Cơ chế xác định giới tính ở người giải thích tỉ lệ 1 nam; 1 nữ của kết cấu dân số
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
x^2 − 3x − 1 = 0
Theo Viète
x1 + x2 = 3
x1x2 = −1
A = x1^2 − 3x2^2 + 12x2
Vì x1 là nghiệm nên
x1^2 = 3x1 + 1
Thay vào A
A = (3x1 + 1) − 3(3x2 + 1) + 12x2
A = 3x1 + 1 − 9x2 − 3 + 12x2
A = 3x1 + 3x2 − 2
A = 3(x1 + x2) − 2
A = 3·3 − 2
A = 7
Kí hiệu:
a = BC, b = CA, c = AB, nên tam giác ABC vuông tại A có
a² = b² + c², với b > c.
Gọi
r = AE = AF = ID = IE
là bán kính đường tròn nội tiếp.
Vì tam giác vuông tại A nên
r = (b + c - a)/2.
Ngoài ra:
CE = CD = b - r = (a + b - c)/2.
Ta còn gọi
T = AI ∩ BC.
a) Chứng minh I, E, C, D cùng thuộc một đường tròn
Ta có:
IE ⟂ AC, mà E thuộc AC
nên góc IEC = 90°.
Lại có:
ID ⟂ BC, mà D thuộc BC
nên góc IDC = 90°.
Suy ra
góc IEC + góc IDC = 180°.
Vậy tứ giác IECD nội tiếp.
Đpcm.
b) Gọi K, O lần lượt là trung điểm của AB và BC. Chứng minh K, O, S thẳng hàng
Vì K là trung điểm AB, O là trung điểm BC nên trong tam giác ABC ta có
KO // AC. (1)
Vì thế, để chứng minh K, O, S thẳng hàng, chỉ cần chứng minh S nằm trên đường thẳng qua O song song AC.
Gọi U là giao điểm của AI với đường thẳng qua O song song AC.
Ta sẽ chứng minh U trùng S.
Trong tam giác ABC, vì AI là phân giác góc A nên theo định lí phân giác:
BT/TC = AB/AC = c/b
suy ra
TC = ab/(b + c). (2)
Xét tam giác ACT, đường thẳng DES cắt AC tại E, cắt CT tại D, cắt AT tại S.
Theo hệ thức tỉ số trên tam giác ACT:
CE/EA . AS/ST . TD/DC = 1
hay
AS/ST = EA/CE . DC/TD.
Mà
EA = r, CE = CD = b - r
nên
AS/ST = r/TD. (3)
Bây giờ ta tính TD:
TD = CD - CT
= (b - r) - ab/(b + c).
Thay r = (b + c - a)/2 vào:
TD = (a + b - c)/2 - ab/(b + c)
= [(a + b - c)(b + c) - 2ab] / [2(b + c)]
= [ab + ac + b² - c² - 2ab] / [2(b + c)]
= [ac - ab + b² - c²] / [2(b + c)]
= [(b - c)(b + c - a)] / [2(b + c)]
= r(b - c)/(b + c).
Từ (3) suy ra
AS/ST = (b + c)/(b - c). (4)
Bước 2. Tính tỉ số AU/UTVì O là trung điểm BC nên
CO = a/2.
Từ (2):
TO = TC - CO
= ab/(b + c) - a/2
= a(b - c)/[2(b + c)]. (5)
Do OU // AC, trong tam giác TCA ta có
TU/TA = TO/TC.
Thay (2), (5) vào:
TU/TA = [a(b - c)/2(b + c)] / [ab/(b + c)]
= (b - c)/(2b).
Suy ra
AU/UT = (b + c)/(b - c). (6)
Từ (4) và (6), lại do S, U cùng thuộc tia AT, nên
S ≡ U.
Vậy S nằm trên đường thẳng qua O song song AC.
Kết hợp với (1), suy ra
K, O, S thẳng hàng.
Đpcm.
c) Gọi M = KI ∩ AC. Đường thẳng AH cắt DE tại N. Chứng minh góc HNM = góc EMN
Ta sẽ chứng minh
AM = AN.
Khi đó tam giác AMN cân tại A, suy ra
góc ANM = góc AMN.
Vì A, H, N thẳng hàng và A, E, M thẳng hàng nên
góc HNM = góc ANM = góc AMN = góc EMN.
Vậy chỉ cần chứng minh AM = AN.
Bước 1. Chứng minh AM = CETa có:
IF // AC, vì IF ⟂ AB mà AC ⟂ AB.
Lại có:
KF cùng phương KA, và KM cùng phương KI.
Xét hai tam giác KFI và KAM:
góc KFI = 90° = góc KAMgóc KIF = góc KMAnên
tam giác KFI đồng dạng tam giác KAM.
Suy ra
AM/KA = FI/KF
hay
AM = KA . FI / KF.
Mà:
KA = AB/2 = c/2,
FI = r,
KF = KA - AF = c/2 - r.
Do đó
AM = (c/2 . r)/(c/2 - r)
= cr/(c - 2r).
Vì 2r = b + c - a nên
c - 2r = a - b,
suy ra
AM = cr/(a - b). (7)
Ta chứng minh biểu thức này bằng CE:
CE = b - r = (a + b - c)/2.
Cần chứng minh
cr/(a - b) = (a + b - c)/2.
Thay 2r = b + c - a, vế trái trở thành
c(b + c - a)/[2(a - b)].
Do
(a + b - c)(a - b)
= a² - b² - ac + bc
= c² - ac + bc
= c(b + c - a),
nên quả thật
c(b + c - a)/[2(a - b)] = (a + b - c)/2 = CE.
Từ đó suy ra
AM = CE. (8)
Bước 2. Chứng minh AN = CEXét tam giác ACH.
Vì AH là đường cao của tam giác vuông ABC nên
CH = AC²/BC = b²/a. (9)
Trong tam giác ACH, đường thẳng DEN cắt AC tại E, cắt CH tại D, cắt AH tại N.
Theo hệ thức tỉ số trên tam giác ACH:
CE/EA . AN/NH . HD/DC = 1.
Mà
EA = r, CE = CD = b - r
nên
AN/NH = r/HD. (10)
Từ (9):
HD = CH - CD
= b²/a - (b - r).
Thay r = (b + c - a)/2:
HD = b²/a - (a + b - c)/2
= [2b² - a(a + b - c)]/(2a)
= [b² - c² - ab + ac]/(2a)
= [(b - c)(b + c - a)]/(2a)
= r(b - c)/a.
Thế vào (10):
AN/NH = a/(b - c). (11)
Mặt khác N nằm trên tia AH nên
AN = AH + HN.
Từ (11) suy ra
AN/(AN - AH) = a/(b - c).
Giải ra:
AN = a.AH/(a - b + c).
Lại có
AH = AB.AC/BC = bc/a,
nên
AN = bc/(a - b + c). (12)
Ta dùng hằng đẳng thức:
(a + b - c)(a - b + c)
= a² - (b - c)²
= b² + c² - (b² - 2bc + c²)
= 2bc.
Từ đó
bc/(a - b + c) = (a + b - c)/2 = CE.
Kết hợp với (12), ta được
AN = CE. (13)
Bước 3. Kết luậnTừ (8) và (13):
AM = CE = AN
suy ra
AM = AN.
Vậy tam giác AMN cân tại A, nên
góc ANM = góc AMN.
Do A, H, N thẳng hàng và A, E, M thẳng hàng, suy ra
góc HNM = góc ANM = góc AMN = góc EMN.
Đpcm.
Bài giải
V1. Cho phương trình x² - 4x + 1 = 0 có hai nghiệm x₁, x₂. Tính
A = √(2x₁⁴ + 8x₁ + 9) - 5x₁
Vì x₁ là nghiệm của phương trình nên:
x₁² - 4x₁ + 1 = 0
=> x₁² = 4x₁ - 1
Ta có:
x₁⁴ = (x₁²)² = (4x₁ - 1)²
= 16x₁² - 8x₁ + 1
= 16(4x₁ - 1) - 8x₁ + 1
= 64x₁ - 16 - 8x₁ + 1
= 56x₁ - 15
Suy ra:
2x₁⁴ + 8x₁ + 9
= 2(56x₁ - 15) + 8x₁ + 9
= 112x₁ - 30 + 8x₁ + 9
= 120x₁ - 21
Mặt khác:
(5x₁ + 2)² = 25x₁² + 20x₁ + 4
= 25(4x₁ - 1) + 20x₁ + 4
= 100x₁ - 25 + 20x₁ + 4
= 120x₁ - 21
Vậy:
2x₁⁴ + 8x₁ + 9 = (5x₁ + 2)²
Do đó:
√(2x₁⁴ + 8x₁ + 9) = |5x₁ + 2|
Lại có:
x₁ + x₂ = 4, x₁x₂ = 1 > 0
Vì tổng dương, tích dương nên x₁, x₂ đều dương.
Suy ra 5x₁ + 2 > 0, nên:
|5x₁ + 2| = 5x₁ + 2
Vậy:
A = 5x₁ + 2 - 5x₁ = 2
Đáp số: A = 2
V2. Cho phương trình x² - 3x - 1 = 0 có hai nghiệm x₁, x₂ (biết x₁ < x₂). Tính
A = √(x₁⁴ - 25x₁ - 5) + 2x₁
Vì x₁ là nghiệm của phương trình nên:
x₁² - 3x₁ - 1 = 0
=> x₁² = 3x₁ + 1
Ta có:
x₁⁴ = (x₁²)² = (3x₁ + 1)²
= 9x₁² + 6x₁ + 1
= 9(3x₁ + 1) + 6x₁ + 1
= 27x₁ + 9 + 6x₁ + 1
= 33x₁ + 10
Suy ra:
x₁⁴ - 25x₁ - 5
= (33x₁ + 10) - 25x₁ - 5
= 8x₁ + 5
Mặt khác:
(2x₁ - 1)² = 4x₁² - 4x₁ + 1
= 4(3x₁ + 1) - 4x₁ + 1
= 12x₁ + 4 - 4x₁ + 1
= 8x₁ + 5
Vậy:
x₁⁴ - 25x₁ - 5 = (2x₁ - 1)²
Do đó:
√(x₁⁴ - 25x₁ - 5) = |2x₁ - 1|
Lại có:
x₁ + x₂ = 3, x₁x₂ = -1 < 0
Tích âm nên hai nghiệm trái dấu.
Vì x₁ < x₂ nên x₁ là nghiệm âm.
Suy ra:
2x₁ - 1 < 0
nên
|2x₁ - 1| = -(2x₁ - 1) = 1 - 2x₁
Vậy:
A = (1 - 2x₁) + 2x₁ = 1
Đáp số: A = 1
Nhân vật ông lão trong truyện Sự tích Ngũ Hành Sơn để lại cho em nhiều ấn tượng đẹp. Ông là người hiền hậu, tốt bụng và giàu lòng nhân ái. Khi thấy quả trứng lạ, ông đã mang về nuôi nấng và chăm sóc cẩn thận. Điều đó cho thấy ông có tấm lòng yêu thương và luôn sẵn sàng giúp đỡ những điều yếu ớt, nhỏ bé. Ông còn là người sống giản dị, cần cù và chất phác. Nhờ tấm lòng tốt của ông, câu chuyện đã mở ra những điều kì diệu dẫn đến sự ra đời của Ngũ Hành Sơn. Hình ảnh ông lão khiến em cảm nhận được vẻ đẹp của con người lao động bình thường nhưng giàu tình thương. Qua nhân vật này, tác giả muốn ca ngợi lòng nhân hậu và đức tính tốt đẹp của con người. Ông lão chính là hình ảnh tiêu biểu cho những con người hiền lành, giàu lòng tốt trong cuộc sống.
Câu 1:
- -Chủ đề trung tâm (ý chính ở giữa).
- -Các nhánh chính (ý lớn tỏa ra từ chủ đề).
- -Các nhánh phụ / từ khóa (ý nhỏ bổ sung cho nhánh chính).
- -Hình ảnh, màu sắc, kí hiệu (giúp minh họa và dễ nhớ).
=>Bởi vì màu sắc giúp phân biệt các nhánh thông tin, làm sơ đồ dễ nhìn, dễ ghi nhớ và thu hút hơn, đồng thời giúp não bộ ghi nhớ và liên tưởng nhanh hơn.
Một sơ đồ tư duy hoàn chỉnh thường bao gồm: Chủ đề trung tâm (Tâm điểm), Các nhánh (Nhánh chính/nhánh phụ), và Từ khóa (Keywords). Ngoài ra, hình ảnh và màu sắc cũng là thành phần quan trọng. Màu sắc giúp não bộ ghi nhớ hiệu quả hơn, phân loại thông tin trực quan, dễ hiểu và tạo sự thu hút
Vùng Bắc Trung Bộ có nhiều thế mạnh về tài nguyên đất, địa hình, nguồn nước và biển đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Về tài nguyên đất, vùng có diện tích đất nông nghiệp khá lớn ở các đồng bằng ven biển và các thung lũng sông, thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và phát triển chăn nuôi, ngoài ra vùng đồi núi rộng còn thích hợp trồng rừng, phát triển lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm. Về địa hình, Bắc Trung Bộ có sự phân hóa rõ rệt giữa núi, đồi, đồng bằng và ven biển, tạo điều kiện phát triển đa dạng các ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, giao thông vận tải và du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng. Về nguồn nước, hệ thống sông ngòi khá dày đặc như sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Hương giúp cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, đồng thời thuận lợi phát triển thủy điện và nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Về biển đảo, vùng có bờ biển dài, nhiều đầm phá và ngư trường giàu nguồn lợi hải sản, tạo điều kiện phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, phát triển các cảng biển, giao thông vận tải biển và du lịch biển đảo, góp phần thúc đẩy kinh tế của toàn vùng.




Thì quy hoạch gia đình, tính số dân trong gia đình và tổng lại số dân một vùng, lọc năm và nữ, và cứ tiếp tục...