PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )
Đọc văn bản sau:
NHÀN
Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)
* Chú thích:
(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.
(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn( giữa cuộc đời này).
(3) Cội cây: gốc cây.
(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)



Mọi người giúp em với ạ, giải chi tiết giúp em với :( em thật sự không hiểu mà tuần sau em thi r. Giúp em với m.ng aa
câu 1 thất ngôn bát cú đường luật
câu2
5 Từ văn bản trên, có thể cảm nhận rõ vẻ đẹp nhân cách thanh cao, kiên định của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là người có cốt cách hơn người, dũng cảm từ bỏ chốn quan trường đầy rẫy bon chen, thị phi để tìm về cuộc sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên. Lối sống "một mai, một cuốc, một cần câu" thể hiện sự đạm bạc, không màng danh lợi, giữ trọn sự trong sạch của bản thân. Quan niệm "dại – khôn" độc đáo cho thấy ông là người có trí tuệ uyên thâm, nhìn thấu sự đời, đề cao giá trị tinh thần và sự tự tại trong tâm hồn hơn mọi vinh hoa phú quý.
Câu 1 : Xác định thể thơ của văn bản trên.
→ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (thơ Nôm, 8 câu, mỗi câu 7 chữ).
Câu 2 : Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
→ Các hình ảnh: một mai, một cuốc, một cần câu; thơ thẩn; thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao; rượu đến cội cây ta sẽ uống… (cuộc sống giản dị, hòa hợp thiên nhiên, không bon chen).
Câu 3 : Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu:
"Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào".
→ Biện pháp liệt kê (điệp từ "một") → Nhấn mạnh cuộc sống đơn sơ, thanh đạm nhưng tự do, ung dung; tạo nhịp điệu khoan thai, thể hiện tâm thế "thơ thẩn" bất chấp người đời.
Câu 4 : Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu:
"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao" có gì đặc biệt?
→ Đặc biệt ở chỗ: tác giả tự nhận mình "dại" (tìm nơi vắng vẻ, ẩn dật), còn người đời cho là "khôn" (đến chốn lao xao – bon chen danh lợi). Nhưng thực chất đây là nghịch lý: "dại" mới là khôn ngoan thực sự (giữ nhân cách, tránh thị phi), "khôn" mới là dại (đuổi theo phù du).
Câu 5 : Cảm nhận về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm (viết đoạn văn ngắn 5–7 dòng).
→ Có thể nêu: Ông là bậc đại trí ẩn dật, coi thường phú quý (như giấc chiêm bao), sống thanh cao, đạm bạc, hòa mình với thiên nhiên, giữ gìn nhân cách trong thời loạn lạc, thể hiện khí phách nhà nho chân chính.