mụ:                                 − Con vào đấy có được tí gì không?

Thị Phương:                 − Thưa mẹ, con vào đó, quỷ đông đòi ăn thịt.

Mụ:                               − Ăn cơm với thịt đông à?

Thị Phương:                 − Quỷ đông đòi ăn thịt con, mẹ ạ. Quỷ cái ra can rồi lại cho vàng.

Mụ: (Cầm vàng)          − Ở hiền rồi lại gặp lành (Hát sắp)

                                     Gặp vợ chú quỷ cho thanh tre già

(Nói sử)                         Ới con ơi, 

                                     Mẹ cảm thương thân mẹ

                                     Mẹ lại ngại thân con (Hát văn)

                                     Như dao cắt ruột mẹ ra

                                     Trăm sầu, nghìn thảm chất đà nên con!

(Nói)                              − Con ơi, trời còn sớm hay đã tối mà con cứ dắt mẹ đi mãi thế này?

Thị Phương:                − Trình lạy mẹ,

                                     Vầng ô đã lặn

                                     Vắng vẻ cửa nhà

                                     Mẹ con ta vào gốc cây đa

                                     Nằm nghỉ tạm qua đêm sẽ liệu (ngồi nghỉ).

Thần rừng (Hổ): (Ra)  − Ra oai hùm gầm kêu ba tiếng

                                     Phóng hào quang chuyển động phong lôi

                                     Xa chẳng tỏ, nhảy lại ngó coi

                                     Giống chi chi như thể hình người

                                     Đi đâu đó? − Kìa con, nọ mẹ

                                     Muốn sống thời ai chịu cho ai

                                     Vào nộp mệnh cho ta nhai một.

Thị Phương:                − Trăm lạy ông,

                                     Nhẽ ngày hôm qua một tận không còn

                                     Tôi kêu trời khấn đất đã vang

                                     Qua nạn ấy, nạn này lại phải

                                     Ơn ông vạn bội

                                    Ông ăn thịt một, còn một ông tha

                                     Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng.

Mụ: (Nói sử)                 − Trình lạy ông

                                     Con tôi còn trẻ

                                     Công sinh thành, ông để tôi đền

                                     Ông ăn thịt tôi, ông tha cháu nó.

Thị Phương:                Thưa mẹ, mẹ để con chịu cho.

Mụ:                               − Ới con ơi, con còn trẻ người non dạ, để mẹ chịu cho.

Thần rừng (Hổ):         − Nhẽ ra thời ăn thịt cả không tha

                                     Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là

                                     Tha cho đó an toàn tính mệnh.

(Trích Trương Viên, in trong Tuyển tập chèo cổ, Hà Văn Cầu, NXB Sân khấu, 1999)

Tóm tắt đoạn trích: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng mạng mình để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con.

Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản trên.

Câu 2. Chỉ ra những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản. 

Câu 3. Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là một người phụ nữ như thế nào?

Câu 4. Nhận xét về thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương.

Câu 5. Anh/Chị rút ra được những bài học gì cho bản thân qua đoạn trích trên? Chia sẻ suy nghĩ của anh/chị về một bài học mà anh/chị cảm thấy tâm đắc.

19
24 tháng 12 2025

Câu 1. Chủ đề của văn bản

Văn bản ca ngợi sự hi sinh, lòng hiếu thảo và phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, tiêu biểu là nhân vật Thị Phương trong hoàn cảnh chiến tranh, hoạn nạn.

Câu 2. Những lối nói, lối diễn đạt xuất hiện trong văn bản

Lối tự sự: kể lại các sự việc theo trình tự thời gian (lấy chồng, tiễn chồng đi lính, chạy giặc, gặp quỷ – hổ dữ).

Lối miêu tả: miêu tả hoàn cảnh hiểm nguy, rừng sâu, quỷ dữ, hổ đói.

Lối kì ảo, hoang đường: quỷ dữ, hổ ăn thịt người.

Lối đối lập: cái ác (quỷ, hổ dữ) ↔ cái thiện (sự hi sinh của Thị Phương).

Câu 3. Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là người phụ nữ như thế nào?

Thị Phương hiện lên là người phụ nữ:

Hiếu thảo, nhân hậu, hết lòng vì mẹ chồng.

Dũng cảm, giàu đức hi sinh, sẵn sàng đánh đổi mạng sống để cứu người khác, Giàu tình nghĩa, thủy chung,

Câu 4. Nhận xét về thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương

Người mẹ chồng:

Yêu thương, tin tưởng và trân trọng con dâu.Biết ghi nhận công lao, đức hi sinh của Thị Phương.
→ Thể hiện mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu nhân hậu, giàu tình người, hiếm thấy trong xã hội phong kiến.

Câu 5. Bài học rút ra từ đoạn trích

Qua đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc về lòng hiếu thảo và sự hi sinh trong cuộc sống. Thị Phương đã đặt tính mạng của người khác lên trên bản thân mình, cho thấy vẻ đẹp cao quý của con người khi sống vì tình thương. Điều đó nhắc nhở chúng ta cần biết yêu thương gia đình, sống nhân ái và sẵn sàng chia sẻ với những người xung quanh.


24 tháng 12 2025

Câu 1 : chủ đề của văn bản

Văn bản ca ngời lòng hiếu thảo , đức hi sinh cao cả của người phụ nữ và tình mẫu tử thiêng liêng đồng thời lên án cái ác đề cao lẽ công bằng và nhân nghĩa

Câu2: Những lối nói làn điệu xuất hiện trong văn bản

Nói sử, hát sắp, hát vãn, lời thoại nhân vật

- đây là đặc chưng của chèo cổ giúp câu truyện sinh động giàu cảm xúc

Câu3:

-hiếu thảo yêu thương mẹ chồng sâu sắc

-giàu đức hi sinh sẵn sàng nhận cái chết về mình để cứu mẹ

- nhân hậu vị tha không nghĩ cho bản thân

-giàu nghị lực can đảm đôí diện nguy hiểm không lùi bước

Câu 4:

-

-Yêu thương lo lắng cho con dâu

- sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ con

- cư sử nhân hậu đầy tình người xem con dâu như con ruột

Thể hiện vẻ đẹp của tình mẹ chồng - nàng dâu chan chứa yêu thương

Câu5:

- phải sống hiếu thảo biết yêu thương mà hi sinh vì người thân

- sống nhân ái vị tha lẽ phải cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác

Trân trọng tình cảm gia đình đặc biệt là tình mẫu tử

Bài học mà em tâm đắc nhất là lòng hiếu thảo mà sự hi sinh chân thành luôn có sức mạnh cảm hoá con người

16 tháng 4

Câu 1.
Gọi số proton của M là ZM, của X là ZX

Vì trong hạt nhân M, số nơtron nhiều hơn số proton 4 hạt nên
NM = ZM + 4
⇒ A_M = ZM + NM = 2ZM + 4

Vì trong hạt nhân X, số nơtron bằng số proton nên
NX = ZX
⇒ A_X = ZX + NX = 2ZX

Tổng số proton trong MX2 là 58 nên
ZM + 2ZX = 58 (1)

M chiếm 46,67% khối lượng trong MX2 nên
A_M / (A_M + 2A_X) = 46,67% = 7/15 (2)

Thay A_M = 2ZM + 4, A_X = 2ZX vào (2):
(2ZM + 4) / (2ZM + 4 + 4ZX) = 7/15

Rút gọn:
15(2ZM + 4) = 7(2ZM + 4 + 4ZX)
30ZM + 60 = 14ZM + 28 + 28ZX
16ZM + 32 = 28ZX
4ZM + 8 = 7ZX (3)

Từ (1):
ZM = 58 - 2ZX

Thế vào (3):
4(58 - 2ZX) + 8 = 7ZX
232 - 8ZX + 8 = 7ZX
240 = 15ZX
ZX = 16

Suy ra
ZM = 58 - 2.16 = 26

Vậy
A_M = 2.26 + 4 = 56
A_X = 2.16 = 32

Câu 2.
Nguyên tố có Z = 26 là Fe
Nguyên tố có Z = 16 là S

Vậy công thức phân tử của hợp chất là
FeS2

Giải thích, FeS2 chính là pirit sắt, từng được dùng để tạo tia lửa trong cơ chế đánh lửa của súng cổ.

26 tháng 11 2024

Đây là bài văn nhé:>>>

Phân tích bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ là một tác phẩm nổi bật, thể hiện sự cảm thông sâu sắc và nỗi tiếc thương của tác giả đối với người vợ hiền, qua đó phản ánh những giá trị nhân văn sâu sắc trong tình vợ chồng, sự hy sinh và tình nghĩa. Bài thơ có nét đặc trưng của thể thơ trữ tình, mang đậm cảm xúc và được viết dưới hình thức một lời thở than đầy xót xa.

1. Bố cục và hình thức:

Bài thơ chia thành hai phần chính:

  • Phần một: Mở đầu bài thơ, tác giả mô tả tình cảm và sự thương xót của mình đối với người vợ hiền. Những lời ca ngợi về phẩm hạnh của người vợ, những công lao của bà đối với gia đình, với chồng con.
  • Phần hai: Tiếp theo, tác giả bày tỏ sự tiếc nuối và đau đớn khi mất đi người vợ yêu thương, đây là phần thể hiện cảm xúc tiếc thương và sự ân hận.
2. Nội dung và ý nghĩa:

Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh người vợ hiền, là một người phụ nữ có đức hạnh, chăm lo cho gia đình, luôn hi sinh và chịu đựng trong âm thầm. Từ cách miêu tả của tác giả, người vợ hiện lên như một biểu tượng của lòng hy sinh vô bờ bến, tận tụy với gia đình, hết lòng yêu thương chồng con.

“Khóc người vợ hiền” là nỗi xót xa của người chồng khi mất đi người vợ, một người phụ nữ hiền lành, đức độ, không một lời kêu ca, oán trách. Đây cũng là hình ảnh đặc trưng của người phụ nữ trong xã hội cũ – những người luôn làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình mà không bao giờ đòi hỏi sự công nhận.

Tú Mỡ không chỉ thương tiếc về sự ra đi của người vợ mà còn bày tỏ nỗi ân hận vì không thể đền đáp lại những công lao của bà khi còn sống. Điều này thể hiện qua những câu thơ đầy tiếc nuối và day dứt. Nỗi đau của tác giả không chỉ là sự mất mát về mặt vật chất mà còn là sự đánh mất đi một tình yêu thương, một nguồn động viên lớn lao trong cuộc sống.

3. Cảm xúc và thái độ của tác giả:

Qua bài thơ, cảm xúc của tác giả rất mạnh mẽ và sâu sắc. Tú Mỡ thể hiện sự đau đớn, tiếc nuối qua những lời thơ thành thật, chân tình. Nhân vật "tôi" trong bài thơ không chỉ khóc thương cho người vợ đã khuất mà còn tự trách bản thân vì đã không làm tròn bổn phận với người vợ hiền, không trân trọng những gì bà đã hy sinh.

Thái độ của tác giả trong bài thơ vừa là sự tôn trọng đối với người vợ, vừa là sự tự nhận thức về những thiếu sót của chính mình. Điều này khiến bài thơ không chỉ là lời khóc than cho một người đã khuất mà còn là bài học về lòng biết ơn và sự trân trọng đối với những người thân yêu xung quanh.

4. Nghệ thuật và cách diễn đạt:

Tú Mỡ sử dụng nhiều biện pháp tu từ để làm nổi bật cảm xúc trong bài thơ. Lối viết mộc mạc, giản dị nhưng lại rất sâu lắng, dễ dàng đi vào lòng người đọc. Hình ảnh người vợ hiền được khắc họa với những từ ngữ hết sức trang trọng và kính cẩn, qua đó thể hiện sự kính trọng của tác giả đối với người vợ.

Bài thơ cũng có sự lặp lại của các câu từ như "khóc người vợ hiền" để nhấn mạnh nỗi đau đớn và sự tiếc thương vô hạn của tác giả. Những câu thơ nhẹ nhàng nhưng chất chứa tình cảm sâu sắc, khiến cho người đọc dễ dàng cảm nhận được sự mất mát và đau đớn trong lòng tác giả.

5. Kết luận:

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ không chỉ thể hiện sự đau thương, tiếc nuối về một người vợ đã khuất mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của tình yêu, sự hy sinh và lòng biết ơn trong mối quan hệ vợ chồng. Bài thơ là sự thể hiện sâu sắc về những cảm xúc chân thành của một người chồng đối với người vợ hiền, qua đó cũng phản ánh những giá trị nhân văn trong xã hội xưa.

Có thể tham khảo haa🐟🐟🐟

26 tháng 11 2024

Đoạn văn nee=)))

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ thể hiện nỗi đau xót và sự tiếc nuối của người chồng khi mất đi người vợ hiền. Trong bài thơ, người vợ được miêu tả là một người phụ nữ tận tụy, chăm lo cho gia đình mà không đòi hỏi sự công nhận. Nỗi đau của tác giả không chỉ vì sự ra đi của bà mà còn vì sự ân hận và tự trách, khi không thể đền đáp xứng đáng cho những hy sinh của vợ. Những câu thơ của Tú Mỡ đơn giản nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc về tình cảm vợ chồng và giá trị của sự hy sinh trong tình yêu.

Có thể tham khảo thêm cách này aa🐟🐟🐟

24 tháng 12 2025

Câu 1

Bài thơ "Quê hương" của Giang Nam là khúc ca đầy xót xa nhưng cũng chan chứa tình yêu sâu nặng với quê hương, nơi gắn kết máu thịt qua bi kịch chiến tranh. Nét đặc sắc nhất ở nội dung là sự chuyển biến tình cảm: từ yêu quê hương bởi vẻ đẹp bình dị, quen thuộc (chim, bướm, đòn roi) sang yêu quê hương vì "trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi" - một tình yêu thiêng liêng, gắn liền với sự hy sinh của người em du kích, biến quê hương thành nơi chôn cất một phần thân thể mình. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh chân thực nhưng đầy sức gợi như nỗi đau "chết nửa con người",kết hợp giữa miêu tả cảnh và bộc lộ cảm xúc, tạo nên giọng thơ da diết, vừa gần gũi vừa day dứt, thể hiện nỗi đau chung của dân tộc qua số phận cá nhân.

Câu 2

Mạng xã hội mở ra không gian kết nối rộng lớn, nhưng đôi khi lại trở thành mảnh đất màu mỡ cho những định kiến, đặc biệt là sự phân biệt vùng miền. Thói quen này, dù vô tình hay cố ý, đang làm tổn thương và chia rẽ cộng đồng, đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải nhận thức và từ bỏ để xây dựng một môi trường mạng lành mạnh, đoàn kết.

Hiện nay trên mạng xã hội, chúng ta dễ dàng bắt gặp những bình luận, bài viết mang tính quy chụp, gán nhãn cho người ở một vùng miền nhất định có thể như người miền N khó tính , người miền B khó tính. Sự phân biệt này xuất phát từ những trải nghiệm cá nhân hạn hẹp, định kiến văn hóa truyền miệng, hoặc những câu chuyện phiến diện được lan truyền.Những phát ngôn thiếu kiểm soát có thể gây tổn thương tâm lý, ảnh hưởng đến mối quan hệ và tạo ra những hiểu lầm không đáng có. Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của phân biệt vùng miền trên mạng xã hội là việc chế giễu giọng nói. Ở Việt Nam, các giọng nói của người miền Bắc, miền Trung và miền Nam thường xuyên trở thành đối tượng để mọi người bình luận, chê bai hoặc thậm chí chế nhạo. Những người nói giọng Bắc, giọng Nam hay giọng Trung đều có thể bị gọi là "kỳ quặc", "khó nghe" hoặc "không giống ai". Những nhận xét này không chỉ gây tổn thương cho người bị nhắc đến mà còn góp phần duy trì những định kiến sai lầm về sự khác biệt vùng miền. Điều này thể hiện một sự thiếu tôn trọng đối với nền văn hóa đa dạng của đất nước, đồng thời cũng làm sâu sắc thêm sự chia rẽ trong cộng đồng.

Vấn đề này không chỉ gây ra sự tổn thương cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các cộng đồng trong xã hội. Mạng xã hội, đáng lẽ phải là nơi kết nối mọi người, tạo ra sự đồng cảm và chia sẻ, lại trở thành một không gian thù địch, nơi mà sự phân biệt vùng miền được cổ xúy và lan rộng. Điều này không chỉ gây ra sự mất đoàn kết mà còn làm tổn hại đến tinh thần đoàn kết dân tộc, một yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội vững mạnh.

Để khắc phục tình trạng phân biệt vùng miền trên mạng xã hội, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức về việc cư xử văn minh, tôn trọng sự khác biệt và đa dạng của các vùng miền. Các cơ quan chức năng cũng cần phải có những biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc xử lý những hành vi vi phạm, đồng thời tăng cường giáo dục về văn hoá, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng. Chỉ khi mọi người nhận thức được rằng sự khác biệt về vùng miền không phải là điều đáng bị phân biệt, mà là một nét đẹp đa dạng, thì mạng xã hội mới có thể trở thành một không gian tích cực và lành mạnh cho tất cả mọi người.

25 tháng 12 2025

Câu1:

Bài làm

Nhà thơ Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh năm 1929. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm đi vào lòng người. Phong cách thơ của Giang Nam luôn mang bóng hình của quê hương, đất nước. Và Quê hương chính là một trong những tác phẩm thơ nổi bật của ông

Quê hương được sáng tác trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Năm 1960, thời điểm giặc Mỹ bắn phá dữ dội miền Bắc và chiến trường cực kỳ ác liệt ở miền Nam, nhà thơ nhận được tin vợ và con bị giết hại trong nhà tù. Đau xót và căm uất vô cùng, những vần thơ trào ra giống như những hàng nước mắt ép chặt những đau khổ, tổn thương của nhà thơ. Song thật may mắn vì đây chỉ là một sự nhầm lẫn, năm 1962, vợ con ông đã được thả do địch không tìm được căn cứ để kết tội. Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Giang Nam.

Viết về quê hương, một đề tài không mới mẻ, song Giang Nam đã có cách khai thác rất mới. Ông không miêu tả quê hương với cánh cò bay lả, với cây đa, giếng nước mà quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ, những thuở chăn trâu cắt cỏ với đám bạn trong làng .Tình yêu với quê hương bắt đầu tự nhiên và giản dị như thế, yêu qua từng trang sách, những con chữ đầu tiên, thế rồi tình yêu ấy cứ lớn dần, lớn dần theo năm tháng. Những kỷ niệm tuổi thơ ùa về với biết bao ký ức vui buồn: những ngày trốn học bị mẹ bắt đánh đòn, cô gái nhà bên khúc khích cười ôi thương thương quá đi thôi. Cô bé nhà bên ấy có lẽ là nhân vật trữ tình gắn bó thân thuộc với tác giả từ trong ký ức tuổi thơ đến khi trưởng thành

Bài thơ khắc họa hình ảnh quê hương bình dị, gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng như tiếng ve, bãi mía, con đê, và đặc biệt là hình bóng "cô bé nhà bên" – biểu tượng của tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa nảy nở, gắn bó trong khói lửa kháng chiến. Nỗi nhớ quê hương không chỉ dừng lại ở cảnh vật mà còn là nỗi nhớ về "một phần xương thịt" của em, thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc, gắn liền với con người và lịch sử. 

Nhà thơ sử dụng thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt, tạo nên dòng cảm xúc phóng khoáng, chân thật như lời tâm tình. Giọng thơ bồi hồi, xao xuyến, kết hợp hài hòa giữa tự sự và miêu tả. Các biện pháp nghệ thuật như liệt kê ("bãi mía", "con đê", "tiếng ve") làm bức tranh quê hương thêm sống động. Những hình ảnh gần gũi, bình dị ("cô bé", "mắt đen tròn", "gánh thóc") và ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc đã chạm đến trái tim người đọc. Bài thơ không chỉ gợi nỗi nhớ mà còn khẳng định tình yêu quê hương là tình yêu con người, tình yêu đất nước, là sợi dây vô hình kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai.". 

Bài thơ Quê hương của Nhà thơ Giang Nam dù đã trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời đại. Nhưng với bất cứ ai khi đọc lên đều không khỏi cảm thấy xót xa, bùi ngùi, đau đớn khi mất đi người yêu, mất đi ruột thịt của mình. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

Câu 2:

Trong xã hội hiện đại, khi mà đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ và hội nhập quốc tế, nạn "phân biệt vùng miền" vẫn là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Dù ở bất kỳ thời kỳ nào, tình trạng phân biệt vùng miền cũng đã tồn tại, nhưng trong bối cảnh hiện nay, vấn đề này đang ngày càng trở nên nhức nhối và cần được nhận thức và giải quyết kịp thời. "Phân biệt vùng miền" ở đây không chỉ là sự phân biệt về địa lý mà còn là sự phân biệt về văn hóa, cách sống, và thậm chí là lối suy nghĩ giữa các khu vực trong cùng một quốc gia.

Vấn đề phân biệt vùng miền giữa các bạn trẻ ngày nay thường thể hiện qua cách nhìn nhận về một số đặc điểm của người từ các vùng khác nhau như giọng nói, cách ăn uống, thói quen sinh hoạt, hay thậm chí là những "huyền thoại" về các vùng đất. Có không ít bạn trẻ phân biệt đối xử với những người đến từ các vùng khác, coi họ là "dân tỉnh lẻ", "dân miền núi", "dân miền Nam", "dân miền Bắc" theo kiểu mỉa mai, hoặc thậm chí là khinh miệt, tạo ra rào cản giữa các nhóm người. Điều này không chỉ xảy ra trong giao tiếp giữa các nhóm bạn mà còn có thể xuất hiện trong học tập, công việc hay thậm chí trong các mối quan hệ xã hội.

Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là sự phân biệt qua giọng nói. Giới trẻ có xu hướng coi giọng nói miền Nam, miền Trung là "kém sang" hay "không hợp thời". Họ đánh giá người khác qua giọng nói, ngữ điệu mà không hiểu rằng đó chỉ là sự khác biệt về văn hóa, không phải là yếu tố quyết định giá trị con người. Thậm chí, nhiều bạn trẻ có cái nhìn sai lệch về những vùng miền khác, cho rằng người miền Tây, miền Trung là "quê mùa", "lạc hậu" chỉ vì những phong tục, tập quán khác biệt.

Nạn phân biệt vùng miền không chỉ tạo ra những khoảng cách trong giao tiếp mà còn dẫn đến sự chia rẽ, mất đoàn kết trong xã hội. Điều này có thể ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang phát triển và hướng đến hội nhập quốc tế. Khi mà mỗi cá nhân trong xã hội lại cố gắng nhìn nhận và đánh giá người khác qua những yếu tố vùng miền, họ vô tình tạo ra những rào cản trong việc xây dựng tình bạn, tình đồng nghiệp, và tình đoàn kết.

Ngoài ra, sự phân biệt vùng miền cũng gây tổn hại đến sự tự tin và lòng tự trọng của những người bị phân biệt. Một người có thể cảm thấy tự ti về nguồn gốc của mình, cảm thấy mình không đủ giá trị, không xứng đáng với sự tôn trọng và tình bạn từ những người khác chỉ vì nơi mình sinh ra và lớn lên. Điều này không chỉ làm giảm đi sự tự tin của bản thân mà còn làm mất đi cơ hội hòa nhập và phát triển.

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân biệt vùng miền trong giới trẻ là sự thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa của các vùng miền khác. Các bạn trẻ ngày nay, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, nhiều khi thiếu sự giao lưu, tìm hiểu về các đặc điểm, giá trị văn hóa của các vùng miền khác. Điều này khiến họ dễ dàng có những nhận thức sai lầm và những định kiến không đáng có đối với những người từ các vùng miền khác.

Bên cạnh đó, truyền thông và mạng xã hội cũng góp phần vào việc phát tán những định kiến và quan điểm phân biệt vùng miền. Những câu nói đùa, những meme hay video chế giễu các đặc điểm văn hóa của các vùng miền đôi khi vô tình tạo ra những hình ảnh sai lệch, làm gia tăng sự phân biệt. Việc thiếu những chương trình giáo dục về sự hòa nhập và tôn trọng sự khác biệt văn hóa cũng góp phần tạo ra tình trạng này.

Để giải quyết nạn phân biệt vùng miền, trước tiên, cần phải nâng cao nhận thức của giới trẻ về sự tôn trọng, hiểu biết và yêu thương những giá trị văn hóa khác biệt. Các trường học, gia đình và xã hội cần tích cực tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, các chương trình dạy về lịch sử, văn hóa của các vùng miền để học sinh và sinh viên có thể hiểu rõ hơn về sự phong phú và đa dạng của dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần phải tự giác loại bỏ những quan điểm, định kiến sai lầm, biết tôn trọng sự khác biệt và làm phong phú thêm mối quan hệ xã hội của mình qua việc tiếp xúc, giao lưu với những người đến từ các vùng miền khác. Chính sự giao thoa văn hóa, sự chia sẻ và học hỏi từ nhau sẽ giúp chúng ta hiểu và cảm thông cho những khác biệt, từ đó xóa bỏ được sự phân biệt vô lý.


Nạn phân biệt vùng miền trong giới trẻ ngày nay là một vấn đề cần được giải quyết kịp thời để xây dựng một xã hội đoàn kết, hòa hợp. Việc tôn trọng và yêu mến sự đa dạng văn hóa của đất nước sẽ giúp giới trẻ nhận thức được giá trị của mỗi vùng miền và góp phần xây dựng một cộng đồng mạnh mẽ, văn minh. Chúng ta cần phải xây dựng một xã hội mà trong đó mọi cá nhân đều được tôn trọng và có cơ hội phát triển bình đẳng, không bị phân biệt bởi bất kỳ yếu tố nào, kể cả nguồn gốc vùng miền.



Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:                     Quê hương  Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc! Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích...             *** Cách...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

                   Quê hương 

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...

            ***

Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

            ***

Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
- Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...

Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.

                                      1960

                              - Giang Nam -

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Chỉ ra dấu hiệu nhận diện thể thơ đó.

Câu 2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?

Câu 3. Trong dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình, "cô bé nhà bên" được gợi tả qua những chi tiết, hình ảnh nào? Em có cảm nhận gì về cô gái đó?

Câu 4. Xác định và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ có trong khổ thơ cuối của bài thơ. 

Câu 5. Hai dòng thơ cuối: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì?

37
26 tháng 11 2024

Đã ai làm j cậu đâu mà cậu nói vậy ?

18 tháng 12 2025

Câu 1thể thơ tự do cách xác định là số dòng , chữ không cố định , nhịp điệu tự do

Câu 2 cảm hứng chủ đạo : miêu tả vẻ đẹp quê hương tình yêu quê hương sâu sắc , nỗi nhớ da diết, sự xót xa đau đớn trước mất mát chiến tranh

Câu 3 có cô bé nhà bên nhìn tộ cười khúc khích, mắt đen tròn ,… cảm thấy cô gái là người hay cười dễ gần đôi khi ngại ngùng trước người mình thương nhưng lại dũng cảm sẵn sàng ra chiến trường để đánh giặc

Câu 4 biện phaps tu từ liệt kê : khắc họa rõ nét bức tranh quê hương bình dị tuổi thơ hồn nhiên tình cảm gắn bó sâu sắc pha trộn giữa nỗi buồn mất mát

Câu 5 tình cảm sâu sắc chân thành dành cho cô gái sự gắn kết máu thịt , tình yêu quê hương không còn là khái niệm trừu tượng nữa mà trở nên cụ thể , kết tinh bằng sự hy sinh

26 tháng 11 2024

Trong đời sống con người của chúng ta không phải thứ gì cũng mua được bằng tiền. Chúng ta thường nghĩ rằng có được đồng tiền thì sẽ có được mọi thứ nhưng không , có một số thứ không thể giải quyết được bằng tiền.Những thứ có nhiều tiền cách máy như trăm triệu , trăm tỉ , nghìn tỉ , trăm triệu đô , tỷ đô gọi chung nó là vô giá như sức khoẻ, thời gian ,chính trực , sự thật, đạo đức , giáo dục , chữ tính, tâm thành tĩnh, lương thiện, tốt bụng. Nên hãy bỏ cái quần niệm có tiêng là có tất cả.

3 tháng 1

Câu 1:

Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng "Có tiền là có tất cả", coi đồng tiền như một thước đo duy nhất cho sự thành công và hạnh phúc. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng, bởi tiền bạc chỉ là một công cụ hỗ trợ để con người có được cuộc sống tiện nghi hơn, nó không thể là yếu tố quyết định tất cả mọi giá trị của cuộc sống. Thứ nhất, những giá trị tinh thần như tình yêu thương, hạnh phúc gia đình, tình bạn chân thành đều là những điều tiền bạc không thể mua được. Một gia đình hạnh phúc không phải là gia đình giàu nhất, mà là nơi mọi người sẽ biết yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Thứ hai, sức khỏe, thứ tài sản quý giá nhất trong đời người, cũng không thể hoàn toàn đảm bảo bằng tiền bạc. Nhiều căn bệnh nan y hay sự suy giảm sức khỏe vì lối sống thiếu lành mạnh, dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng khắc phục. Cuối cùng, chạy theo đồng tiền một cách mù quáng dễ khiến con người đánh mất bản ngã, dẫn đến ham mê vật chất và quên đi những giá trị đạo đức cốt lõi. Vì vậy, thay vì coi tiền là tất cả, chúng ta cần nhìn nhận đúng vai trò của nó và xây dựng cuộc sống dựa trên những giá trị bền vững như tình cảm, tri thức và đạo đức. Tiền bạc chỉ nên đóng vai trò phụ giúp cuộc sống thêm trọn vẹn chứ không phải đích đến tối thượng.

Câu 2:

Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã để lại cho hậu thế nhiều bài thơ sâu sắc, phản ánh chân thực về cuộc sống và tư tưởng của ông. Trong số đó, bài thơ "Thế gian biến đổi" nổi bật với nội dung đầy ý nghĩa triết lý và nghệ thuật đặc sắc, khắc họa rõ nét sự suy tư của nhà thơ về sự thay đổi của cuộc đời và thái độ con người trước những biến thiên của thế gian. Trước hết, xét về nội dung, bài thơ phản ánh một cách trực diện và sâu sắc những mặt trái đang hiện hữu trong xã hội thời bấy giờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng hình ảnh thế gian biến đổi như một quy luật tất yếu: "Thế gian biến cải vũng lên đồi". Đây là cách ông diễn đạt sinh động sự chuyển đổi liên tục của cuộc đời, sự thay đổi không chỉ về mặt thiên nhiên mà cả trong lòng người. "Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi", câu thơ gợi lên hình ảnh về cuộc sống đa sắc màu, nơi con người phải đối mặt với cả niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và bất hạnh. Tất cả những trải nghiệm này đều là những mảnh ghép quan trọng hình thành nên bức tranh thế gian đầy phức tạp. Bên cạnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ngần ngại chỉ ra sự thực phũ phàng về thái độ con người trước tiền bạc và danh lợi. Những câu như: "Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi" đã nói lên sự thật đắng cay rằng lòng người thường thay đổi theo vật chất; khi còn giàu sang, danh vọng thì được người đời vây quanh, nhưng lúc khó khăn, tay trắng lại bị xa lánh. Bài thơ cũng bày tỏ niềm tin của nhà thơ vào giá trị chân thật trong cuộc sống: "Xưa nay đều trọng người chân thật / Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi". Điều này phản ánh một triết lý sống nhân văn, đề cao những phẩm chất cao quý trong con người dù xã hội có biến đổi đến đâu. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi cách sử dụng ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc. Nguyễn Bỉnh Khiêm không cần đến những hình ảnh hoa mỹ hay câu từ cầu kỳ để thể hiện ý tưởng của mình. Ngôn từ ông dùng vừa gần gũi, dễ hiểu lại hàm chứa triết lý sâu xa. Những vần thơ ngắn gọn mà giàu hình ảnh đã truyền tải thông điệp một cách sắc bén và thấm thía. Kết cấu bài thơ mạch lạc với hai phần rõ ràng: phần đầu khái quát sự thay đổi trong thế gian, phần sau hướng đến thái độ con người trước thực trạng ấy. Ngoài ra, nhà thơ còn khéo léo sử dụng các biện pháp đối lập để làm nổi bật sự tương phản trong tâm lý và hành động của con người, góp phần tăng sức gợi hình và sức biểu cảm cho bài thơ. Không dừng lại ở việc chỉ trích hay phê phán những thói đời xấu xí, bài thơ "Thế gian biến đổi" còn là lời khuyên và chiêm nghiệm sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắn nhủ chúng ta rằng hãy sống chân thật, giữ vững phẩm chất đạo đức tốt đẹp dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây không chỉ là thông điệp dành riêng cho xã hội thời ông mà còn là bài học quý giá đối với mỗi con người trong mọi thời đại. Tóm lại, bài thơ "Thế gian biến đổi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một bức tranh sống động về hiện thực xã hội vừa mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về cách ứng xử đạo đức. Với nghệ thuật ngôn từ tinh tế cùng tư tưởng giàu chiều sâu triết lý, nhà thơ đã để lại cho hậu thế một tác phẩm có giá trị vượt thời gian, khiến cho người đọc không chỉ đồng cảm mà còn suy ngẫm về chính mình trong dòng chảy bất tận của cuộc đời.


(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Tiền tài như phấn thổ?  Tiền tài như phấn thổ Nghĩa trọng tợ thiên kim Con le le mấy thuở chết chìm Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi?       Khi còn nhỏ, tôi thường nghe mẹ hát như vậy. Phấn thổ tức là bụi đất. Cứ theo câu "trọng nghĩa khinh tài" mà giải, tiền bạc quả thật là đáng xem thường.     ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Tiền tài như phấn thổ? 

Tiền tài như phấn thổ
Nghĩa trọng tợ thiên kim
Con le le mấy thuở chết chìm
Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi?

      Khi còn nhỏ, tôi thường nghe mẹ hát như vậy. Phấn thổ tức là bụi đất. Cứ theo câu "trọng nghĩa khinh tài" mà giải, tiền bạc quả thật là đáng xem thường. 

      Thời gian qua đi, tôi lớn lên và nhìn thấy cuộc đời dường như không giống câu ca dao mẹ hát. Chúng ta vẫn được dạy rằng đồng tiền dễ làm tha hóa con người, rằng hãy tránh xa những người xem đồng tiền là trọng. Nhưng tôi chưa từng thấy ai kiềm tiền bằng trí lực của mình một cách chính đáng mà không xem trọng đồng tiền, dù họ giàu hay nghèo. Người ta nói đồng tiền là nguồn gốc của tội lỗi, nhưng nếu đúng như vậy thì tại sao nhà thờ và nhà chùa vẫn tiếp nhận nó như một thứ lễ vật?

      Chúng ta thường có cái nhìn ngưỡng mộ khi nghe ai đó nói rằng: "Tôi không quan tâm đến tiền bạc", nhưng rồi tôi đọc được câu này của Oscar Wilde: "Khi còn trẻ, tôi thường nghĩ rằng tiền bạc là thứ quan trọng nhất trong đời sống, bây giờ khi tôi già, tôi biết là đúng như vậy".

      Tôi đã sống qua nhiều năm tháng mới nhận ra bản chất của đồng tiền, và tôi ước gì khi tôi mới mười bảy tuổi, có ai đó nói cho tôi biết ý nghĩa đích thực của tiền, thứ mà chúng ta sẽ chạm đến mỗi ngày trong suốt cuộc đời, thậm chí có thể nhiều gấp nhiều lần chạm vào bàn tay người mình thương yêu.

      Tôi thực sự ưa thích cách nhìn về đồng tiền của nhân vật Francisco de Anconia trong tiểu thuyết Atlas Shrugged (Ayn Rand). Nhà tư bản công nghiệp này nói rẳng: "Tiền bạc đòi hỏi anh nhận ra rằng con người phải làm việc để đạt được lợi ích chứ không phải để chịu tổn hại... Những người thật sự ham mê tiền bạc nỗ lực làm việc để kiếm được tiển, và họ biết rằng mình xứng đáng có được nó".

      Phải chăng chúng ta nên trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó: Một công cụ dùng để trao đổi các giá trị tương xứng. Đừng khoác cho nó uy lực mà nó không có, cũng đừng gán cho nó tội lỗi mà nó không phạm. Cái làm con người sa ngã không phải là sức mạnh của đồng tiền, mà là những tham vọng không chính đáng của chính bản thân ta: Có được những thứ không phải của mình, sở hữu những thứ vượt quá công sức của mình, danh tiếng mà mình không xứng đáng, vật chất mà mình chưa đủ khả năng mua...

      Mẹ tôi dạy rằng hãy luôn xài ít hơn số tiền mình kiếm được. Trong khi phần đông chúng ta thường xài nhiều hơn số tiền mình làm ra. Một người bạn của tôi tâm sự rằng đôi khi cô thấy mình là kẻ ngốc, vì sung sướng nhét một đống Credit Card(1) trong ví để rồi mua những thứ mình không cần, bằng số tiền mình không có (mà vay qua credit card), cốt chỉ để chứng tỏ với những người không quen. Sau đó è cổ ra cày trả nợ. Có phải là vô nghĩa hay không? Đó cũng là sự khác nhau giữa Credit Card và Debit Card(2). Tôi ghi nhớ kinh nghiệm đau thương của cô nên quyết định làm Debit Card thay vì Credit Card. Có nhiều xài nhiều, có ít xài ít, không có thì đi "window shopping"(3) cho vui vậy thôi. Ngân hàng chắc buồn nhưng tôi thì ngủ yên. 

      Trong bài hát This is the Life của Al Yankovic có một câu rất hay: "So if money can't buy happiness, I guess I'll have to rent it" (Nếu tiền không thể mua được hạnh phúc, chắc tôi phải thuê thôi). Nhưng tôi tin rằng cái gì người ta có bán thì tiền đều có thể mua được. Chắc chắn như vậy. "Tiền không mua được hạnh phúc" chẳng phải vì tiền không có đủ sức mạnh mà vì không ai bán hạnh phúc. Giả sử tôi có đủ tiền để trả cho hạnh phúc của bạn, và nếu bạn thực sự hạnh phúc, bạn có bán nó cho tôi không? Người ta dám bán cả các ngôi sao trên trời nhưng tôi tin không ai bán hạnh phúc nếu như họ có nó.

      Ngoại trừ trong các quảng cáo. Tôi thấy trên Internet người ta bán một căn nhà vách đất ở miền nông thôn
nước Pháp với lời rao: "Chúng tôi bán hạnh phúc, và bạn đan được miễn phí ngôi nhà". Thật tài tình. Đó là lý do khiến chúng ta gần như phát điên lên vì shopping. Áo quần, xe cộ, đồ hi-tech... Nhưng vấn đề nằm ở chỗ đôi khi ta không biết chắc mình đang mua cái gì. Có khi nào bạn trả tiền cho một chiếc mũ bảo hiểm và nghĩ rằng mình đã mua được sự an toàn tuyệt đối không? Chúng ta vẫn nghe nhắc rằng: "Tiền có thể mua được ngôi nhà nhưng không mua được gia đình; mua được thuốc men nhưng không mua được sức khỏe; mua được sách nhưng không mua được tri thức; mua được chức tước nhưng không mua được sự kính trọng...". Đó là những lời thực sự đáng ghi nhớ. 

      Một người quen của tôi có cái bình sứ do tổ tiên để lại, vẫn dùng để cắm hoa trên bàn thờ. Một hôm có người hỏi mua, anh mừng quá bán luôn. Sau anh mới biết cái bình đáng giá gấp 30 lần số tiền anh được trả. Quả đắng ấy anh nuốt mãi không trôi.

      Điều tương tự cũng có thể xảy ra với những giá trị khác. Giả sử người ta có thể mua bán tình yêu, tình bạn, danh dự... Hãy cho tôi biết đổi tình bạn lấy một cái nhà là lợi hay thiệt? Nếu đổi tình yêu lấy danh tiếng? Hay hạnh phúc gia đình lấy địa vị xã hội? Đổi mối tình chân thật lấy một bóng sắc thoáng qua? Đổi sự tôn trọng lấy những lời tung hô? Đổi sự chính trực để lấy vài trăm triệu đồng thì khôn ngoan hay là không? Hạnh phúc của người yêu ta với hạnh phúc của người ta yêu, bên nào nhẹ hơn, bên nào thì nặng? Câu trả lời có thể khác nhau với mỗi người, nhưng có một sự thật là việc đánh giá sai giá trị của "món hàng" không những khiến ta bị thiệt hại mà còn khiến người khác nhìn ta như một kẻ thiếu khôn ngoan. Nhiều bi kịch xảy ra chỉ vì người ta đánh giá sai các giá trị khi đổi chác, những tiếc nuối, xót xa, hối hận, giày vò cũng bắt đầu từ đó. Vậy thì hãy sai bản chấc rằng ta đánh giá đúng giá trị của những gì mình muốn mua, hoặc bán. Để sau một cuộc đối chắc thứ có được vẫn tương xứng với những gì mà ta đã trao đi.

"Tiền tài như phấn thổ"

      Tôi hỏi mẹ sao cứ hát hoài câu đó, vì tôi không thể coi đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình như bụi đất được. Mẹ tôi trả lời rằng câu hát ấy không có ý nói tiền là thứ đáng coi khinh. Nó chỉ nhắc ta nhớ rằng: Đồng tiền có thể bị mất giá, nên những gì tiền mua được cũng có thể bị mất giá. Những tờ tiền có thể tan thành bụi đất, và những thứ mua được bằng tiền cũng vậy.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Thế giới, 2022, tr.148 - 153)

Chú thích: 

(1) Credit Card: Loại thẻ tín dụng dùng trước trả sau.

(2) Debit Card: Loại thẻ tín dụng có bao nhiêu tiền chỉ dùng được bấy nhiêu.

(3) Window shopping: Đi xem hàng chứ không mua. 

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Mục đích của tác giả qua văn bản trên là gì?

Câu 4. Nhận xét về cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em có suy nghĩ như thế nào về đoạn văn sau: Phải chăng chúng ta nên trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó: Một công cụ dùng để trao đổi các giá trị tương xứng. Đừng khoác cho nó uy lực mà nó không có, cũng đừng gán cho nó tội lỗi mà nó không phạm. Cái làm con người sa ngã không phải là sức mạnh của đồng tiền, mà là những tham vọng không chính đáng của chính bản thân ta: Có được những thứ không phải của mình, sở hữu những thứ vượt quá công sức của mình, danh tiếng mà mình không xứng đáng, vật chất mà mình chưa đủ khả năng mua...?

8
7 tháng 1 2025

Câu 1: văn bản trên thuộc văn bản nghị luận

7 tháng 1 2025

Câu 2: những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn là: nghị luận, tự sự, biểu cảm                                                       Câu 3: Mục đích của tác giả qua văn bản trên là:Giải thích bản chất thật sự của đồng tiền, xem nó như một công cụ trao đổi giá trị tương xứng, không nên thần thánh hóa hay xem thường. Phê phán những tham vọng không chính đáng, nhấn mạnh rằng lỗi lầm không nằm ở đồng tiền mà ở cách con người sử dụng nó. Hướng đến lối sống có trách nhiệm, sử dụng đồng tiền hợp lý, biết đánh giá đúng giá trị của những thứ mình có và muốn sở hữu.                                                                  Câu 4:Cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản:Lập luận chặt chẽ: Tác giả đưa ra vấn đề, phân tích đa chiều, và kết luận thuyết phục. Dẫn chứng đa dạng: Tác giả sử dụng các câu chuyện cá nhân, trích dẫn từ văn học (Oscar Wilde, Francisco de Anconia), và những quan sát thực tế để làm sáng tỏ luận điểm.                  Câu 5:Đoạn văn này thể hiện quan điểm đúng đắn và sâu sắc về bản chất của đồng tiền. Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Đồng tiền không có lỗi, cách chúng ta kiếm, sử dụng, và đánh giá nó mới quyết định đồng tiền là tốt hay xấu. Biết hài hòa giữa nhu cầu cá nhân và giá trị đạo đức sẽ giúp cuộc sống cân bằng và ý nghĩa hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 1. (2 điểm)       Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen chêm xen tiếng nước ngoài vào lời nói trong quá trình giao tiếp. Câu 2. (4 điểm)       Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng “ly khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.                  Tống biệt hành Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

      Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen chêm xen tiếng nước ngoài vào lời nói trong quá trình giao tiếp.

Câu 2. (4 điểm)

      Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng “ly khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm. 

                Tống biệt hành

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dửng…

- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

 Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

 Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giờ chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

 Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say. 

2
25 tháng 11 2024

Đúng nhưng mà vẩn đúng:)))

25 tháng 11 2024

Hi :)))

x là gì ?