Biến đổi khí hậu làm gia tăng những loại thiên tai nào ở Bắc Trung Bộ?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Ô nhiễm môi trường biển:
- Hoạt động công nghiệp và cảng biển: Các vụ tràn dầu từ tàu chở dầu, giàn khoan (ví dụ: Quy Nhơn 2021) và chất thải từ các cảng biển.
- Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản: Việc nuôi trồng thủy sản ven bờ ồ ạt, sử dụng thuốc và thức ăn dư thừa, cùng hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.
- Phát triển du lịch: Chất thải từ du lịch chưa được xử lý triệt để xả thẳng ra biển.
- Tự nhiên: Sự bào mòn, sạt lở đồi núi, triều cường dâng cao mang theo chất độc hại, và tác động của núi lửa ngầm.
- Suy giảm tài nguyên biển:
- Khai thác quá mức: Đánh bắt thủy sản bằng lưới mắt nhỏ, chất nổ, hóa chất làm cạn kiệt nguồn lợi.
- Huỷ hoại môi trường sống: Rạn san hô, rừng ngập mặn bị tàn phá do ô nhiễm và khai thác, làm mất nơi cư trú của sinh vật biển.
- Biến đổi khí hậu: Nước biển dâng và nhiệt độ nước tăng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái biển. www.sonha.net.vn +4
- Phong trào Đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, vì:
+ Giáng đòn mạnh mẽ vào chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm.
+ Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Phong trào Đồng khởi (1959–1960) được xem là bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam vì:
- Từ thế giữ gìn lực lượng, đấu tranh chính trị là chính, cách mạng miền Nam đã chuyển sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến công địch.
- Phong trào đã làm tan rã từng mảng bộ máy chính quyền cơ sở của Mĩ – Diệm, nhiều vùng nông thôn được giải phóng.
- Nhân dân giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.
- Kết quả quan trọng là sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), tạo điều kiện để cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ
=> Vì vậy, Đồng khởi đã đưa cách mạng miền Nam từ thế phòng ngự sang thế tiến công, mở ra thời kì đấu tranh mới.
1. Mở bài (Introduction)
- Dẫn dắt (Khơi gợi): Đi từ đề tài (quê hương, tình yêu, người lính...), một nhận định văn học, hoặc giới thiệu trực tiếp tác giả.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nêu vị trí của tác giả trong nền văn học và hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ (nếu có).
- Vấn đề nghị luận: Nêu nội dung bao quát hoặc đoạn thơ cần phân tích.
2. Thân bài (Body)
Phần này bạn có thể chia theo bố cục bài thơ (phân tích dọc) hoặc theo các luận điểm nội dung (phân tích ngang). Thông thường, chia theo bố cục là cách an toàn và dễ theo dõi nhất.
Bước 1: Khái quát chung
- Nêu cảm nhận chung về mạch cảm xúc của bài thơ.
- Giải thích ý nghĩa nhan đề (nếu đề bài yêu cầu hoặc nhan đề quá đặc biệt).
Bước 2: Phân tích chi tiết (Trọng tâm)
Với mỗi đoạn thơ, bạn hãy khai thác theo công thức: Nghệ thuật $\rightarrow$ Nội dung.
- Khai thác từ ngữ: Những động từ mạnh, tính từ đắt giá, từ láy...
- Khai thác hình ảnh: Hình ảnh thực hay hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng?
- Biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đối lập... (Nêu rõ tác dụng: giúp câu thơ sinh động hay nhấn mạnh nỗi đau/niềm vui?).
- Nhịp điệu và âm hưởng: Nhịp thơ nhanh hay chậm? Âm điệu thiết tha, hào hùng hay trầm lắng?
Bước 3: Đánh giá nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Bài thơ thể hiện vẻ đẹp gì của con người/thiên nhiên? Thông điệp nhân sinh mà tác giả gửi gắm là gì?
- Nghệ thuật: Sự sáng tạo riêng của tác giả (thể thơ, cách gieo vần, ngôn ngữ đậm chất cá nhân).
3. Kết bài (Conclusion)
- Khẳng định giá trị: Tác phẩm có vị trí thế nào trong lòng độc giả hoặc trong sự nghiệp của tác giả?
- Cảm xúc cá nhân: Bài thơ để lại trong bạn suy nghĩ hay bài học gì?
Chào bạn! Đừng lo, chuyện "học nhiều quá hóa lú" là bình thường mà. Đảo ngữ (Inversion) thực ra chỉ là một cách "nhấn mạnh" bằng cách đưa trợ động từ hoặc một cụm từ đặc biệt lên trước chủ ngữ thôi.
Nó giống như việc thay vì nói "Tôi không bao giờ làm thế," mình lại nói "Không đời nào tôi làm thế!" để nghe cho nó... kịch tính hơn vậy.
Dưới đây là các cấu trúc đảo ngữ phổ biến nhất mà bạn cần nhớ:
1. Đảo ngữ với trạng từ phủ định (Phổ biến nhất)
Khi các từ mang nghĩa "không" hoặc "hiếm khi" đứng đầu câu, chúng ta phải mượn trợ động từ (do/does/did/have/has...) đưa lên trước chủ ngữ.
- Các từ thường gặp: Never, Rarely, Seldom, Hardly, Little.
- Cấu trúc:
Trạng từ phủ định + Trợ động từ + S + V
Ví dụ:
- Bình thường: I have never seen such a beautiful girl.
- Đảo ngữ: Never have I seen such a beautiful girl. (Chưa bao giờ tôi thấy cô gái nào đẹp như vậy.)
2. Cấu trúc "Ngay khi... thì..."
Đây là "đặc sản" trong các bài kiểm tra. Bạn cứ nhớ cặp bài trùng này nhé:
- Hardly / Scarcely + had + S + V3 + WHEN + S + V2
- No sooner + had + S + V3 + THAN + S + V2
Ví dụ:
- Hardly had I arrived home when it rained. (Ngay khi tôi vừa về đến nhà thì trời mưa.)
- No sooner had I arrived home than it rained.
3. Đảo ngữ với "Only"
Cái này hơi lắt léo một chút: Nếu "Only" đi với trạng từ chỉ thời gian, chúng ta chỉ đảo ngữ ở mệnh đề chính (mệnh đề phía sau).
- Only when / Only after / Only if + Mệnh đề + [Trợ động từ + S + V]
Ví dụ:
- Only when you grow up do you understand your parents. (Chỉ khi lớn lên bạn mới thấu hiểu bố mẹ mình.)
4. Đảo ngữ với câu điều kiện (Bỏ "If")
Thay vì dùng "If", chúng ta đưa trợ động từ lên đầu câu để câu văn trang trọng hơn.
Loại câu | Cấu trúc đảo ngữ | Ví dụ |
Loại 1 |
| Should you need help, call me. |
Loại 2 |
| Were I you, I would buy it. |
Loại 3 |
| Had I known, I would have come. |
5. Đảo ngữ với "So" và "Such"
Dùng để nhấn mạnh mức độ của sự việc.
- So + Tính từ + Trợ động từ + S + that...
- Such + be + Cụm danh từ + that...
Ví dụ:
- So hot was the weather that we couldn't go out. (Trời nóng đến mức chúng tôi không thể ra ngoài.)
- Such was the storm that many trees were blown down. (Trận bão khủng khiếp đến mức nhiều cây bị đổ.)
Đảo ngữ hay đổi trật tự từ trong câu để nhấn mạnh ý, tạo cảm xúc hoặc làm câu văn hay hơn.
VD: Khi chưa đảo ngữ :
- - Mặt trời mọc ở đằng đông.
- Khi đảo ngữ :
- -Ở đằng đông, mặt trời mọc.
a: THay m=1 vào phương trình, ta được:
\(x^2+\left(4-4\cdot1\right)\cdot x-8\cdot1+4=0\)
=>\(x^2-4=0\)
=>\(x^2=4\)
=>x=2 hoặc x=-2
b: \(\Delta=\left(4-4m\right)^2-4\cdot1\cdot\left(-8m+4\right)\)
\(=16m^2-32m+16+32m-16=16m^2\ge0\forall m\)
=>Phương trình luôn có hai nghiệm là:
\(\left[\begin{array}{l}x=\frac{-4+4m-\sqrt{16m^2}}{2\cdot1}=\frac{-4+4m-4m}{2}=\frac{-4}{2}=-2\\ x=\frac{-4+4m+\sqrt{16m^2}}{2\cdot1}=\frac{-4+4m+4m}{2}=\frac{8m-4}{2}=4m-2\end{array}\right.\)
\(\sqrt{x_1}-5=x_2\)
=>\(\sqrt{4m-2}-5=-2\)
=>\(\sqrt{4m-2}=3\)
=>4m-2=9
=>4m=11
=>m=11/4(nhận)
a) Do A và B thuộc đường trung trực của IM => AIB = AMB
AMB = ACB=180°-AHB
=> Tứ giác AIBH nội tiếp
b) => IHB=IAB
Tương tự câu a) => AKCH nội tiếp => KHC=KAC
BHC=180°-BAC=180°-IAB-KAC=> BHC+IHB+KHC=180° =>ĐPCM
a: Xét (O) có
ΔBDC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBDC vuông tại D
=>CD⊥AB tại D
Xét (O) có
ΔBEC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBEC vuông tại E
=>BE⊥AC tại E
Xét ΔABC có
\(\hat{ABC}+\hat{ACB}+\hat{BAC}=180^0\)
=>\(\hat{ACB}=180^0-60^0-70^0=50^0\)
Vì B,D,E,C cùng thuộc (O)
nên BDEC là tứ giác nội tiếp
=>\(\hat{BDE}+\hat{BCE}=180^0\)
=>\(\hat{BDE}=180^0-50^0=130^0\)
BDEC là tứ giác nội tiếp
=>\(\hat{DEC}+\hat{DBC}=180^0\)
=>\(\hat{DEC}=180^0-70^0=110^0\)
b: Xét tứ giác ADHE có \(\hat{ADH}+\hat{AEH}=90^0+90^0=180^0\)
nên ADHE là tứ giác nội tiếp
