I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRUYỆN NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP
(An Ấp liệt nữ lục − Trích Truyền kì tân phả)
ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Hoàng triều khoảng niên hiệu Vĩnh Thịnh(1), có một vị tiến sĩ trẻ tuổi, tên là Đinh Hoàn, hiệu là Mặc Trai, người ở làng An Ấp, tỉnh Nghệ An. Cha mẹ mất sớm, ít anh em, khi gần đến tuổi thành niên thì cưới vợ, nhưng chỉ sinh con gái, chưa có con trai. Ông lại lấy con gái nhà quan là họ Nguyễn làm vợ thứ. Bà vợ này nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang, thêu thùa khâu vá rất khéo, lại giỏi văn thơ. Khi về nhà chồng, tự sửa mình theo khuôn phép, lễ độ với chồng. Ông vừa yêu vừa kính trọng. Gặp những khi ở triều rảnh việc trở về, thường cùng với bà xướng hoạ văn thơ, hâm mộ các vị trung thần liệt nữ.
[Lược một đoạn: Đinh Hoàn vì làm theo lời khuyên can của phu nhân mà dần trở thành một vị quan cần mẫn. Đến năm Ất Mùi, ông được triều đình tín nhiệm mà giao cho trách nhiệm đi sứ sang Trung Quốc để kết mối bang giao. Trước khi đi, phu nhân tặng ông một bài thơ. Còn ông tặng lại cho phu nhân chiếc áo la y để làm kỉ niệm. Phu nhân quyền luyến nửa mê nửa tỉnh. Đinh Hoàn đi sứ đi qua nhiều nơi, mỗi nơi đều đề vịnh thơ. Thơ ông hay và được so sánh với thơ của những bậc danh nhân: Lý Bạch, Hạ Tri Chương, Mạnh Giao, Thiếu Lăng, Vệ Giới(2),... Đường đi gian nan, vì sức yếu lại lo lắng thương tâm trước cái chết của những người đi cùng nên ông đã mất tại Yên Kinh. Trước khi mất, ông chỉ băn khoăn việc nước chưa lo trọn vẹn. Biết tin chồng mất, phu nhân thương tiếc làm một bài văn tế ca ngợi công đức của chồng và bày tỏ tình cảm sâu sắc, nguyện hi sinh theo chồng.]
Người nhà qua lời lẽ bài văn tế, thấy bà có ý quyên sinh nên khuyên giải nói:
− Phu nhân ngày thường vốn nổi tiếng là người thông tuệ. Sao nay cố chấp quá như thế? Này, vợ chồng dẫu là đạo cả, nhưng âm dương hai ngả khác nhau. Cho nên nàng Lục Châu(3) tự gieo mình xuống lầu, chưa chắc theo được chồng; người trinh nữ(4) đứng trên núi hoá ra đá, cũng chỉ là vô ích. Huống chi sứ quân chết về việc nước, phu nhân cần gì phải ngọc nát chìm châu. [...]
Phu nhân gạt nước mắt mà rằng:
− Vị vong nhân(5) này không dám mua cái tiếng chặt vai(6) khoét mắt đâu, chỉ vì xuân về hoa héo, lòng chết hình còn, không tưởng gì đến nhân gian nữa.
Người nhà thấy khuyên giải không ăn thua gì, có ý đề phòng cẩn thận không rời phu nhân một bước. Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, gió vàng hiu hắt, tiếng ve kêu sầu, phu nhân càng thêm thảm đạm, ngồi tựa ghế khóc thầm, mơ màng thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ ra chính là chồng mình. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:
− Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bi sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuấn phi(7) có hội ngộ, Chức nữ(8) lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!
Ông buồn rầu nói:
− Ta từ khi về chầu Thiên Đình, được trông coi về việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung này không bao giờ thay đổi.
Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:
− Chết sống là lẽ thường, xưa nay hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vi Ngọc Tiên(9) có duyên tái hợp, Dương Thái Chân(10) cơ ước lai sinh. Nàng không cần phải bi phiền về nỗi hạc lánh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau gần đến rồi.
Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng. Từ đó, phu nhân lại càng có ý chán đời, nhưng chưa có dịp. Đến ngày lễ tiểu tường ông, người nhà bận việc, phu nhân ở trong buồng xé cái áo mà ông tặng ngày trước tự thắt cổ chết. Đến khi người nhà biết thì phu nhân đã tắt thở. Cả nhà thương cảm, tống táng theo lễ. Việc ấy tâu lên, triều đình cho lập đền thờ, có treo bảng khen trước cửa, trên khắc chữ: "Trinh liệt phu nhân từ", ban cấp tế điền, bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng.
(Truyền kì tân phả, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Chú thích:
(1) Vĩnh thịnh: Niên hiệu vua Lê Dụ Tông.
(2) Tên của các thi nhân danh tiếng thời Đường và thời Tấn.
(3) Nàng Lục Châu: Thiếp yêu của Thạch Sùng, dung mạo rất đẹp; khi Sùng bị Tôn Tú bắt, nàng nhảy từ trên lầu xuống để chết theo.
(4) Người trinh nữ: Ngày xưa, có người đàn bà, chồng đi xa vắng, thường ngày lên núi ngóng chồng, lâu ngày hoá thành hòn vọng phu.
(5) Vị vong nhân: Người chưa chết, người vợ thủ tiết, tự xưng là "vị vong nhân".
(6) Chặt vai: Vương Ngưng là Tư hộ ở Quắc Châu, mất ở nơi làm quan. Người vợ là họ Lý, đem con nhỏ về quê, đi đường vào quán trọ, người chủ quán không cho trọ, kéo tay nàng lôi ra. Nàng Lý than rằng: "Ta làm đàn bà không giữ trinh tiết, bị người cầm tay làm ô nhục.". Nói xong, liền cầm dao tự chặt cánh tay, việc ấy quan sở tại tâu vào triều đình, họ Lý được ban thuốc cứu chữa và được tiền tuất. Còn người chủ quán trọ bị phạt đòn.
(7) Thuấn phi: Vợ vua Thuấn, gồm Nga Hoàng và Nữ Anh, hai chị em (con vua Nghiêu) đều lấy Thuấn, khi mất làm thần sông Tương.
(8) Chức nữ: Tích Ngưu Lang Chức Nữ, hằng năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng Bảy.
(9) Vị Ngọc Tiên: Đời đường, Vi Cao lúc hàn vi, ở trọ nhà họ Khương, chung tình với nàng Ngọc Tiên, Cao tặng nàng một cái vòng tay, hẹn 7 năm đến cưới làm vợ. Quá hạn không đến, nàng tự sát. Sau đó 13 năm, Cao được làm Tiết độ sứ Ba Thục, có người dâng một ca sĩ rất đẹp, tên là Ngọc Tiên. Cao thấy diện mạo y như nàng Ngọc Tiên ngày trước.
(10) Dương Thái Chân: Dương Quý Phi bị chết ở núi Mã Ngôi, sau lại tái sinh cùng với Đường Minh Hoàng kết làm vợ chồng lần nữa.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2. (0,5 điểm) Văn bản trên viết về đề tài gì?
Câu 3. (0,5 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản trên.
Câu 4. (0,5 điểm) Phân tích tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản trên. Anh/ chị ấn tượng với điển tích, điển cố nào? Vì sao?
Câu 5. (0,5 điểm) Không gian nghệ thuật trong văn bản trên có sự kết hợp giữa các cõi. Anh/ chị hãy chỉ ra các chi tiết cho thấy điều đó và phân tích tác dụng của việc xây dựng không gian nghệ thuật ấy.

Khó tiêu,đầy hơi
Nhớ tích cho mình nha🥰🥰
câu 1.
-văn bản thuộc thể loại truyền kì (truyện truyền kì trung đại).
Câu 2:
- Truyện viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Câu 3
-yếu tố kì ảo: linh hồn đinh hoàn hiện về gặp phu nhân; ông về chầu thiên đình, trông coi việc bút nghiên nơi thiên tào; sự giao hòa giữa cõi sống và cõi chết.
-tác dụng: +)làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện; thể hiện khát vọng đoàn tụ và tình nghĩa vợ chồng vượt qua ranh giới sinh tử
+)góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 4
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố: làm cho văn bản mang tính trang trọng, bác học; giúp khắc họa sâu sắc phẩm chất đạo đức của nhân vật; đặt câu chuyện trong hệ thống giá trị văn hóa quen thuộc của văn học trung đại.
-Điển tích gây ấn tượng: ngưu lang – chức nữ, vì điển tích này thể hiện rõ nỗi chia lìa và khát vọng đoàn tụ của những người yêu nhau, phù hợp với bi kịch và tâm trạng của phu nhân.
Câu 5
-Sự kết hợp các cõi: cõi trần gian (đời sống gia đình, lễ tiểu tường), cõi âm (linh hồn đinh hoàn hiện về), cõi thiên giới (thiên đình, thiên tào).
-Tác dụng: mở rộng không gian nghệ thuật, làm mờ ranh giới giữa sự sống và cái chết; nhấn mạnh sự bền vững của tình nghĩa vợ chồng; tăng tính linh thiêng cho câu chuyện và làm cơ sở cho việc phu nhân được phong tặng, lập đền thờ.