Đọc văn bản sau:
Hãy chăm sóc mẹ
Ngay sau khi được tin mẹ bị lạc, cô bực tức hỏi mọi người trong gia đình sao không có ai ra ga tàu điện ngầm Seoul đón bố mẹ.
“Còn cô đã ở đâu?”
“Tôi ư?” Cô mím chặt môi. Tận bốn ngày sau khi mẹ bị lạc cô mới biết tin. Mọi người trong gia đình cô đổ lỗi cho nhau về chuyện mẹ bị lạc nhưng ai cũng cảm thấy day dứt trong lòng.
Rời khỏi nhà anh cả, cô bắt tàu điện ngầm về nhà nhưng rồi lại xuống ở ga Seoul, nơi mẹ biến mất. Trong nhà ga người đông như nêm, họ chen lấn va quệt vào cô khi cô tìm đường đi tới chỗ mẹ bị lạc. Chắc mẹ cô cũng bị lạc trong tình trạng hỗn loạn như thế này. Mọi người xô đẩy cô khi cô đứng tại nơi mẹ đã tuột mất bàn tay bố. Không ai nói một lời xin lỗi. Có lẽ mọi người đã ào ạt đi qua như thế trong khi mẹ cô đứng đấy, không biết phải làm gì.
Người ta có thể lật lại hồi ức được bao xa? Hồi ức về mẹ thì sao?
Từ khi nghe tin mẹ bị lạc đến tận bây giờ, cô không thể tập trung suy nghĩ được gì. Những ký ức cô đã quên lãng từ lâu bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi ân hận cứ bám theo từng ký ức. Cô nhớ lại nhiều năm về trước, mấy ngày trước khi cô rời thị trấn quê nhà lên thành phố, mẹ dẫn cô ra cửa hàng quần áo ngoài chợ. Cô muốn chọn một chiếc váy trơn nhưng mẹ lại chọn cho cô một chiếc váy xếp nếp có đai và đường diềm.
“Cái này thế nào?” mẹ cô hỏi.
“Không,” cô nói rồi gạt đi.
“Tại sao? Con cứ mặc thử đi.”
Mẹ lúc đó còn trẻ, mở to mắt ngạc nhiên không hiểu. Chiếc váy xếp nếp ấy tương phản hoàn toàn với chiếc khăn cũ kỹ lem nhem mẹ đội trên đầu như hai thế giới tách biệt không ăn nhập gì với nhau.
“Trông trẻ con quá.”
“Thật sao?” Mẹ cô nói nhưng vẫn cầm chiếc váy ngắm nghía mãi không nỡ rời. “Nếu là con thì mẹ đã thử cái váy này,” mẹ cô lẩm bẩm.
Thấy mẹ có vẻ hơi buồn khi cô cho rằng kiểu váy đó trẻ con, cô nói, “Cái này có phải kiểu mẹ hay mặc đâu.”
Mẹ nói, “Không, mẹ thích kiểu này, chỉ có điều mẹ thì không mặc được.”
“Mình lẽ ra nên mặc thử cái váy đó”, cô thầm nghĩ. Cô khuỵu chân ngồi xuống có lẽ đúng chỗ mẹ cô đã từng ngồi. Vài ngày sau khi nhất quyết đòi mua váy trơn, cô đã đến chính sân ga tàu điện ngầm Seoul này cùng mẹ. Mẹ nắm chặt tay cô, bước đi giữa biển người với phong thái có thể đe dọa cả những tòa nhà lừng lững đang từ trên cao nhìn thẳng xuống, rồi băng qua quảng trường và đợi anh cả dưới chân tháp đồng hồ. Sao một con người như vậy có thể bị lạc? Khi ánh đèn từ con tàu đang vào ga vừa rọi tới, mọi người đổ xô lại, liếc xéo qua chỗ cô ngồi cứ như thể họ đang bực bội vì cô cứ ngồi trên lối đi.
Lúc mẹ bị xô tuột khỏi tay bố, cô đang cùng đồng nghiệp tham dự triển lãm sách tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch tiếng Trung cuốn sách của cô tại một quầy sách ở triển lãm. Cô tự hỏi tại sao bố không đi taxi mà lại đi tàu điện ngầm chứ? Chỉ cần bố không đi tàu điện ngầm thì chắc đã không xảy ra chuyện này.
Bố cô nói ông đã nghĩ tại sao phải đi taxi khi ga tàu hỏa cũng nối liền với ga tàu điện ngầm? Có những khoảnh khắc mà người ta thường suy ngẫm lại sau khi có việc gì đó xảy ra, nhất là sau khi chuyện không may xảy ra. Khoảnh khắc mà người đó nghĩ, “Lẽ ra mình không nên làm vậy”. Khi bố cô nói với cả nhà rằng bố mẹ có thể tự tìm đến nhà anh Hyong-chol, tại sao khác với những lần trước anh chị em cô lại để bố mẹ làm thế? Bình thường mỗi lần bố mẹ lên thành phố thăm các con, trong số anh em cô vẫn có người ra ga xe lửa hay ga tàu điện ngầm Seoul đón họ. Điều gì khiến bố cô, vốn luôn dùng xe của nhà hoặc đi taxi mỗi lần lên thành phố, quyết định đi tàu điện ngầm vào cái ngày định mệnh ấy? Khi tàu điện đến, bố mẹ vội vã chạy lại. Nhưng lúc bố lên tàu, nhìn lại phía sau thì đã không thấy mẹ đâu. Đó là một buổi chiều thứ Bảy đông đúc. Mẹ lạc bố giữa đám đông, đoàn tàu lăn bánh khi mẹ hoàn toàn mất phương hướng. (...)
Bố cô xuống ở bến kế tiếp và quay lại ga tàu điện ngầm Seoul nhưng mẹ cô đã không còn ở đó.
“Dù không bắt được tàu nhưng sao có thể quên được đường cơ chứ? Bảng hướng dẫn ở đâu cũng có. Mẹ biết dùng điện thoại công cộng, chỉ cần đến bốt điện thoại là có thể gọi được mà.” Chị dâu cô một mực cho rằng chắc chắn đã có chuyện gì đó xảy ra với mẹ, rằng thật khó hiểu khi mẹ không thể tìm thấy nhà anh cả chỉ vì không lên đúng chuyến tàu điện ngầm như bố. Có điều gì đã xảy ra với mẹ ư? Đó là suy nghĩ của những người muốn nghĩ mẹ là một bà già quê mùa.
Khi cô nói, “Có thể mẹ đã bị lạc đường chứ chị,” thì chị dâu cô tròn mắt ngạc nhiên. “Chị biết dạo này mẹ thế nào rồi đấy,” cô giải thích nhưng chị dâu làm ra vẻ không hiểu cô đang nói gì. Nhưng thực ra cả gia đình đều biết tình trạng của mẹ dạo này. Có thể cô sẽ không tìm được mẹ.
(Shin Kyung Sook (2022), Hãy chăm sóc mẹ, Lý Hiệp Lâm – Lê Nguyễn Lê dịch, NXB Hà Nội, trang 13, 14.)
Chú thích: Câu chuyện kể về hành trình những đứa con của bà Park So Nyo tìm lại mẹ khi bà bị lạc. Trong quá trình đó, gia đình bà dần nhận ra những đau đớn, tổn thương, những bí mật khuất lấp của bà, và hiểu được tình yêu và sự hi sinh mà người mẹ này đã dành cho gia đình. Từ đó, tác phẩm mang đến thông điệp về tình yêu thương.
Nhân vật “tôi” xuất hiện trong đoạn trích này là con gái thứ ba – Chi-hon.
Câu 1: Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 2: Xác định điểm nhìn trong đoạn trích.
Câu 3: Đọc đoạn văn sau:
“Lúc mẹ bị xô tuột khỏi tay bố, cô đang cùng đồng nghiệp tham dự triển lãm sách tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch tiếng Trung cuốn sách của cô tại một quầy sách ở triển lãm.”
Biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng trong đoạn văn trên? Nêu tác dụng.
Câu 4: Những phẩm chất nào của người mẹ đã được thể hiện qua lời kể của người con gái trong tác phẩm? Chỉ ra câu văn thể hiện phẩm chất của người mẹ.
Câu 5: Chi-hon đã hối tiếc điều gì khi nhớ về mẹ? Viết đoạn văn 4-5 câu nêu suy nghĩ về những hành động vô tâm có thể khiến những người thân tổn thương.
câu 2
Lịch sử là dòng chảy không ngừng của thời gian, ghi lại những sự kiện đã qua, những bước thăng trầm của một dân tộc và của nhân loại. Thế nhưng, thực tế cho thấy nhiều người trong chúng ta thường thờ ơ với những bài giảng lịch sử khô khan, đầy mốc thời gian và sự kiện. Ngược lại, ta lại dễ dàng xúc động, thậm chí rơi nước mắt trước những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã nêu lên một suy ngẫm sâu sắc về cách con người tiếp nhận và cảm nhận lịch sử.Trước hết, cần hiểu rằng những bài giảng lịch sử trong sách vở thường được trình bày dưới dạng hệ thống hóa sự kiện, con số, ngày tháng. Cách tiếp cận này giúp người học nắm được kiến thức cơ bản nhưng lại thiếu đi hơi thở của cuộc sống và cảm xúc con người. Vì thế, nhiều học sinh cảm thấy lịch sử khô cứng, khó nhớ, khó tạo được sự rung động trong tâm hồn. Không phải lịch sử nhàm chán, mà là cách truyền tải lịch sử chưa chạm được đến trái tim người học.Ngược lại, khi lịch sử được kể thông qua số phận và câu chuyện của những con người cụ thể, cảm xúc trong ta lập tức được đánh thức. Đó là hình ảnh những người lính sẵn sàng hy sinh tuổi xuân nơi chiến trường, là những bà mẹ tiễn con ra trận với nước mắt lặng thầm, là những anh hùng ngã xuống để đất nước được độc lập, tự do. Chính những con người bằng xương bằng thịt ấy đã khiến lịch sử trở nên sống động, gần gũi và lay động lòng người. Ta xúc động không chỉ vì chiến thắng hay thất bại, mà vì những mất mát, đau thương và lý tưởng cao đẹp mà con người đã mang theo trong hành trình làm nên lịch sử.Hơn thế nữa, con người chính là trung tâm của lịch sử. Mọi sự kiện đều bắt nguồn từ hành động, lựa chọn và khát vọng của con người. Khi ta hiểu được nỗi đau, niềm tin, sự hy sinh của họ, ta mới thấu cảm được giá trị thật sự của lịch sử. Sự xúc động ấy không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, mà còn khơi dậy trong ta lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc.Tuy nhiên, ý kiến trên không có nghĩa là phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử. Vấn đề đặt ra là cần đổi mới cách dạy và học lịch sử, gắn kiến thức với câu chuyện con người, với trải nghiệm và cảm xúc. Khi lịch sử được kể bằng trái tim, người học sẽ không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử.Tóm lại, chúng ta có thể không dễ xúc động trước những trang sách ghi chép sự kiện, nhưng luôn rung động trước những con người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh để làm nên lịch sử. Chính sự xúc động ấy giúp lịch sử trở thành ký ức sống động, là hành trang tinh thần để mỗi thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục viết tiếp những trang sử mới cho dân tộc.
Câu 1:
Trong văn bản Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang ý nghĩa sâu sắc. Đất nước không được cảm nhận qua những khái niệm trừu tượng mà hiện ra từ những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, lớp học, áo cưới, những bàn tay lao động. Đó là đất nước của nhân dân, của những con người bình dị đã sống, chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn gắn liền với những mất mát đau thương do bom đạn gây ra, nhưng từ trong tàn phá ấy, con người vẫn kiên cường đứng lên, dựng xây cuộc sống mới. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sức sống bền bỉ, của sự hồi sinh mạnh mẽ sau chiến tranh. Không chỉ là quá khứ gian khổ, đất nước còn là hiện tại và tương lai, nơi các thế hệ tiếp nối truyền cho nhau “sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ”. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với những con người đã làm nên lịch sử dân tộc, đồng thời khơi gợi ở người đọc ý thức trách nhiệm trong việc trân trọng hòa bình và xây dựng đất nước hôm nay.
Câu 2:
Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, gợi cho mỗi người suy nghĩ về cách cảm nhận lịch sử và giá trị con người trong dòng chảy của thời gian.
Lịch sử thường được truyền đạt qua sách vở, bài giảng với những mốc thời gian, sự kiện, con số cụ thể. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những dữ kiện khô khan, lịch sử rất dễ trở nên xa cách và khó chạm tới cảm xúc con người. Điều khiến chúng ta thực sự xúc động không phải là ngày tháng hay tên gọi của một trận đánh, mà là số phận, là cuộc đời, là sự hy sinh thầm lặng của những con người đã trực tiếp sống và làm nên lịch sử ấy. Chính con người đã thổi hồn vào lịch sử, khiến lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa.
Những người làm nên lịch sử có thể là những anh hùng được ghi danh, nhưng cũng có thể là những con người vô danh, bình dị. Đó là người lính ngã xuống nơi chiến trường, là người mẹ tiễn con ra trận, là em bé lớn lên giữa bom đạn hay người phụ nữ cần mẫn hậu phương. Khi ta hiểu được những đau thương, mất mát, khát vọng và niềm tin của họ, lịch sử không còn là câu chuyện của quá khứ xa xôi mà trở thành câu chuyện của con người, của trái tim. Chính điều đó tạo nên sự xúc động sâu sắc và bền lâu.
Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và dạy lịch sử. Lịch sử sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được kể bằng những câu chuyện đời người, bằng cảm xúc và sự đồng cảm. Khi hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của bao thế hệ, con người sẽ biết trân trọng hiện tại và sống có trách nhiệm hơn với tương lai. Sự xúc động trước những người làm nên lịch sử chính là nền tảng để hình thành lòng yêu nước chân thành, không sáo rỗng.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc cảm nhận lịch sử qua con người càng trở nên quan trọng. Điều đó giúp mỗi cá nhân nhận ra rằng lịch sử không chỉ thuộc về quá khứ, mà đang tiếp tục được viết nên bằng chính hành động, lựa chọn và trách nhiệm của mình trong hiện tại. Khi biết trân trọng những người đi trước, con người sẽ có động lực sống tốt hơn, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Tóm lại, ý kiến trên đã khẳng định vai trò trung tâm của con người trong lịch sử. Lịch sử trở nên xúc động và có sức lay động không phải bởi những trang sách, mà bởi những con người đã sống, hy sinh và cống hiến cho dân tộc. Nhận thức đúng điều đó giúp chúng ta học lịch sử bằng trái tim, từ đó nuôi dưỡng lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm đối với đất nước.