K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. CÂY ĐA Làng em có cây đa Bên mương nước giữa đồng Lá xanh dòng nước bạc Biển lúa vàng mênh mông Cây đa gọi gió đến Cây đa vẫy chim về Đa mỗi ngày một lớn Và nuôi thêm nhiều ve Dưới bóng đa, con trâu Thong thả nhai hương lúa...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

CÂY ĐA

Làng em có cây đa
Bên mương nước giữa đồng
Lá xanh dòng nước bạc
Biển lúa vàng mênh mông

Cây đa gọi gió đến
Cây đa vẫy chim về
Đa mỗi ngày một lớn
Và nuôi thêm nhiều ve

Dưới bóng đa, con trâu
Thong thả nhai hương lúa
Đủng đỉnh đàn bò về
Lông hồng như đốm lửa

Trưa nắng loé trên đầu
Các bác làm nghỉ mát
Vòm đa rì rào xanh
Ve kêu, muôn lá quạt...

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, 1968)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (trình bày ngắn gọn)

Câu 1. Chỉ ra vần được gieo trong khổ thơ đầu của bài thơ.

Câu 2. Cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật nào?

Câu 3. Bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.

Câu 5. Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì về quê hương mình? Em sẽ làm gì để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương? (Trình bày khoảng 5 − 7 câu)

34
1. Chỉ ra vần được gieo trong khổ thơ đầu của bài thơ.  Answer: Vần "a" và "ông"
Trong khổ thơ đầu, các từ cuối dòng gieo vần với nhau: "đa" (dòng 1) và "lá" (dòng 3) gieo vần "a". "Đồng" (dòng 2) và "mông" (dòng 4) gieo vần "ông". 
2. Cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật nào?  Answer: Gió, chim, ve, trâu, bò, và người nông dân
Cây đa là nơi gọi gió đến, vẫy chim về, nuôi thêm nhiều ve. Dưới bóng đa, con trâu thong thả nhai hương lúa, đàn bò về, và các bác làm đồng nghỉ mát. 
3. Bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp như thế nào?  Answer: Bình yên, giàu sức sống và tươi sáng
Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp bình dị, yên ả qua hình ảnh mương nước, đồng lúa mênh mông, và cuộc sống sinh hoạt đời thường của người dân, trâu bò dưới bóng đa. Cảnh vật đầy màu sắc tươi sáng: lá xanh, nước bạc, lúa vàng, lông bò hồng như đốm lửa. 
4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.  Answer: Biện pháp nhân hóa
Trong khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa qua các từ "gọi", "vẫy", "nuôi" ("Cây đa gọi gió đến / Cây đa vẫy chim về / Và nuôi thêm nhiều ve"). Tác dụng là làm cho hình ảnh cây đa trở nên sống động, gần gũi, có hồn như một con người, thể hiện tình cảm gắn bó của tác giả với cây đa quê hương. 
5. Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì về quê hương mình? Em sẽ làm gì để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương? (Trình bày khoảng 5-7 câu)  Answer: Cảm xúc yêu mến, tự hào và ý thức bảo vệ vẻ đẹp quê hương
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi lên trong em tình yêu tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về vẻ đẹp bình dị, thanh bình của quê hương Việt Nam. Em cảm nhận được sự gắn bó máu thịt giữa con người và thiên nhiên, thấy được hồn quê mộc mạc, đáng quý. Để giữ gìn những vẻ đẹp này, em sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện bản thân để sau này góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp hơn. Đồng thời, em cũng sẽ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan xanh, sạch, đẹp của làng quê mình.
5 tháng 2

Câu 1.
Khổ thơ đầu gieo vần “a” (đa – là – bạc – vàng [vần lưng gần]).

Câu 2.
Cây đa trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho chim, ve, trâu, bò và con người (các bác nông dân nghỉ mát).

Câu 3.
Bức tranh làng quê hiện lên yên bình, trù phú và giàu sức sống, với cây đa xanh mát, dòng nước trong, biển lúa vàng và con người lao động hiền hòa.

Câu 4.
Trong khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa qua các hình ảnh “cây đa gọi gió đến”, “cây đa vẫy chim về”. Biện pháp này làm cho cây đa trở nên gần gũi, có hồn, như một người bạn thân thiết của làng quê.

Câu 5.
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em cảm xúc yêu thương, gắn bó và tự hào về quê hương mình. Quê hương hiện lên giản dị nhưng rất đỗi ấm áp và yên bình. Em cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên hòa quyện với cuộc sống con người. Điều đó khiến em thêm trân trọng những gì quê hương đang có. Để giữ gìn vẻ đẹp ấy, em sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, chăm sóc cây xanh. Đồng thời, em sẽ tuyên truyền cho mọi người cùng chung tay giữ gìn quê hương ngày càng xanh, sạch, đẹp.

Hoàn toàn được bạn nhé! Việc không viết tên thật, sử dụng biệt danh như "Bông hoa nhỏ" gửi cho "Cỏ bốn lá" làm cho bức thư trở nên bí ẩn, lãng mạn và đáng yêu hơn rất nhiều. Đây là cách xưng hô tuyệt vời để tạo điểm nhấn đặc biệt cho nội dung bạn muốn gửi gắm. Gợi ý cách viết:
  • Người nhận: Gửi Cỏ bốn lá xinh đẹp/may mắn,
  • Người gửi: Từ Bông hoa nhỏ (luôn hướng về phía cậu).
Bạn có thể tự do sáng tạo nội dung mà không cần lo lắng về việc phải dùng tên thật.

thư upu thì không bạn nhé! lỡ bạn đc giải thì họ ko có cách nào để liên lạc bạn đâu!

5 tháng 2

Trong buổi sớm tinh khôi, hai cha con thong thả đi dạo trên bãi cát vàng óng ả. Sóng biển rì rào vỗ bờ, những cánh buồm trắng thấp thoáng ngoài khơi khiến cậu bé mê mẩn. Bàn tay to lớn của người cha nắm chặt tay con, vừa đi vừa kể cho con nghe về những chuyến ra khơi của người dân chài và ước mơ lớn lao được khám phá biển cả. Gương mặt người cha nhuộm nắng gió vẫn ánh lên niềm tự hào khi nhìn những cánh buồm no gó. Cậu bé lằng nghe, đôi mắt háo hức như muốn theo những cánh buồm ra xa, nuôi dưỡng trong lòng khát vọng khám phá chân trời mới. Không khí biển mặn mòi, tiếng hải âu và sóng gió trở thành bức tranh sống động in sâu trong ký ức hai cha con.

Trong không gian bao la của buổi sớm mai, cảnh hai cha con dạo bước trên bờ biển hiện lên thật đẹp và bình yên. Sau trận mưa đêm, bầu trời như được gột rửa trở nên trong trẻo, rực rỡ dưới ánh bình minh, còn bãi cát thì mịn màng và lấp lánh như dát bạc. Người cha cao lớn dắt tay cậu con trai nhỏ nhắn bước đi trên nền cát ướt, để lại những dấu chân to, nhỏ đan xen nối dài như một sự tiếp nối giữa hai thế hệ. Ánh mặt trời rực rỡ phản chiếu lên mặt biển mênh mông, khiến vạn vật như bừng sáng trong sự giao hòa giữa đất trời. Trong khung cảnh tuyệt mĩ ấy, cuộc trò chuyện giữa cha và con trở nên thiêng liêng, mở ra những khát khao về những chân trời mới xa xôi phía sau làn nước xanh biếc.

5 tháng 2

Qua đoạn trích Thề nguyện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, em cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Thúy Kiều, đặc biệt trong tình yêu. Trước hết, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái giàu tình cảm, yêu hết mình và chân thành. Lời thề nguyền của Kiều không ồn ào, phô trương mà tha thiết, sâu lắng, thể hiện khát vọng về một tình yêu bền chặt, thủy chung. Bên cạnh đó, Kiều còn là người mạnh mẽ, dám chủ động bày tỏ tình cảm và ước mơ hạnh phúc của bản thân – điều rất đáng trân trọng trong xã hội phong kiến xưa. Đặc biệt, vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều còn thể hiện ở sự trong sáng, cao thượng khi nàng coi tình yêu là sự gắn bó bằng cả tấm lòng và danh dự. Chính vẻ đẹp ấy đã khiến Thúy Kiều trở thành hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng đầy nhân hậu trong văn học Việt Nam.

Tôi cùng câu hỏii

4 tháng 2

Tham khảo:

Hằng năm, cứ vào dịp đầu xuân, người dân địa phương và du khách thập phương lại nô nức về tham dự lễ hội Đền Đậu – một lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân gian. Lễ hội không chỉ thể hiện lòng thành kính đối với các bậc tiền nhân mà còn góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Đền Đậu là nơi thờ các vị thần có công bảo vệ quê hương, giúp dân làng có cuộc sống yên bình, ấm no. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày … tháng … âm lịch hằng năm (tùy địa phương), với sự tham gia đông đảo của nhân dân trong vùng và khách du lịch. Trước ngày hội, người dân đã chuẩn bị rất chu đáo từ việc trang hoàng đền thờ, sắp xếp lễ vật đến luyện tập các tiết mục văn nghệ và trò chơi dân gian.

Phần lễ diễn ra trang nghiêm và long trọng. Mở đầu là nghi thức rước kiệu từ đình làng về đền trong tiếng trống chiêng rộn rã. Đoàn rước gồm các cụ cao niên, đội tế lễ, đoàn múa lân, múa rồng và đông đảo người dân đi theo sau. Tiếp đó là nghi lễ dâng hương, tế lễ để bày tỏ lòng biết ơn, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Sau phần lễ là phần hội vô cùng sôi nổi và hấp dẫn. Nhiều trò chơi dân gian như kéo co, đấu vật, bịt mắt bắt dê, nhảy bao bố… được tổ chức, thu hút đông đảo người tham gia và cổ vũ. Ngoài ra còn có các tiết mục văn nghệ truyền thống như hát dân ca, múa lân, biểu diễn trống hội, tạo nên không khí vui tươi, náo nhiệt khắp không gian lễ hội.

Lễ hội Đền Đậu không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, gìn giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống. Thông qua lễ hội, mỗi người thêm hiểu và trân trọng hơn những giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương.

Lễ hội Đền Đậu vì thế đã trở thành một nét đẹp không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân địa phương, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.

DS
4 tháng 2

Lễ hội Đền Đậu là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian. Hằng năm, lễ hội được tổ chức long trọng vào ngày mồng 8 tháng Giêng âm lịch, thu hút đông đảo nhân dân địa phương và du khách thập phương về tham dự.

Đền Đậu là nơi thờ hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Phùng Hải, những người có công lớn trong cuộc đấu tranh chống ách đô hộ phương Bắc, bảo vệ non sông đất nước. Lễ hội được mở ra nhằm tưởng nhớ công lao của hai vị anh hùng, đồng thời thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Phần lễ của lễ hội diễn ra trang nghiêm và thành kính. Ngay từ sáng sớm, dân làng đã tề tựu đông đủ trước sân đền để tham gia các nghi thức truyền thống như lễ dâng hương, lễ rước kiệu và lễ tế. Những đoàn rước kiệu với cờ lọng rực rỡ, tiếng trống chiêng vang dội tạo nên không khí linh thiêng nhưng cũng rất náo nức. Các bô lão trong làng ăn mặc chỉnh tề, thực hiện nghi lễ theo đúng phong tục cổ truyền, thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân.

Bên cạnh phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi và hấp dẫn với nhiều trò chơi dân gian quen thuộc như đấu vật, kéo co, chọi gà, đánh cờ người… Những hoạt động này không chỉ mang lại niềm vui cho người tham gia mà còn góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của quê hương.

Lễ hội Đền Đậu không chỉ là dịp để người dân tưởng nhớ lịch sử, tri ân anh hùng dân tộc mà còn là cơ hội để gắn kết cộng đồng, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc. Qua bao thế hệ, lễ hội vẫn được gìn giữ và tổ chức đều đặn, trở thành một nét đẹp văn hóa bền vững của vùng quê Thường Tín nói riêng và của văn hóa Việt Nam nói chung.

ÔNG YẾT KIÊU (*)Thời nhà Trần có một người tên là Yết Kiêu, sức khỏe phi thường. Đặc biệt, ông bơi lội rất giỏi. Mỗi lần ông lặn xuống biển, người ta cứ tưởng như ông đi trên đất liền. Nhiều khi ông sống ở dưới nước sáu, bảy ngày mới lên.Hồi ấy, giặc Nguyên sang cướp nước ta. Chúng cho một trăm chiếc tàu lớn tiến vào cửa biển Vạn Ninh. Nhà vua sai sứ giả đi tìm người...
Đọc tiếp

ÔNG YẾT KIÊU (*)

Thời nhà Trần có một người tên là Yết Kiêu, sức khỏe phi thường. Đặc biệt, ông bơi lội rất giỏi. Mỗi lần ông lặn xuống biển, người ta cứ tưởng như ông đi trên đất liền. Nhiều khi ông sống ở dưới nước sáu, bảy ngày mới lên.

Hồi ấy, giặc Nguyên sang cướp nước ta. Chúng cho một trăm chiếc tàu lớn tiến vào cửa biển Vạn Ninh. Nhà vua sai sứ giả đi tìm người đánh giặc. Yết Kiêu bèn tìm đến, tâu vua rằng:

- Thần tuy tài hèn sức yếu nhưng cũng quyết cho lũ giặc vào bụng cá.

Vua hỏi:

- Nhà ngươi cần bao nhiêu người, bao nhiêu thuyền bè?

- Tâu bệ hạ, thần chỉ cần một cái dùi sắt, một chiếc búa – ông đáp.

Một mình ông lặn xuống biển, tìm đáy tàu giặc, đục thủng tàu. Tàu giặc đắm hết chiếc này đến chiếc khác. Quân giặc vô cùng sợ hãi.

Mãi về sau, giặc đem một cái ống nhòm thủy tinh có phép nhìn thấu qua nước, thấy ông đi lại thoăn thoắt như đi trên bộ. Chúng bèn đem cái vó bằng sắt, nhân lúc ông đang mải đục một chiếc tàu, buông xuống chụp lấy ông. Bắt được Yết Kiêu, giặc tra khảo ông:

- Nước Nam có bao nhiêu kẻ lặn được như ngươi?

Ông bảo chúng:

- Không kể những người đi lại dưới nước suốt mười ngày không lên, còn như hạng ta thì một trăm chiếc tàu của chúng bay cũng không chở hết.

Giặc dụ dỗ ông đưa chúng đi bắt những người khác. Ông giả vờ nghe theo, rồi thừa lúc chúng vô ý, nhảy xuống nước trốn đi. Bấy giờ quân giặc đã bị thiệt hại khá nặng, lại nghe nói nước Nam nhiều người có tài lặn nên đành phải quay tàu trở về, không dám quấy nhiễu nữa

                                       (Theo Vũ Nguyên Hành, Đại Nam kì nhân liệt truyện)

Chỉ ra ít nhất một chi tiết kì ảo có trong đoạn trích trên liên quan đến nhân vật Yết Kiêu. Theo em chi tiết đó có ý nghĩa như thế nào?

cứu với, ngày kia tôi nộp rồi

5
4 tháng 2

Chi tiết kì ảo:

- Yết Kiêu có thể lặn dưới nước sáu, bảy ngày mới lên.

- Ông đi lại dưới nước thoăn thoắt như đi trên bộ.

Ý nghĩa:
Những chi tiết kì ảo này nhằm ca ngợi sức khỏe phi thường, tài năng đặc biệt và lòng dũng cảm của Yết Kiêu, làm nổi bật hình ảnh một người anh hùng chống giặc, đồng thời thể hiện niềm tự hào và trí tưởng tượng phong phú của nhân dân khi xây dựng hình tượng nhân vật lịch sử.

Đại Bảo Lonh à

4 tháng 2

Để đứng vững và phát triển xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mỗi một quốc gia đều phải coi trọng việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Vai trò, ý nghĩa to lớn của bản sắc văn hóa đối với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của mỗi một dân tộc đã đặt ra vấn đề về vai trò của giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa.

Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa là điều cốt lõi mang tính đặc trưng, màu sắc riêng của mỗi một quốc gia, dân tộc; được hình thành và được vun đắp song song với quá trình dựng nước và giữ nước theo cả chiều đồng đại và lịch đại. Đó có thể là những giá trị về vật chất, cũng có thể là những giá trị văn hóa về tinh thần như phong tục tập quán, truyền thống văn hóa,.... Đối với dân tộc Việt Nam, những giá trị đó luôn bền vững, trường tồn theo thời gian như nền văn minh lúa nước, trống đồng Đông Sơn, tinh thần yêu nước mạnh mẽ, bền bỉ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, tinh thần "tương thân tương ái" giàu giá trị nhân văn, hay truyền thống đạo lí "uống nước nhớ nguồn", "ân nghĩa thủy chung",....

Bản sắc văn hóa có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với mỗi một quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc chính là cái gốc, cái hồn cốt lõi khẳng định sự tồn tại của mỗi một quốc gia, dân tộc. Điều này đã được Nguyễn Trãi - tác giả của áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo" sớm khẳng định trong giai đoạn lịch sử trung đại. Trong tác phẩm của mình, để nêu ra một khái niệm hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc, Nguyễn Trãi đã nêu ra năm yếu tố, trong đó có hai yếu tố về nền văn hiến và phong tục tập quán, thể hiện rõ sự ý thức sâu sắc về vai trò của bản sắc văn hóa. Không chỉ dừng lại ở đó, bản sắc còn là cái nôi nuôi dưỡng ý thức về quyền độc lập và ý thức gìn giữ non sông, đất nước đối với mỗi một con người. Trong vô vàn những quốc gia tồn tại bình đẳng với bức tranh đa dạng và muôn màu sắc, bản sắc chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng riêng, không thể hòa lẫn, hợp nhất giữa các đất nước.

Trong bối cảnh hòa nhập vào nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc càng được khẳng định hơn nữa và gắn bó mật thiết với trách nhiệm của thế hệ trẻ. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ thanh thiếu niên học sinh Việt Nam đã và đang phát huy bản sắc dân tộc bằng những việc làm tích cực. Mặc dù có sự du nhập và tác động từ văn hóa nước ngoài nhưng không ít bạn trẻ vẫn tìm về với những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc như những trò chơi dân gian, những loại hình văn hóa dân gian như ca trù, nhã nhạc cung đình,..., đặc biệt là không ngần ngại quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra thế giới. Trong phần thi về Trang phục dân tộc, Hoa hậu H'Hen Niê đã tỏa sáng với bộ quốc phục được lấy cảm hứng từ những chiếc bánh mì, mang theo niềm tự hào về thành tựu nông nghiệp của nước ta trên đấu trường nhan sắc quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong xã hội hiện nay, chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp những thanh niên với lối sống xa rời bản sắc dân tộc. Họ thờ ơ với những giá trị truyền thống ở cả vật chất cũng như tinh thần; và đề cao những giá trị văn hóa du nhập ở nước ngoài qua sự thần tượng, sính ngoại vượt ngưỡng cho phép. Chẳng hạn như việc các bạn trẻ vô tư sử dụng những ngôn từ nước ngoài xen kẽ vào tiếng Việt, tạo nên những cách diễn đạt khó hiểu và ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Những hành động đó đã vô tình tác động xấu đến việc duy trì, phát huy nền văn hóa dân tộc.

Thế hệ trẻ cần ý thức được vai trò, ý nghĩa của bản sắc dân tộc để nâng cao tinh thần gìn giữ những giá trị tốt đẹp này. Đồng thời, cần rèn luyện lối sống, những hành động tích cực phù hợp với những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc, bảo lưu, phát huy những giá trị riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng ta còn cần lên án, phê phán những hành vi làm mai một bản sắc dân tộc, và có thái độ đấu tranh mạnh mẽ để bài trừ và tẩy chay những hoạt động văn hóa không lành mạnh đang lan truyền với tốc độ chóng mặt trong xã hội hiện nay.

Như vậy, thế hệ trẻ là tầng lớp có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Là những học sinh được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của bản sắc dân tộc, chúng ta cần nỗ lực, cố gắng trong học tập, lao động để trở thành những công dân tốt, góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.

Bạn tham khảo nha.

Văn hóa truyền thống là linh hồn, là "tấm thẻ căn cước" để mỗi dân tộc khẳng định sự tồn tại của mình giữa dòng chảy mênh mông của lịch sử. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam không chỉ là trách nhiệm mà còn là một sứ mệnh cấp thiết. Trước hết, văn hóa truyền thống bao gồm những giá trị vật thể như đình đài, miếu mạo, danh lam thắng cảnh và những giá trị phi vật thể như phong tục tập quán, lễ hội, dân ca, nghệ thuật ẩm thực... Đó là kết tinh của trí tuệ, tâm hồn và cả xương máu của bao thế hệ cha ông để lại. Giữ gìn văn hóa chính là giữ gìn sợi dây liên kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giúp con người không bị mất gốc và luôn tự hào về nguồn cội của mình. Trong thời đại hội nhập, văn hóa còn là sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước. Những làn điệu Quan họ, tiếng đàn bầu hay tà áo dài duy nhất của Việt Nam chính là vũ khí sắc bén nhất để chúng ta "hòa nhập mà không hòa tan". Nếu mất đi bản sắc, chúng ta sẽ trở thành cái bóng nhạt nhòa của các cường quốc khác. Hơn nữa, việc phát huy văn hóa còn mang lại giá trị kinh tế to lớn thông qua du lịch và quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy một bộ phận giới trẻ đang thờ ơ với những giá trị xưa cũ. Nhiều lễ hội bị biến tướng, các loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng dần vắng bóng khán giả. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự chung tay của cả cộng đồng. Nhà trường cần đưa văn hóa vào giáo dục một cách sinh động; nhà nước cần có chính sách bảo tồn hiệu quả; và quan trọng nhất, mỗi cá nhân phải có ý thức tự học hỏi, trân trọng và lan tỏa những vẻ đẹp truyền thống ấy trên không gian số. Tóm lại, văn hóa còn thì dân tộc còn. Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa không phải là quay lưng với hiện đại, mà là xây dựng một nền tảng vững chắc để vươn xa hơn. Mỗi chúng ta hãy là một sứ giả văn hóa, bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như trân trọng tiếng Việt và yêu thương những phong tục đẹp của gia đình, quê hương.
4 tháng 2

Văn học hiện đại là giai đoạn văn học xuất hiện từ đầu thế kỷ XX đến nay, đặc trưng bởi sự đổi mới về tư duy, hình thức và ngôn ngữ nhằm phản ánh thực tại biến động của xã hội công nghiệp. Khác với văn học cổ điển thường tuân thủ các quy tắc ước lệ, văn học hiện đại tập trung vào: Cá nhân hóa: Đề cao cái tôi và thế giới nội tâm phức tạp của con người. Đa dạng phong cách: Xuất hiện nhiều trào lưu mới như lãng mạn, thực tiễn, và siêu thực. Ngôn ngữ đời thường: Sử dụng câu văn tự do, gần gũi với nhịp sống hiện đại.

Văn học hiện đại là giai đoạn văn học gắn liền với sự đổi mới về tư duy, nội dung và hình thức, thoát khỏi những quy phạm khắt khe của văn học cổ điển (văn học trung đại). Dưới đây là những đặc điểm ngắn gọn nhất:
  1. Thời điểm: Tại Việt Nam, văn học hiện đại bắt đầu từ đầu thế kỷ XX (khoảng sau năm 1900), khi chữ Quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm.
  2. Cái tôi cá nhân: Thay vì nói về cái "ta" chung chung hay đạo lý giáo điều, văn học hiện đại tập trung khai thác cảm xúc, tâm lý và đời sống riêng tư của cái tôi cá nhân.
  3. Hình thức mới: Xuất hiện các thể loại mới như tiểu thuyết hiện đại, thơ mới, kịch nói, phóng sự... Cách viết tự do, không bị gò bó bởi niêm luật, điển tích.
  4. Ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ đời thường, gần gũi với tiếng nói hằng ngày của nhân dân, thay cho lối nói ước lệ, tượng trưng ngày xưa.
  5. Tính đa dạng: Phản ánh đa chiều mọi mặt của đời sống, từ tình yêu, lý tưởng đến các vấn đề nhức nhối trong xã hội.


3 tháng 2

Thơ lục bát là thể thơ truyền thống Việt Nam, gồm các cặp câu 6 tiếng (lục) và 8 tiếng (bát) luân phiên

4 tháng 2

Thơ lục bát là thể thơ sáu tám, tức là câu đầu tiên gồm 6 từ câu nối tiếp theo gồm 8 từ. Cách gieo vần của thơ lục bát là vần chân và vần lưng.

Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

Gieo vần lưng: này - cày

Gieo vần chân(ta - gia)


4 tháng 2

Em điền đầy đủ câu hỏi nha

4 tháng 2

Thơ lục bát là thể thơ sáu tám, tức là câu đầu tiên gồm 6 từ câu nối tiếp theo gồm 8 từ. Cách gieo vần của thơ lục bát là vần chân và vần lưng.

Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

Gieo vần lưng: này - cày

Gieo vần chân(ta - gia)