K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

30 tháng 11 2025

Ai là vừa ý mình thích đúng nhé

Câu ca dao:

"Những người lải nhải lai nhai

Không ở Vũ Nhai cũng ở Đại Từ.

Những người lử khử, lừ khừ

Chẳng ở Đại Từ cũng ở Võ Nhai."

khiến em cảm thấy vừa hài hước vừa sâu sắc. Câu ca dao không chỉ phản ánh tính cách con người trong đời sống thường nhật của vùng Thái Nguyên, mà còn thể hiện cái nhìn tinh tế, hóm hỉnh của người xưa về thói quen của con người. Những người “lải nhải lai nhai” khiến người khác mệt mỏi, còn những người “lử khử, lừ khừ” lại dễ gây trì trệ trong công việc, nhưng cách diễn đạt vui nhộn khiến ta vừa cười vừa nhận ra bài học cho bản thân. Em thấy câu ca dao này như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng mỗi người nên tự nhìn nhận và rèn luyện tính cách của mình, tránh những thói quen không tốt, đồng thời trân trọng những giá trị văn hóa, sự quan sát tinh tế của ông cha. Qua đó, em càng thêm yêu mến sự dí dỏm và sâu sắc trong văn hóa dân gian Thái Nguyên, đồng thời cũng nhận ra rằng việc học hỏi và tự hoàn thiện bản thân là điều cần thiết trong đời sống hàng ngày

1. Cảm nhận về bài ca dao "Rủ nhau xuống bể mò cua" Answer: Bài ca dao "Rủ nhau xuống bể mò cua" vẽ nên một bức tranh quê hương thanh bình, giản dị nhưng đầy ắp tình người. Bài ca dao mở đầu bằng lời rủ rê chân chất: "Rủ nhau xuống bể mò cua / Đem về nấu quả mơ chua trên rừng". Chỉ hai câu thơ đã mở ra không gian rộng lớn, từ biển cả đến núi rừng, cho thấy sự giàu có, trù phú của thiên nhiên đất nước. Hoạt động mò cua, nấu canh không chỉ là công việc mưu sinh mà còn là niềm vui chung, sự sẻ chia trong cuộc sống cộng đồng. "Ăn rồi hò hẹn xin đừng quên nhau" là lời nhắn nhủ thấm thía về tình nghĩa xóm làng, tình bạn bè keo sơn. Qua đó, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn mộc mạc, hiếu khách và trọng tình nghĩa của người Việt Nam. Tình yêu quê hương không phải điều gì xa vời, lớn lao mà hiện hữu ngay trong những điều bình dị nhất: bữa cơm đạm bạc, lời hò hẹn chân tình. 2. Cảm nhận về bài ca dao "Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng" Answer: Bài ca dao "Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng" là bức tranh thiên nhiên, lao động rộng lớn, thể hiện tình yêu quê hương qua con mắt của người nông dân. Với cấu trúc đối xứng "bên ni" và "bên tê", bài ca dao mở ra một không gian đồng ruộng mênh mông, bát ngát. Hình ảnh "mênh mông bát ngát" được lặp lại nhấn mạnh sự trù phú, giàu đẹp của đồng bằng Bắc Bộ. Người nông dân đứng từ bờ ruộng này nhìn sang bờ ruộng kia, cảm nhận được sự bao la của đất trời, sự no ấm mà thiên nhiên ban tặng. Cảm xúc tự hào, yêu mến dâng trào trong lòng người. Tình yêu quê hương ở đây gắn liền với ruộng đồng, với hạt lúa, với công sức lao động vất vả nhưng đầy ý nghĩa. Bài ca dao không chỉ ca ngợi cảnh đẹp mà còn thể hiện sự gắn bó sâu sắc của con người với mảnh đất đã nuôi sống mình. 3. Cảm nhận về bài ca dao "Ai ơi bưng bát cơm đầy" Answer: Bài ca dao "Ai ơi bưng bát cơm đầy" là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng biết ơn đối với người nông dân và giá trị của hạt gạo, từ đó khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước. "Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần". Hai câu thơ đối lập "dẻo thơm" và "đắng cay" làm nổi bật sự vất vả, gian truân của người làm ra hạt gạo. Từ công việc đồng áng "cày sâu cuốc bẫm" đến "muôn phần" khó nhọc, bài ca dao là lời tri ân sâu sắc đến những người nông dân một nắng hai sương. Nó giáo dục thế hệ sau về truyền thống "uống nước nhớ nguồn", trân trọng thành quả lao động. Tình yêu quê hương, đất nước qua bài ca dao này được thể hiện qua sự trân quý những giá trị vật chất và tinh thần do cha ông tạo dựng nên. Mỗi hạt cơm đều chứa đựng mồ hôi, công sức, nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm bảo vệ và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
30 tháng 11 2025

Ko ạ

30 tháng 11 2025

 thông điệp tình yêu thương, sự sẻ chia từ những điều nhỏ bé xung quanh chúng ta, từ những người yêu thương chúng ta trong gia đình

30 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.2.Gióng ra đời kì lạMẹ Gióng có thai Gióng...
Đọc tiếp

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.

2.Gióng ra đời kì lạ

Mẹ Gióng có thai Gióng không bình thường. Bà ướm chân mình vào vết chân khổng lồ rồi mang thai; lại có thai không phải chín tháng mười ngày mà mười hai tháng. Sự sinh nở thần kì, ta vẫn thường thấy trong truyện cổ dân gian. Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai con hổ chầu hai bên. Những chi tiết hoang đường kể về Gióng như thế là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình trở thành phi thường. Nhân dân muốn tạo những nét kì lạ, biểu hiện niềm yêu mến, sự tôn kính với nhân vật và tin rằng nhân vật đã ra đời kì lạ thì tất cũng lập chiến công kì lạ. […]

3.Gióng lớn lên cũng kì lạ

Ba năm, Gióng không nói không cười, chỉ nằm im lặng. Nhưng bắt đầu cất lên tiếng nói thì đó là tiếng nói yêu nước, cứu nước. Tiếng nói ấy không phải là tiếng nói bình thường […] Gióng lớn nhanh như thổi, “cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc đã căng đứt chỉ”. [...] Gióng lớn lên bằng những thức ăn, thức mặc của nhân dân. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường, giản dị. Tất cả dân làng đùm bọc, nâng niu, nuôi nấng. “Nhân dân ta rất yêu nước, ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc cứu nước. Gióng đâu còn là con chỉ của một bà mẹ, mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp phần chuẩn bị cho sức mạnh đánh giặc. Có vậy, khả năng đánh giặc, cứu nước mới lớn lên mau chóng. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân đó” (Lê Trí Viễn). [...]

4.Gióng vươn vai ra trận đánh giặc

Giặc đến. Thế nước rất nguy. Chú bé Gióng đã vươn vai đứng dậy, biến thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Sự vươn vai của Gióng có liên quan đến mô típ truyền thống của truyện cổ dân gian. Thời cổ, nhân dân quan niệm người anh hùng phải khổng lồ về hình thể, sức mạnh, chiến công. Thần Trụ Trời và Sơn Tinh,... đều là những nhân vật khổng lồ. Cái vươn vai của Gióng là để đạt đến sự phi thường ấy [...]. Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí, tinh thần của dân tộc trước vận nước lâm nguy [...]. Quang cảnh Gióng ra trận rất hùng vĩ, hoành tráng. Tất cả sức mạnh của ý chí cộng đồng, của thành tựu lao động, văn hoá được bộc lộ trong cuộc đối đầu với kẻ thù: ngựa sắt phun ra lửa, giáp sắt, nón sắt chở che cho người anh hùng, roi sắt dân dã, rất Việt Nam, cũng xuất hiện. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gióng đánh giặc cả bằng cây cỏ đất nước, bằng những gì có thể tiêu diệt được giặc. [...]

5.Gióng bay lên trời và dấu xưa còn lại

Dẹp giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi áo sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời. Gióng ra đời đã phi thường thì ra đi cũng phi thường. Nhân dân trân trọng, yêu mến, muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng, nên đã để cho nhân vật trở về với cõi vô biên bất tử, để nhân vật sống mãi. Đó là phần thưởng cao nhất, đẹp nhất trao tặng người anh hùng. Hình tượng Gióng đã được bất tử hoá. Bay lên trời, Gióng hoá rồi. Gióng là non nước, đất trời, là mọi người Văn Lang, Gióng sống mãi. [...] Chiến công của Gióng còn để lại cho quê hương, xứ sở nhiều chứng tích địa danh, sản vật,... Đó là dấu vết ngựa sắt phun ra lửa làm nên màu tre đằng ngà vàng óng, dấu chân ngựa thành những ao hồ chi chít. Nhân dân còn kể chỗ nào Gióng bắt đầu xuất quân; chỗ nào đoàn trẻ chăn trâu, người thợ rèn đi theo Gióng; chỗ nào Gióng nhổ bụi tre khổng lồ. Hội Gióng hằng năm cũng dựng lại cảnh không khí dân làng nuôi Gióng, bức tranh Gióng ra trận. Tất cả những chứng tích ấy như những viện bảo tàng thiên nhiên, bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hoá về Gióng, như muốn minh chứng rằng câu chuyện có thật, làm mọi người tin vào truyền thống giữ nước của dân tộc. (câu hỏi:tìm ý kiến,lí lẽ,bằng chứng trong có đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3,đoạn 4, đoạn 5-ngắn thôi ạ,mình cảm ơn)

1
1 tháng 12 2025

hay thiệt❤

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.2.Gióng ra đời kì lạMẹ Gióng có thai Gióng...
Đọc tiếp

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.

2.Gióng ra đời kì lạ

Mẹ Gióng có thai Gióng không bình thường. Bà ướm chân mình vào vết chân khổng lồ rồi mang thai; lại có thai không phải chín tháng mười ngày mà mười hai tháng. Sự sinh nở thần kì, ta vẫn thường thấy trong truyện cổ dân gian. Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai con hổ chầu hai bên. Những chi tiết hoang đường kể về Gióng như thế là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình trở thành phi thường. Nhân dân muốn tạo những nét kì lạ, biểu hiện niềm yêu mến, sự tôn kính với nhân vật và tin rằng nhân vật đã ra đời kì lạ thì tất cũng lập chiến công kì lạ. […]

3.Gióng lớn lên cũng kì lạ

Ba năm, Gióng không nói không cười, chỉ nằm im lặng. Nhưng bắt đầu cất lên tiếng nói thì đó là tiếng nói yêu nước, cứu nước. Tiếng nói ấy không phải là tiếng nói bình thường […] Gióng lớn nhanh như thổi, “cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc đã căng đứt chỉ”. [...] Gióng lớn lên bằng những thức ăn, thức mặc của nhân dân. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường, giản dị. Tất cả dân làng đùm bọc, nâng niu, nuôi nấng. “Nhân dân ta rất yêu nước, ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc cứu nước. Gióng đâu còn là con chỉ của một bà mẹ, mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp phần chuẩn bị cho sức mạnh đánh giặc. Có vậy, khả năng đánh giặc, cứu nước mới lớn lên mau chóng. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân đó” (Lê Trí Viễn). [...]

4.Gióng vươn vai ra trận đánh giặc

Giặc đến. Thế nước rất nguy. Chú bé Gióng đã vươn vai đứng dậy, biến thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Sự vươn vai của Gióng có liên quan đến mô típ truyền thống của truyện cổ dân gian. Thời cổ, nhân dân quan niệm người anh hùng phải khổng lồ về hình thể, sức mạnh, chiến công. Thần Trụ Trời và Sơn Tinh,... đều là những nhân vật khổng lồ. Cái vươn vai của Gióng là để đạt đến sự phi thường ấy [...]. Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí, tinh thần của dân tộc trước vận nước lâm nguy [...]. Quang cảnh Gióng ra trận rất hùng vĩ, hoành tráng. Tất cả sức mạnh của ý chí cộng đồng, của thành tựu lao động, văn hoá được bộc lộ trong cuộc đối đầu với kẻ thù: ngựa sắt phun ra lửa, giáp sắt, nón sắt chở che cho người anh hùng, roi sắt dân dã, rất Việt Nam, cũng xuất hiện. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gióng đánh giặc cả bằng cây cỏ đất nước, bằng những gì có thể tiêu diệt được giặc. [...]

5.Gióng bay lên trời và dấu xưa còn lại

Dẹp giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi áo sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời. Gióng ra đời đã phi thường thì ra đi cũng phi thường. Nhân dân trân trọng, yêu mến, muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng, nên đã để cho nhân vật trở về với cõi vô biên bất tử, để nhân vật sống mãi. Đó là phần thưởng cao nhất, đẹp nhất trao tặng người anh hùng. Hình tượng Gióng đã được bất tử hoá. Bay lên trời, Gióng hoá rồi. Gióng là non nước, đất trời, là mọi người Văn Lang, Gióng sống mãi. [...] Chiến công của Gióng còn để lại cho quê hương, xứ sở nhiều chứng tích địa danh, sản vật,... Đó là dấu vết ngựa sắt phun ra lửa làm nên màu tre đằng ngà vàng óng, dấu chân ngựa thành những ao hồ chi chít. Nhân dân còn kể chỗ nào Gióng bắt đầu xuất quân; chỗ nào đoàn trẻ chăn trâu, người thợ rèn đi theo Gióng; chỗ nào Gióng nhổ bụi tre khổng lồ. Hội Gióng hằng năm cũng dựng lại cảnh không khí dân làng nuôi Gióng, bức tranh Gióng ra trận. Tất cả những chứng tích ấy như những viện bảo tàng thiên nhiên, bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hoá về Gióng, như muốn minh chứng rằng câu chuyện có thật, làm mọi người tin vào truyền thống giữ nước của dân tộc. (câu hỏi:tìm ý kiến,lí lẽ,bằng chứng trong có đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3,đoạn 4, đoạn 5-ngắn thôi ạ,mình cảm ơn)

0
30 tháng 11 2025

“Tiếng gà trưa” là một trong những bài thơ giàu cảm xúc nhất của Xuân Quỳnh – tiếng thơ của tình yêu, của nhớ thương và của những điều bình dị đã nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Ở bài thơ này, hình ảnh người chiến sĩ hiện lên không qua những chiến công lớn lao, mà qua những rung động rất đời thường: kỉ niệm tuổi thơ bên bà. Chính những kỉ niệm ấy đã trở thành nguồn động lực lớn lao giúp người chiến sĩ vững bước trên con đường chiến đấu.

Điểm đặc sắc đầu tiên là nhà thơ đã để tiếng gà trưa – một âm thanh thân thuộc của làng quê – trở thành cái cớ khơi dậy dòng hồi ức trong tâm trí người lính. Trên đường hành quân, “tiếng gà trưa” bất chợt gợi lại một miền tuổi thơ yên bình, nơi người chiến sĩ từng sống trong vòng tay yêu thương của bà. Âm thanh ấy đưa người đọc trở về với những kỉ niệm giản dị: những buổi bà mở ổ, ngắm đàn gà con; những lần bà dành dụm từng quả trứng để bán lấy tiền may áo mới cho cháu. Những hình ảnh “ổ rơm hồng những trứng”, “tiếng gà trưa” không chỉ gợi không gian làng quê mà còn chứa đựng tình thương ấm áp, chân chất của người bà dành cho cháu nhỏ.

Những kỉ niệm ấy thấm đượm tình yêu thương gia đình – thứ tình cảm thiêng liêng và bền chặt nhất trong đời người. Tuổi thơ của nhân vật trữ tình hiện lên trong sáng, êm đềm, được nâng niu bởi sự chở che của bà. Bà hiện lên hiền hậu, tảo tần, luôn nghĩ cho cháu. Từ việc bà dành dụm từng đồng tiền bán trứng gà đến nỗi vui mừng khi thấy cháu có áo mới, tất cả đã bồi đắp trong tâm hồn người cháu lòng biết ơn và tình yêu sâu nặng.

Điều đặc biệt trong bài thơ là: những kỉ niệm tuổi thơ ấy không chỉ để nhớ, mà trở thành động lực chiến đấu của người lính. Nhắc lại tuổi thơ không phải để hoài niệm, mà để khẳng định lý do của sự dấn thân:
“Vì bà, vì tiếng gà trưa
Vì tình yêu làng xóm
Nên người chiến sĩ ấy cầm súng bảo vệ quê hương.”

Những điều tưởng như rất nhỏ bé – tiếng gà trưa, ổ trứng hồng, chiếc áo mới – lại chính là sức mạnh tinh thần lớn lao giúp người chiến sĩ vượt lên mọi gian khổ. Đó là nét đẹp tâm hồn của con người Việt Nam: đi giữa bom đạn nhưng trái tim vẫn ấm mềm bởi những tình cảm gia đình mộc mạc, bình dị.

Như vậy, kỉ niệm tuổi thơ trong “Tiếng gà trưa” không chỉ mang giá trị cảm xúc mà còn tạo chiều sâu nhân văn cho bài thơ. Qua những hồi ức ấy, Xuân Quỳnh cho thấy sức mạnh của tình thân, của những điều bình dị trong cuộc đời đã trở thành hậu phương vững chắc cho người lính ngoài chiến trường.

“Tiếng gà trưa” vì thế không chỉ là bài thơ về tuổi thơ, về người bà, mà còn là bài thơ ca ngợi tình yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những điều nhỏ bé nhất. Đọc bài thơ, ta hiểu hơn rằng: đôi khi, những gì giữ chân con người, khiến họ mạnh mẽ tiến về phía trước, không phải những điều to tát, mà chính là những kỉ niệm êm đềm, những yêu thương giản dị của tuổi thơ.

30 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

30 tháng 11 2025

Mình không có Zalo bạn nhé.