K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.Xương Rồng và Cúc Biển Xương Rồng sống ở bãi cát ven biển đã lâu mà chẳng được ai để ý đến. Bông Cúc Biển thấy lão sống lặng lẽ quá nên xin đến ở chung. Lão hơi khó chịu nhưng vẫn đồng ý. Một hôm, đàn bướm nọ bay ngang qua, kêu lớn: − Ôi, bác Xương Rồng nở hoa đẹp quá! Xương Rồng hồi hộp chờ Cúc Biển lên tiếng nhưng nó chỉ im lặng,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

Xương Rồng và Cúc Biển

Xương Rồng sống ở bãi cát ven biển đã lâu mà chẳng được ai để ý đến. Bông Cúc Biển thấy lão sống lặng lẽ quá nên xin đến ở chung. Lão hơi khó chịu nhưng vẫn đồng ý. Một hôm, đàn bướm nọ bay ngang qua, kêu lớn:

− Ôi, bác Xương Rồng nở hoa đẹp quá!

Xương Rồng hồi hộp chờ Cúc Biển lên tiếng nhưng nó chỉ im lặng, mỉm cười. Nhiều lần được khen, lão vui vẻ ra mặt.

Thời gian trôi qua, hết Xuân đến Hè, hoa Cúc Biển tàn úa. Vài chú ong nhìn thấy liền cảm thán:

− Thế là đến thời hoa Xương Rồng tàn héo!

Nghe mọi người chê, Xương Rồng liền gân cổ cãi:

− Ta chẳng bao giờ tàn héo cả. Những bông hoa kia là của Cúc Biển đấy! 

Cúc Biển chẳng nói gì nhưng không cười nữa. Đợi chị gió bay qua, nó xin chị mang mình theo đến vùng đất khác.

Mùa Xuân đến, bướm ong lại bay qua nhưng chẳng ai còn để ý đến Xương Rồng nữa. Lão tiếp tục sống những ngày tháng cô độc như trước.

(Trích từ tập sách Giọt sương chạy trốn của Lê Luynh, 
NXB Kim Đồng 2020)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định ngôi kể và người kể chuyện của văn bản "Xương Rồng và Cúc Biển".

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản này?

Câu 3. Phân tích sự thay đổi về thái độ và hành động của nhân vật Xương Rồng từ khi được khen đến khi bị chê. Sự thay đổi này cho thấy Xương Rồng là nhân vật có tính cách như thế nào?

Câu 4. Chi tiết "Cúc Biển chẳng nói gì nhưng không cười nữa" cho thấy tâm trạng của Cúc Biển lúc đó như thế nào? Theo em, nguyên sâu xa nào dẫn đến quyết định rời đi của nhân vật này?

Câu 5. Câu chuyện gửi đến chúng ta bài học gì về cách sống và ứng xử giữa con người với nhau? (Trình bày ngắn gọn 5 − 7 dòng)

8
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định ngôi kể và người kể chuyện của văn bản "Xương Rồng và Cúc Biển".

  • Ngôi kể trong văn bản là ngôi thứ ba. Người kể chuyện là một người quan sát, không tham gia vào câu chuyện mà chỉ kể lại diễn biến, hành động và tâm tư của các nhân vật.

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản này?

  • Phương thức biểu đạt chính của văn bản là miêu tả và tự sự. Tác giả miêu tả sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các nhân vật và kể lại diễn biến câu chuyện của Xương Rồng và Cúc Biển. Câu chuyện cũng chứa đựng những yếu tố ẩn dụ, như sự tươi đẹp của hoa, hay sự thay đổi trong thái độ giữa các nhân vật.

Câu 3. Phân tích sự thay đổi về thái độ và hành động của nhân vật Xương Rồng từ khi được khen đến khi bị chê. Sự thay đổi này cho thấy Xương Rồng là nhân vật có tính cách như thế nào?

  • Sự thay đổi của Xương Rồng:
    • Khi được khen ngợi về vẻ đẹp của hoa, Xương Rồng rất vui vẻ và tự hào, cảm thấy được chú ý, điều này cho thấy Xương Rồng có lòng tự trọng và mong muốn được công nhận.
    • Tuy nhiên, khi bị chê bai và cho rằng hoa của mình đã tàn, Xương Rồng lập tức phản ứng mạnh mẽ, gân cổ cãi lại, đổ lỗi cho Cúc Biển. Sự thay đổi này thể hiện sự thiếu kiên nhẫn và dễ nổi nóng của Xương Rồng.
  • Tính cách của Xương Rồng:
    • Xương Rồng có tính cách khá tự cao, chỉ vui khi nhận được sự chú ý và khen ngợi. Khi bị chê bai, lão không chịu thừa nhận sự thật mà lại phản ứng gay gắt. Điều này cho thấy Xương Rồng có sự phụ thuộc vào sự công nhận của người khác và thiếu đi sự tự tin vào bản thân.

Câu 4. Chi tiết "Cúc Biển chẳng nói gì nhưng không cười nữa" cho thấy tâm trạng của Cúc Biển lúc đó như thế nào? Theo em, nguyên sâu xa nào dẫn đến quyết định rời đi của nhân vật này?

  • Tâm trạng của Cúc Biển:
    • Cúc Biển không nói gì và không cười nữa thể hiện sự buồn bã, thất vọng và có phần tủi thân. Việc không phản ứng hay cười nữa cho thấy Cúc Biển đã cảm nhận được sự thay đổi trong mối quan hệ giữa mình và Xương Rồng, đặc biệt là thái độ của Xương Rồng khi được khen ngợi và khi bị chê.
  • Nguyên nhân dẫn đến quyết định rời đi:
    • Quyết định rời đi của Cúc Biển xuất phát từ sự thất vọng và sự hiểu rằng mối quan hệ giữa mình và Xương Rồng không thể tiếp tục. Cúc Biển đã cảm nhận được sự ích kỷ và thiếu lòng biết ơn của Xương Rồng, khi lão chỉ vui khi được khen mà không quan tâm đến sự hy sinh, sự đồng hành của Cúc Biển. Vì vậy, Cúc Biển quyết định rời đi để tìm một nơi khác, hy vọng có thể tìm được sự bình yên và được đánh giá đúng đắn hơn.

Câu 5. Câu chuyện gửi đến chúng ta bài học gì về cách sống và ứng xử giữa con người với nhau? (Trình bày ngắn gọn 5 − 7 dòng)

  • Câu chuyện "Xương Rồng và Cúc Biển" gửi đến bài học về tình bạn, sự chia sẻ và lòng biết ơn. Con người cần biết trân trọng sự giúp đỡ của người khác, không chỉ vui mừng khi được khen ngợi mà còn phải biết cảm ơn và đối xử công bằng với những người xung quanh, đặc biệt là trong những lúc khó khăn. Cũng như Cúc Biển, khi thấy mối quan hệ không còn được trân trọng, đôi khi việc rời đi là cách để bảo vệ bản thân khỏi những tổn thương.
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định ngôi kể và người kể chuyện của văn bản "Xương Rồng và Cúc Biển".

- Ngôi kể: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.

- Người kể chuyện: Người kể chuyện là người kể giấu mình (ẩn danh), đứng ở bên ngoài để quan sát và kể lại câu chuyện. Người kể này biết rõ hành động và cả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật (ví dụ: "Lão hơi khó chịu", "Xương Rồng hồi hộp").

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận về văn bản “Ảnh Bác” của Trần Đăng Khoa

Bài thơ “Ảnh Bác” của Trần Đăng Khoa thể hiện tình cảm kính yêu và gần gũi của em nhỏ đối với Bác Hồ. Qua hình ảnh giản dị trong ngôi nhà quê — “Nhà em treo ảnh Bác Hồ / Bên trên là một lá cờ đỏ tươi” — tác giả gợi lên không khí ấm áp, thiêng liêng mà thân thuộc. Bác hiện lên qua ánh mắt hiền từ, nụ cười trìu mến, như đang dõi theo và dạy dỗ các em nhỏ chăm ngoan, biết giúp đỡ cha mẹ, biết yêu quê hương, đất nước. Hình ảnh “Bác lo bao việc trên đời / Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em” thể hiện tấm lòng bao dung, tình yêu thương lớn lao của Bác dành cho thiếu nhi. Bài thơ mộc mạc, trong sáng, thể hiện tấm lòng kính trọng, biết ơn và tình cảm chân thành của em nhỏ đối với Bác Hồ kính yêu.


Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em với bạn bè

Trong cuộc sống học trò, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp với bạn bè, nhưng em nhớ nhất là lần em và Minh – bạn thân của em – cùng nhau vượt qua một kỳ thi khó. Hôm đó, trước ngày kiểm tra Toán, em bị ốm nên không thể ôn bài kỹ. Biết chuyện, Minh đã đến nhà em, mang theo sách vở và kiên nhẫn giảng lại từng bài cho em hiểu. Nhờ sự giúp đỡ của bạn, em đã làm bài tốt và đạt điểm cao. Sau buổi nhận bài, em cảm ơn Minh, bạn chỉ cười và nói: “Bạn bè là phải giúp nhau chứ.” Từ đó, em càng trân trọng tình bạn này hơn. Kỉ niệm ấy khiến em hiểu rằng, tình bạn chân thành là món quà quý giá, giúp ta thêm mạnh mẽ và tự tin trong cuộc sống.

13 tháng 11 2025

Câu 1

Bài thơ “Ảnh Bác” của Trần Đăng Khoa thể hiện tình cảm kính yêu, gần gũi của em nhỏ đối với Bác Hồ. Hình ảnh Bác được hiện lên thật hiền hậu, ấm áp qua nụ cười hiền từ trong bức ảnh treo trên tường. Dưới cái nhìn hồn nhiên của em bé, Bác như đang dõi theo, vui cùng niềm vui trong sáng của các em nhỏ. Dù Bác bận trăm công nghìn việc, Bác vẫn “mỉm cười với em”, vẫn như đang dạy bảo, nhắc nhở các cháu chăm ngoan, giúp đỡ cha mẹ, biết tránh xa điều xấu. Giọng thơ nhẹ nhàng, ngôn từ giản dị thể hiện được tình cảm chân thành, trong sáng. Qua bài thơ, em cảm nhận được tình yêu thương bao la của Bác Hồ với thiếu nhi và lòng kính trọng, biết ơn của em nhỏ dành cho Bác.

Câu 2

Một trong những kỉ niệm em nhớ nhất là lần em và bạn Lan cùng nhau trực nhật ở lớp. Hôm ấy, sau giờ học, cả lớp ra về gần hết, chỉ còn hai đứa em ở lại quét dọn. Lúc đầu em làm nhanh để về sớm, còn Lan thì cẩn thận lau từng bàn ghế. Em thấy sốt ruột nên buột miệng bảo bạn “làm chậm quá”. Lan không nói gì, chỉ mỉm cười rồi tiếp tục lau. Khi cô giáo quay lại kiểm tra, cô khen lớp rất sạch và đặc biệt cảm ơn Lan vì làm việc cẩn thận. Em thấy ngại vì mình đã vội vàng và nóng tính. Từ đó, em học được bài học rằng làm việc gì cũng cần kiên nhẫn, cẩn thận và phải biết tôn trọng, cảm thông với bạn bè. Kỉ niệm ấy khiến tình bạn giữa em và Lan càng thêm thân thiết.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.CHƠI PHÚ QUỐC Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Đã ba tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi lênh đênh ở biển khơi bát ngát. Trông ra quanh mình toàn một màu xanh nhạt, mặt nước liền chân mây. Thỉnh thoảng, một vài cù lao loáng thoáng ở chỗ mênh mông trời nước. Về phía tây, rặng núi Tà Lơn bệ vệ nằm dài trong mây khói. Đảo Phú Quốc. Một vệt xanh xanh to lớn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

CHƠI PHÚ QUỐC

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Đã ba tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi lênh đênh ở biển khơi bát ngát. Trông ra quanh mình toàn một màu xanh nhạt, mặt nước liền chân mây. Thỉnh thoảng, một vài cù lao loáng thoáng ở chỗ mênh mông trời nước. Về phía tây, rặng núi Tà Lơn bệ vệ nằm dài trong mây khói. Đảo Phú Quốc. Một vệt xanh xanh to lớn nằm chắn ngang phía trước, mây toà lờ mờ, như dán dính với da trời... Đảo Phú Quốc! Cảnh bấy lâu trong mộng tưởng thì kìa đã hiện ra trước mắt.

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Tiếng sóng vỗ vào bệ tàu như một khúc nhạc hùng hồn oanh liệt. Chúng tôi cảm thấy lòng sung sướng, mạnh mẽ. Tựa vào bệ tàu, đăm đăm tôi ngó về phía trước: Nước biển một màu xanh bóng như dầu lụt chân mây. Hôm nay trời râm mát, mấy đám mây đen lơ lửng bóng tối, tưởng tượng như con chim đại bàng to lớn xoè đôi cánh bay lướt qua biển Nam Minh.

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Cảnh mờ mờ dần dần xô lùi lại. Bấy giờ đã thấy rõ ràng màu cây lá xanh biếc gần với màu nước biển xanh dờn, một vệt cát trắng chạy dài ở giữa. Hàm Ninh đã ở trước mặt. Tàu không áp bờ được vì bờ còn xa.

Quận lị Phú Quốc ở Dương Đông. Dương Đông ở về phía bên tây đảo. Về mùa này, sóng to gió lớn, tàu thuyền vô cửa bất tiện nên phải đỗ ở đây rồi đáp ô tô qua Dương Đông. Ngồi trên ca nô dòm xuống: nước trong như lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh. Gần mé bãi, trên giàn cây của người thuyền chài cắm để phơi lưới, một đàn chim nhạn đậu ríu rít rỉa lông, nghe tiếng chèo bơi bì bõm, giật mình cất cánh một loạt bay vù.

Đến bờ đã có ô tô đón sẵn. Chúng tôi đáp xe qua Dương Đông. Con đường quan lộ tuy chẳng được khang trang rộng rãi lắm, nhưng được cái sạch sẽ sáng sủa.

Xe chạy độ non một tiếng đồng hồ thì đến Dương Đông. Tính ra cuộc hành trình mất sáu tiếng đồng hồ chẵn. Sáu giờ sáng, khởi hành ở Hà Tiên, 12 giờ trưa đã ở Dương Đông rồi! Nhớ lại những chuyện nguy hiểm khó khăn của người đi biển bằng thuyền buồm nói lại mà chúng tôi lấy làm sung sướng quá. Trong sáu tiếng đồng hồ đi một cách bình yên mà đã được trải qua cái cảnh bềnh bồng trên mặt biển, được hít thở cái không khí thanh tân man mác chốn biển khơi, và được trông thấy bao nhiêu cảnh vật thanh kì ở chốn trời nước gió mây thần tiên xa lạ, đối với cái đời êm lặng kín đáo của người con gái ở chốn buồng khuê, thật là một dịp may đặc biệt.

Dương Đông ở về phía tây đảo Phú Quốc, một dải đất màu mỡ, cây cỏ xanh tươi, nhà cửa ở chen chúc nhau, một con sông xinh xinh chắn đôi, mơn man chảy trong lòng cát trắng.

Cơm nước nghỉ ngơi xong, chiều lại rủ nhau đi tắm biển. Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước. Ngoài khơi xa, lác đác mấy chiếc thuyền đánh cá, cánh buồm trắng in vào đám mây hồng. Bên rặng núi mờ xanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạc thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp.

Chúng tôi nô giỡn với làn sóng bạc trong khoảng trời nước mênh mông thoải thích. Bỗng một đám mây đen kéo đến phá cuộc vui chơi. Sắp có mưa. Cả bọn cùng dắt nhau về. Đến nhà thì trời mưa vừa lấm tấm đổ hạt. Trời tối. Mưa vừa ngớt hạt thì chúng tôi lại ra đi.

Chúng tôi đi trong các ngõ đường để xem cảnh đêm nơi hòn bãi. Trăng mười một. Đêm mờ, sương lạnh, ở đây thật có cái vẻ tĩnh mịch vô cùng. Trên mặt biển, lác đác có những thuyền con đi "thẻ" mực, ánh đèn soi xuống đáy nước, xa trông lấp lánh như gương. Người ở đây làm việc thật không mấy lúc nghỉ ngơi, những việc nặng nhọc thì làm về ban ngày, còn những việc nhẹ nhàng thì làm về buổi tối. Dưới ngọn đèn mờ, người vá lưới, kẻ chuốt mây, vừa làm vừa chuyện vãn, trông có vẻ sung sướng, ung dung, an vui về công việc.

Trời sáng. Không được cái cảnh bình minh trong trẻo như lòng ao ước đêm rồi. Trời lấm tấm mưa. Mặc gió mưa, vì không lẽ để lỡ cuộc đi chơi nên sau khi điểm tâm xong và đi dạo qua một vòng chợ, chúng tôi khởi hành. Suối Đá ở trên con đường Hàm Ninh – Dương Đông. Con đường này hôm qua đã có đi rồi, nhưng ngồi xe, nên không xem ngắm được phong cảnh hai bên.

Cũng con đường này hôm qua, thì cây cỏ như vô tình, mà hôm nay cảnh vật dường như hữu ý đón chào. Đi độ hơn cây số thì đến giếng Tiên. Giếng Tiên, huyền diệu lạ lùng như cái tên của nó, là một vũng nước nhỏ cạn ở kề liền bờ sông nước mặn, mà nước vẫn ngon ngọt và đầy tràn luôn. Bỏ qua về khoa học, thì nó có tính cách thần tiên huyền diệu như thế, nên gọi là giếng Tiên vậy.

Từ giếng Tiên đến suối Đá còn hơn ba cây số nữa, thỉnh thoảng có một cái vườn tiêu, còn hai bên toàn là rừng sim cả. Chúng tôi từng được nghe nói lại cái thú mùa sim đi hái trái: cái thú vui vẻ nên thơ lắm, trên cành nặng trĩu trái cây, điểm có mấy chùm hoa nở muộn trắng trắng hồng hồng. Đây một cô bé xinh tay mang giỏ tay hái trái, nét mặt ngây thơ hớn hở; kia một người thiếu phụ luẩn quẩn dưới gốc cây, nét mặt vô tư lự ở giữa chốn bông trái đầy rẫy nhẹ nhàng uốn éo, rồi cất tiếng hát ca véo von êm ái. Giờ phút ấy tưởng như đã lạc loài vào chốn rừng tiên cảnh lạ.

Nghe nói mà thích quá, những ước ao được một dịp đi hái sim. Nhưng nay đây, mùa này, thì chỉ có cành không trơ trọi thổi qua một ngọn gió vô tình.

Hôm nay trời râm mát, nên đi đường dễ chịu lắm. Lại hai bên toàn là cảnh đẹp, mải xem ngắm mà quên mỏi chân. Cái chân được cha mẹ "cũng" không mấy khi để dẫn trên đường cát bụi. Nghĩ cái lòng thương con của cha mẹ thật là vô cùng, không nói cái lòng thương đó nên như thế hay không nên như thế.

(Theo Mộng Tuyết, Báo Nam Phong, số 188, ngày 16-6-1934)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản gì?

Câu 2. Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh nào đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển?

Câu 3. Xác định ngôi kể của văn bản "Chơi Phú Quốc". Việc sử dụng ngôi kể này có tác dụng gì?

Câu 4. Tác giả đã nhắc đến những hoạt động gì của người dân Phú Quốc? Những hoạt động đó cho thấy điều gì về cuộc sống của họ?

Câu 5. Qua văn bản "Chơi Phú Quốc", em rút ra những bài học gì về ý nghĩa của việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

50
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản nhật ký – bút ký du lịch (văn bản tự sự – miêu tả, ghi chép cảm xúc và trải nghiệm thực tế trong một chuyến đi).


Câu 2.

Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả là:

“Nước trong như lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh.”

→ Hình ảnh này cho thấy nước biển Phú Quốc trong vắt, tinh khiết và đầy sức sống.


Câu 3.

  • Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể xưng “tôi”, “chúng tôi”).
  • Tác dụng: Giúp lời kể trở nên chân thực, sinh động, thể hiện trực tiếp cảm xúc, cảm nhận cá nhân của người viết về phong cảnh và con người Phú Quốc, khiến người đọc cảm thấy gần gũi và tin cậy hơn.

Câu 4.

  • Những hoạt động của người dân Phú Quốc:
    • Ban ngày: đánh cá, phơi lưới, làm việc nặng nhọc.
    • Ban đêm: vá lưới, chuốt mây, đi “thẻ” mực, chuyện trò.

→ Các hoạt động đó cho thấy người dân nơi đây cần cù, chăm chỉ, yêu lao động, dù vất vả nhưng vẫn vui vẻ, an nhiên trong cuộc sống.


Câu 5.

Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em hiểu rằng việc trải nghiệm và khám phá những vùng đất mới giúp con người mở mang hiểu biết, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống, đồng thời trân trọng công sức lao động của con người. Những chuyến đi còn giúp ta biết yêu quê hương đất nước hơnbồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản nhật ký – kí sự (ký du lịch, bút kí), ghi chép lại hành trình và cảm xúc của tác giả trong chuyến đi thăm đảo Phú Quốc.


Câu 2:

Khi đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả là nước biển trong như lọc, thấy tận đáy, nhìn rõ cả những con chang chang, sứa biển đang bò. Hình ảnh ấy thể hiện sự trong lành, tinh khiết của biển Phú Quốc.


Câu 3:

Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (“chúng tôi”, “tôi”).
→ Tác dụng: giúp người đọc cảm nhận được trực tiếp cảm xúc, ấn tượng chân thật, sinh động của người viết về cảnh vật và con người nơi đảo Phú Quốc.


Câu 4:

Tác giả nhắc đến các hoạt động của người dân Phú Quốc như: đánh cá, vá lưới, chuốt mây, phơi lưới, đi thẻ mực về đêm...
→ Những hoạt động đó cho thấy người dân nơi đây cần cù, chịu khó, yêu lao động và có cuộc sống thanh bình, yên vui bên biển đảo quê hương.


Câu 5:

Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em nhận ra rằng việc đi đến và khám phá những vùng đất mới giúp ta mở mang hiểu biết, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và con người ở nhiều nơi khác nhau. Qua trải nghiệm, ta biết thêm trân trọng quê hương, yêu thiên nhiên và có thêm nhiều bài học quý về cuộc sống, con người Việt Nam.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm):

Ước mơ là điều đẹp đẽ và cần có trong cuộc sống mỗi người. Hành trình theo đuổi ước mơ không bao giờ dễ dàng, vì luôn có thử thách và thất bại. Nhưng chính khó khăn lại giúp ta rèn luyện nghị lực, bản lĩnh và niềm tin. Giống như ngọn cỏ trong bài thơ của Lam – dù bị sâu ăn vẫn xanh rì – con người cũng cần kiên cường, không bỏ cuộc. Theo đuổi ước mơ là hành trình giúp ta trưởng thành, hiểu giá trị của nỗ lực và tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.


Câu 2 (4 điểm):

Bài thơ của Lam nói về sức sống kiên cường và ý nghĩa của niềm tin. Ngọn cỏ dù bị sâu ăn vẫn cố xanh rì, vì nó biết mình sống để làm gì. Hình ảnh ấy tượng trưng cho con người trong cuộc sống: dù tổn thương vẫn không buông bỏ. Tác giả dùng ngôn từ giản dị, giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu sắc, thể hiện triết lý sống tích cực: hãy mạnh mẽ vượt qua khó khăn để tiếp tục vươn lên và tỏa sáng giữa đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều có những ước mơ, nhưng ước mơ sẽ mãi chỉ là "mộng tưởng" nếu không có một "hành trình" dũng cảm để biến nó thành hiện thực. Như tác giả Mộng Tuyết trong văn bản "Chơi Phú Quốc", bà đã biến "cảnh bấy lâu trong mộng tưởng" thành hiện thực bằng một chuyến đi, một hành trình thực thụ. Điều đó cho thấy, theo đuổi ước mơ không phải là việc ngồi chờ đợi, mà là hành động dấn thân, lên đường. Hành trình ấy có thể đòi hỏi 6 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, hoặc thậm chí là 10 năm miệt mài học tập. Sẽ có những "sóng to gió lớn" hay những "khó khăn nguy hiểm" như cách đi thuyền buồm ngày xưa. Nhưng nếu ta dám vượt qua, dám hít thở "cái không khí thanh tân" của sự thử thách, phần thưởng ta nhận được sẽ vô cùng ngọt ngào. Đó là cảm giác "sung sướng, mạnh mẽ" khi chạm đến đích, là sự trưởng thành và những trải nghiệm "thanh kì" mà không gì thay thế được. Vì vậy, đừng chỉ mơ, hãy bắt đầu hành trình.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Còn thời cưỡi ngựa bắn cungCó hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.INDIRA GANDHI      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa:...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung

Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

INDIRA GANDHI

      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa: “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”. Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn là nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may.”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu: “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.". 

      Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

      Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng: “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta lạc đường không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

      Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, hãy trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

      Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu nằm bên khu chợ nhỏ xíu ở một thị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn buộc phải làm.

      Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha anh ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần với xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch, tốt cho sức khỏe và chất lượng hảo hạng.

      Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

      Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

      Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

      Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

      Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, nó giống như một tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người cho rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mại không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

      Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung,

Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun… bắn ruồi.”

       Âu cũng là lẽ thường tình vậy.

      Oprah Winfrey có nói: “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Chỉ có người ngốc nghếch mới tin rằng mình có thể giương cung được mãi.

      Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ông chỉ tập trung vào cái mình đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì thì tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

      Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) đều làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi là một thợ gốm học việc, ông vẫn tận tâm như vậy.

      Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra minh chứng trong văn bản thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho những ước mơ, nghề nghiệp trong cuộc sống. 

Câu 3. Chi tiết về Hosokawa Morihiro có ý nghĩa như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những thông điệp nào từ văn bản? 

8
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Kiểu loại của văn bản:
→ Văn bản “Còn thời cưỡi ngựa bắn cung” thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội), bàn về thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, danh tiếng và hạnh phúc trong cuộc sống.


Câu 2.

Minh chứng thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho ước mơ – nghề nghiệp:

“Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”
“Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.”

→ Những lời nói này cho thấy định kiến xã hội: coi thường nghề bình thường (như thợ may), chỉ đề cao nghề danh giá, nổi tiếng.


Câu 3.

Ý nghĩa của chi tiết về Hosokawa Morihiro:
Câu chuyện về Hosokawa Morihiro – người từng là Thủ tướng Nhật Bản rồi trở thành nghệ nhân gốm chuyên tâm và hạnh phúc – thể hiện thông điệp rằng:
→ Dù ở vị trí nào, làm nghề gì, nếu con người chuyên tâm, yêu nghề và sống đúng với mình, thì đều đáng trân trọng.
→ Đồng thời, chi tiết này minh chứng cho luận điểm của tác giả: hạnh phúc không đến từ danh vọng mà đến từ sự tận tâm với công việc mình yêu thích.


Câu 4.

Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả:

  • Cách dẫn dắt tự nhiên, gần gũi: Bắt đầu từ một câu chuyện đời thường (ước mơ làm thợ may của cô bé) rồi mở rộng dần đến vấn đề xã hội.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Tác giả sử dụng nhiều dẫn chứng thực tế, tiêu biểu (người bạn làm nông dân, Hosokawa Morihiro, Oprah Winfrey...) để minh họa cho quan điểm.
  • Giọng văn nhẹ nhàng, triết lý, giàu cảm xúc giúp người đọc suy ngẫm sâu về giá trị của lao động và hạnh phúc thật sự.

Câu 5.

Những thông điệp rút ra từ văn bản:

  • Không có ước mơ hay nghề nghiệp nào là tầm thường, chỉ có cách ta làm việc mới quyết định giá trị của nó.
  • Danh tiếng không phải mục tiêu cao nhất; điều quan trọng là được làm công việc mình yêu thích với sự chuyên tâm và tự hào.
  • Mọi người đều có vai trò riêng trong xã hội, hãy trân trọng, không phân biệt nghề nghiệp.
  • Hạnh phúc và thành công thật sự đến từ sự tận tâm và bình thản trong lao động.
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Văn bản "Còn thời cưỡi ngựa bắn cung" thuộc kiểu loại văn bản nghị luận, bàn về quan niệm sống, về giá trị của ước mơ, nghề nghiệp và danh vọng.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Qua đoạn trích, nhân vật Vũ Như Tô hiện lên là một nghệ sĩ thiên tài mang bi kịch sâu sắc. Trước hết, ông là người có khí phách phi thường. Dù thân mang gông xiềng, đối diện "uy quyền" tuyệt đối của vua Lê Tương Dực, ông vẫn không hề sợ hãi ("tiện nhân không sợ chết"), dám đối đáp sòng phẳng, thậm chí chỉ trích cả nhà vua ("Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?"). Song song đó là sự tự tin tột độ, kiêu hãnh về tài năng mà ông có được sau 20 năm khổ luyện: "phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi", "phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân". Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ kiêu ngạo, ông còn có lý tưởng cao đẹp khi mượn cơ hội này để đòi vua phải "trọng đãi công ngang sĩ", "xin cho lũ hậu tiến", nâng cao vị thế người thợ. Bi kịch của ông cũng nảy sinh từ đây: vì quá khát khao sáng tạo một công trình vĩ đại "cùng với vũ trụ trường tồn" ("vì tiện nhân thì nhiều"), ông đã chấp nhận "cúc cung tận tụy" cho bạo chúa, thậm chí đòi quyền "chém bêu đầu". Đây chính là mâu thuẫn bi kịch giữa người nghệ sĩ tài hoa, có lý tưởng và một con người kiêu ngạo, xa rời thực tế, đặt nghệ thuật lên trên cả sinh mạng con người.

13 tháng 11 2025

Trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại, khi tri thức nhân loại được cập nhật mỗi ngày và sự cạnh tranh ngày một gay gắt, con người không thể giữ mãi một vị trí nếu không tự mình vận động. Giữa hàng tỷ người trên thế giới, để không bị bỏ lại phía sau, để tạo nên dấu ấn riêng và có một cuộc sống ý nghĩa, việc không ngừng "nâng cao giá trị bản thân" trở thành một hành trình tất yếu và vô cùng quan trọng.


Vậy, "giá trị bản thân" là gì? Đó không đơn thuần là địa vị xã hội hay sự giàu có về vật chất. Giá trị bản thân là tổ hợp của nhiều yếu tố: là tri thức, kỹ năng, là phẩm chất đạo đức, là sức khỏe thể chất và tinh thần, và là khả năng cống hiến những điều tốt đẹp cho cộng đồng. "Nâng cao giá trị bản thân" chính là quá trình rèn luyện, học hỏi không ngừng nghỉ để làm giàu thêm những yếu tố đó, để phiên bản của chúng ta ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua.


Ý nghĩa của việc này trước hết là đối với chính mỗi cá nhân. Khi ta đầu tư vào tri thức, ta có được "vũ khí" sắc bén nhất để bước vào đời. Khi ta rèn luyện kỹ năng, ta có trong tay công cụ để biến ý tưởng thành hiện thực, giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Một người có giá trị cao, có chuyên môn giỏi, có kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ cầu thị, sẽ luôn là người mà mọi tổ chức, mọi tập thể mong muốn có được. Điều này mở ra cho chúng ta vô vàn cơ hội trong công việc và cuộc sống. Quan trọng hơn, quá trình tự nâng cấp bản thân mang lại cho ta sự tự tin, lòng tự trọng và sự độc lập. Ta không còn phải sống dựa dẫm hay chờ đợi sự ban phát cơ hội từ người khác, mà tự mình tạo ra cơ hội và làm chủ cuộc đời mình.


Không chỉ vậy, việc nâng cao giá trị bản thân còn mang ý nghĩa tích cực đối với xã hội. Một xã hội được tạo nên từ nhiều cá nhân. Khi mỗi cá nhân đều ý thức tự hoàn thiện, họ sẽ tạo nên một cộng đồng vững mạnh, một quốc gia phát triển. Một người bác sĩ không ngừng học hỏi kỹ thuật mới sẽ cứu được nhiều bệnh nhân hơn. Một người giáo viên liên tục đổi mới phương pháp sẽ truyền cảm hứng cho nhiều học trò hơn. Một người công nhân rèn luyện tay nghề sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng hơn. Chính sự nỗ lực của từng "viên gạch" nhỏ bé đã góp phần xây nên "tòa tháp" văn minh chung của nhân loại. Hơn nữa, những người có giá trị cao thường trở thành nguồn cảm hứng, lan tỏa năng lượng tích cực, thúc đẩy những người xung quanh cùng nhau phấn đấu.


Tuy nhiên, cần hiểu rằng nâng cao giá trị bản thân không phải là một cuộc chạy đua so bì, ganh ghét với người khác. Đó là một hành trình tự thân, so sánh với chính mình của ngày hôm qua. Đó cũng không phải là việc chỉ tập trung vào kiếm tiền hay danh vọng, mà bỏ quên việc bồi đắp tâm hồn, lòng nhân ái. Một người có giá trị thực sự là người cân bằng được giữa năng lực chuyên môn và phẩm hạnh đạo đức.


Việc nâng cao giá trị bản thân là một hành trình đầu tư không bao giờ lỗ vốn. Đó là con đường duy nhất để mỗi người khẳng định vị thế của mình, sống một cuộc đời ý nghĩa, tự do và hạnh phúc. Như viên kim cương chỉ trở nên lấp lánh sau hàng ngàn nhát mài giũa, con người cũng chỉ thực sự tỏa sáng khi không ngừng rèn luyện và tự hoàn thiện mình mỗi ngày.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Lớp IXLÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Lớp IX

LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.

LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?

LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.

VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...

LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.

VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.

LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.

LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.

VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...

LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.

VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).

VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...

LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?

VŨ NHƯ TÔ - Được!

LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.

VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...

LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.

LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.

LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...

VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?

LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.

VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.

LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?

VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?

LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.

VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?

LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.

VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.

12
13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

👉 Sự việc:
Đoạn trích kể về cuộc đối thoại căng thẳng giữa vua Lê Tương Dực và Vũ Như Tô.
Trong đó, Lê Tương Dực ép Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài – một công trình xa hoa để vua hưởng lạc. Ban đầu, Vũ Như Tô từ chối, nhưng sau khi đưa ra điều kiện được trọng đãi thợ tài và được toàn quyền thi công, ông chấp thuận thực hiện việc xây đài.

➡️ Đây là sự kiện mở đầu cho bi kịch về mâu thuẫn giữa nghệ thuật – lý tưởng và hiện thực xã hội tàn bạo.


Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

👉 Vũ Như Tô yêu cầu vua hai điều:

  1. Đài Cửu Trùng phải được xây đúng theo bản thiết kế của ông, không thay đổi dù chỉ một chi tiết.
  2. Vua và triều đình phải trọng đãi, tôn vinh những người thợ tài giỏi – “trọng đãi công ngang sĩ”, không được ức hiếp, khinh rẻ họ.

➡️ Hai yêu cầu thể hiện tấm lòng trân trọng người lao động có tài, khát vọng nâng cao địa vị và danh dự của người làm nghề thủ công trong xã hội phong kiến.


Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của chúng.

👉 Các chỉ dẫn sân khấu (in trong ngoặc đơn):
Ví dụ:

  • “(cười gằn)”, “(lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc)”, “(mắt sáng lên, nét mặt quả quyết)”,
  • “(mừng rỡ)”, “(đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi)”,
  • “(dịu giọng nhìn bản đồ say sưa)”, “(trầm ngâm)”, “(ngần ngại)”, “(nói to)”...

👉 Tác dụng:

  • Giúp người đọc và diễn viên hình dung rõ nét hành động, cử chỉ, thái độ, tâm lý nhân vật.
  • Làm cho lời thoại sinh động, chân thực, giúp khắc họa rõ tính cách và mối quan hệ căng thẳng giữa hai nhân vật.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

👉 Xung đột:

  • Giữa Vũ Như Tô (người nghệ sĩ tài hoa, chân chính)
    vua Lê Tương Dực (vị hôn quân xa hoa, tàn bạo).

👉 Xung đột về:

  • Quan niệm và mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài:
    • Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật vĩ đại vì nước vì dân.
    • Còn Lê Tương Dực chỉ muốn xây đài nguy nga để hưởng lạc, thỏa mãn dục vọng cá nhân.

➡️ Đây là xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật và hiện thực quyền lực, giữa người nghệ sĩ chân chínhkẻ thống trị tàn ác.


Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản.

👉 Nhận xét:

  • Lời nói của Vũ Như Tô thẳng thắn, cương trực, mạnh mẽ và đầy tự tin.
  • Ông thể hiện tư thế hiên ngang, không sợ quyền uy, dám nói lên lẽ phảibảo vệ phẩm giá của người lao động tài hoa.
  • Trong đối thoại, Vũ Như Tô vừa tự hào về tài năng, vừa chân thành với lý tưởng nghệ thuật cao cả — muốn xây dựng cho đất nước một công trình trường tồn với thời gian.

➡️ Qua lời nói, ta thấy Vũ Như Tô là người nghệ sĩ tài năng, có nhân cách lớn, dám sống và chết vì lý tưởng nghệ thuật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Sự việc trong văn bản là cuộc đối thoại căng thẳng và trực diện giữa kiến trúc sư thiên tài Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Dù đang là một tù nhân bị gông xiềng, Vũ Như Tô không những không sợ hãi mà còn thẳng thắn đưa ra các yêu sách, đòi hỏi vua phải tôn trọng người thợ, trọng đãi người tài, coi đó là điều kiện tiên quyết để ông nhận lời xây Cửu Trùng Đài.

Câu 1. (2 điểm)     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.Câu 2. (4 điểm)     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.      Đàn...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:

       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,

Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.

      Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,

Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?

      Đàn kêu: Ai chém xà vương,

Đem nàng công chúa triều đường về đây?

      Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày

Có sao phụ nghĩa lại rày vong ân?

      Đàn kêu: Sao ở bất nhân,

Biết ăn quả lại quên ân người giồng?

      Đàn kêu năn nỉ trong lòng,

Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.

       […] Đàn kêu thấu đến cung phi,

Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.

(Trích theo Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr.1989 - 1993)

Chú thích: 

(1) Thạch Sanh: Truyện thơ Nôm, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, dựa trên truyện cổ tích thần kì Thạch Sanh.

9
13 tháng 11 2025
Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc giao lưu và tiếp biến văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích to lớn. Giao lưu văn hóa giúp các quốc gia, dân tộc học hỏi, tiếp thu những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến từ bên ngoài, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng hơn. Quá trình tiếp biến văn hóa một cách chọn lọc không làm mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại, giúp làm giàu thêm, làm mới mẻ thêm văn hóa truyền thống, khiến nó trở nên năng động, phù hợp hơn với thời đại. Chẳng hạn, ẩm thực Việt Nam được bổ sung thêm nhiều món ăn từ các nước, hay áo dài truyền thống được biến tấu với nhiều kiểu dáng hiện đại, vẫn giữ được nét duyên dáng mà lại tiện dụng hơn. Hơn nữa, giao lưu văn hóa còn là cầu nối gắn kết con người, xóa bỏ rào cản, định kiến, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng và đa sắc màu. Điều cốt yếu là chúng ta cần có thái độ cởi mở nhưng cũng cần tỉnh táo, chọn lọc để tiếp nhận những giá trị tích cực, đồng thời kiên định gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh. Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu, được xây dựng dựa trên cốt truyện cổ tích cùng tên, mang đậm giá trị nhân đạo và tinh thần đấu tranh chống lại cái ác của nhân dân ta. Trích đoạn trên tập trung miêu tả sức mạnh kỳ diệu của cây đàn thần, một chi tiết nghệ thuật đắt giá, có vai trò vạch trần tội ác, giải oan cho người thiện, và thể hiện sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống "ở hiền gặp lành". Về nội dung, trích đoạn đã làm nổi bật chức năng "minh oan" và "vạch tội" của cây đàn thần. Tiếng đàn không chỉ là một nhạc cụ, mà là tiếng nói của công lí, của lẽ phải. Khi cất lên giữa chốn triều đình, tiếng đàn lập tức hướng thẳng vào đối tượng Lý Thông, bằng một giọng điệu đanh thép, chất vấn, đầy sức mạnh tố cáo: Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
Đàn kêu: Ai chém xà vương,
Đem nàng công chúa triều đường về đây?
Điệp khúc "Đàn kêu: Ai chém..." lặp đi lặp lại như một bản án luận tội. Tiếng đàn liệt kê rành rọt từng công trạng của Thạch Sanh mà Lý Thông đã cướp công. Hắn không chỉ là kẻ lừa đảo, chiếm đoạt công lao mà còn là kẻ "phụ nghĩa", "vong ân", "bất nhân", "quên ơn người giồng". Những từ ngữ mạnh mẽ này thể hiện thái độ căm phẫn tột độ của nhân dân đối với thói đời bạc bẽo, vong ơn bội nghĩa. Tiếng đàn đã lật tẩy bộ mặt thật của Lý Thông trước bàn dân thiên hạ, đòi lại công bằng cho Thạch Sanh. Bên cạnh đó, tiếng đàn còn là lời trách móc nhẹ nhàng, nỉ non đối với công chúa: Đàn kêu năn nỉ trong lòng,
Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
...Đàn kêu thấu đến cung phi,
Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.
Đây là cung bậc cảm xúc khác biệt, từ đanh thép chuyển sang thâm tình. Tiếng đàn gợi nhắc lại lời thề ước dưới hang sâu, trách công chúa đã vội vàng phụ bạc. Qua đó, ta thấy được tâm trạng vừa đau đớn, vừa thiết tha của Thạch Sanh, và cũng là sự đề cao tình nghĩa thủy chung trong quan niệm đạo đức dân gian. Về nghệ thuật, thành công của trích đoạn nằm ở việc sử dụng thể thơ lục bát biến thể (hoặc thơ Nôm năm chữ), nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với từng cung bậc cảm xúc. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa "Đàn kêu" được sử dụng xuyên suốt, biến cây đàn vô tri thành một nhân vật biết nói, biết luận tội, biết giãi bày. Cấu trúc lặp cú pháp "Đàn kêu: Ai chém...", "Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày...", "Đàn kêu: Sao ở bất nhân..." tạo hiệu ứng mạnh mẽ, dồn dập, tăng sức thuyết phục và tố cáo. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu sức biểu cảm. Tóm lại, trích đoạn truyện thơ Thạch Sanh là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của nghệ thuật (ở đây là tiếng đàn thần) trong việc đấu tranh cho công lí. Bằng nghệ thuật nhân hóa, lặp cấu trúc và giọng văn đanh thép, tác giả dân gian đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, thể hiện rõ nét tư tưởng và đạo lí truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu giúp các dân tộc hiểu biết, gắn kết và cùng phát triển. Việc giao lưu văn hóa giúp con người mở rộng tầm nhìn, tiếp cận những giá trị tiến bộ của nhân loại, học hỏi tinh hoa về tri thức, nghệ thuật, lối sống. Nhờ tiếp biến, mỗi dân tộc có thể chọn lọc, hòa nhập mà không hòa tan, vừa phát huy bản sắc truyền thống, vừa làm mới văn hóa dân tộc để phù hợp với thời đại. Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc nhưng vẫn không ngừng đổi mới nhờ giao lưu với các nền văn hóa khác — từ ẩm thực, âm nhạc, thời trang đến công nghệ và giáo dục. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, chúng ta cũng cần có bản lĩnh và ý thức giữ gìn giá trị gốc, tránh chạy theo, lai tạp hay đánh mất bản sắc dân tộc. Tóm lại, giao lưu và tiếp biến văn hóa chính là cầu nối giúp con người hội nhập, phát triển toàn diện, góp phần làm phong phú và bền vững hơn bản sắc của mỗi dân tộc trong thời đại mới.


🟩 Câu 2 (4 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh

Mở bài:

Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm dân gian giàu giá trị nhân văn, ca ngợi người anh hùng nghĩa hiệp, thật thà và chính trực. Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh...” là một trong những đoạn đặc sắc nhất, thể hiện chiến thắng của lẽ phải, của công lý và đạo đức nhân nghĩa, đồng thời gửi gắm niềm tin của nhân dân vào sự chiến thắng cuối cùng của người tốt.


Thân bài:

1. Khái quát về truyện và vị trí đoạn trích:
Thạch Sanh được sáng tác dựa trên truyện cổ tích cùng tên, thuộc loại truyện thơ Nôm khuyết danh. Đoạn trích thuộc phần giữa truyện, kể về tiếng đàn thần của Thạch Sanh, nhờ đó mà sự thật được phơi bày, công lý được thực thi.


2. Phân tích nội dung đoạn trích:

  • a. Tiếng đàn mang âm hưởng kỳ diệu:

    “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,
    Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.”
    Câu thơ mở đầu gợi âm thanh ngân vang, trong sáng, ẩn chứa sức mạnh kì diệu của cái thiện. Tiếng đàn không chỉ đẹp về âm thanh mà còn là tiếng lòng, tiếng nói của lẽ phải.

  • b. Tiếng đàn là tiếng nói của công lý, tố cáo kẻ gian, minh oan cho người hiền:

    “Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
    Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?”
    Tiếng đàn cất lên thay cho Thạch Sanh — người thật thà không nói nhiều, để vạch mặt kẻ phản bội Lý Thông, nhắc lại công lao của người anh hùng.
    “Đàn kêu: Sao ở bất nhân,
    Biết ăn quả lại quên ân người giồng?”
    Những lời đàn ấy vừa tha thiết, vừa đanh thép, tố cáo tội vong ân bội nghĩa, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức truyền thống của nhân dân: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  • c. Tiếng đàn thức tỉnh lòng người, khơi dậy sự thật:

    “Đàn kêu thấu đến cung phi,
    Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.”
    Nhờ tiếng đàn, công chúa và triều đình mới hiểu rõ sự thật, minh oan cho Thạch Sanh.
    → Đây là chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng: tiếng đàn là tiếng nói của chân lý, của niềm tin vào cái thiện tất thắng cái ác.


3. Nghệ thuật đặc sắc:

  • Thể thơ lục bát quen thuộc, nhịp điệu uyển chuyển, giàu nhạc tính.
  • Sử dụng điệp ngữ “Đàn kêu” tạo âm vang liên tục, thể hiện sức mạnh lan tỏa của công lý.
  • Hình tượng tiếng đàn thần vừa hiện thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Kết bài:

Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh” là minh chứng cho tư tưởng nhân đạo của truyện thơ Nôm Thạch Sanh: đề cao người nghĩa hiệp, thật thà, dám đấu tranh chống lại kẻ ác. Qua hình tượng tiếng đàn, nhân dân gửi gắm niềm tin vào sức mạnh của cái thiện, của công lý và đạo lý “ở hiền gặp lành” – một thông điệp vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tạiHoàng thành Thăng Long       Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ,...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tại
Hoàng thành Thăng Long

       Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ, xưa chưa từng có” (Việt sử lược) hay “Nhà/ cung điện đều sơn son, cột vẽ hình long, hạc, tiên nữ” ("Quế hải ngu hành chí"(1), Phạm Thành Đạt). Song, để hình dung được vẻ đẹp đó là diều không đơn giản.

       Thăng Long có vị trí đắc địa, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là đất thiêng hội tụ những tinh hoa của đất nước và khu vực. Tại đây, từ năm 1010, các triều đại Lý, Trần, Lê nối tiếp nhau quy hoạch, xây dựng cung điện, lầu gác làm nơi thiết triều, nơi làm việc và sinh hoạt của Hoàng đế, Hoàng gia và Triều đình. Tuy nhiên, những hiểu biết về kiến trúc hoàng cung thời Lý - Trần và thậm chí thời Lê còn hết sức hạn chế, do hiện nay ở Việt Nam không còn lưu giữ được một công trình cung điện nào cùng thời. Điều đó cũng đồng nghĩa, kiến trúc cung điện hoàng cung Thăng Long vẫn còn là bí ẩn của lịch sử kiến trúc Việt Nam.

       Dưới lòng đất khu di sản Hoàng thành Thăng Long, kết quả khai quật khảo cổ học từ năm 2002 - 2017, đã xác định được một quần thể nền móng kiến trúc Đại La. Nét truyền thống dễ nhận thấy trong kiến trúc cổ truyền người Việt là cột hiên nằm rất gần với cấp nền(2) nên phần mái hiên của kiến trúc nhô ra không nhiều. Trong đó, nền móng kiến trúc giai đoạn Thăng Long được làm rất kiên cố và bền vững, bộ vì(3) đặt trực tiếp trên chân tảng đá chạm hoa sen để đỡ mái.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 1: Tượng đầu rồng trang trí nóc mái, thời Lý

 Hình 2: Tượng đầu sư tử trang trí bờ dải, thời Lý

Hình 3: Lan can đá chạm rồng, thời Lý

Hình 4: Chân tảng đá hoa sen đặt trên móng cột, thời Lý

Hình 5: Gạch vuông lát nền, thời Lý

Hình 6: Tượng đầu chim phượng trang trí trên mái, thời Lý

       Theo GS Ueno (Nhật Bản) “kiến trúc cung điện thời Lý có thể đã sử dụng đấu củng(4) nhưng hiện tượng phần hiên không nhô ra nhiều cho thấy đấu củng thời Lý thuộc loại đơn giản”. Tuy nhiên, cũng không loại trừ thời Lý - Trần đã sử dụng kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng giống như ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Dâu (Bắc Ninh) và Bối Khê (Hà Nội). Đây là những kiến trúc còn bảo lưu được ít nhiều phong cách cuối thời Trần.

       Vật liệu kiến trúc cũng rất đa dạng, phong phú, mái cung điện lợp ngói âm - dương và ngói phẳng, góc mái, đầu nóc trang trí các loại tượng tròn đất nung hình rồng, phượng, sư tử. Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”. Vẻ đẹp đó còn là cảm hứng của văn học, thi ca; bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh(5) (năm 1125) viết “mái hiên bay cao như cánh chim, ngói xếp như bày vảy cá” hay “ngói sen ngàn lớp tựa vẩy cá, sương sớm giọt giọt ngỡ hạt châu” (Thiệu Long tự bi minh(6), 1226), hình ảnh Xi Vẫn(7) - tượng chim phượng trang trí trên mái soi ngược xuống mặt nước được thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334) viết trong bài thơ chùa Diên Hựu “In ngược hình chim, gương nước lạnh”. Thời Trần kế thừa và đã sáng tạo loại ngói sen lợp mái, mang lại sắc thái riêng cho kiến trúc đương thời.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 7: Minh họa cách lợp ngói rồng thời Lê sơ, thế kỷ XV-XVI

Hình 8: Ngói dương men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

Hình 9: Ngói âm men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ thế kỷ XV

Hình 10: Ngói Rồng men vàng lợp mái cung điện, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

       Đến thời Lê, kiến trúc cung điện Thăng Long đã có nhiều thay đổi do ảnh hưởng lớn từ hệ tư tưởng nho giáo nhưng vẻ đẹp và sự hoa mỹ thì càng được nâng cao. Nếu ai đó được một lần nhìn thấy loại “ngói rồng” tráng men xanh, men vàng phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long thì sẽ hiểu được kiến trúc cung điện đẹp đến nhường nào. Lý Tiên Căn (sứ giả nhà Thanh) viết về kiến trúc cung điện thời Lê như sau: “chỉ có nhà vua mới được lợp ngói màu vàng, quan và dân lợp bằng cỏ” (trích An Nam tạp ký). Đánh giá về kiến trúc cung điện Thăng Long, PGS.TS Tống Trung Tín bày tỏ: “Phải còn rất lâu nữa chúng ta mới hiểu được kiến trúc hoàng cung Thăng Long.” bởi những khám phá của khảo cổ học mới chỉ là bước đầu làm phát lộ di tích di vật. Quá trình nghiên cứu chắc chắn còn phải kéo dài và rất khó khăn trong bối cảnh thiếu thốn nguồn tư liệu đương thời để so sánh, ví dụ như: tên gọi các cung điện, bộ khung gỗ, chưa kể đến trang trí nội thất bên trong các cung điện đó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 11: Phối cảnh tưởng tượng về mặt bằng kiến trúc cung điện thời Lý tại khu khảo cổ học
18 Hoàng Diệu, Hà Nội

       Qua khám phá của khảo cổ học và thư tịch cổ có thể thấy kiến trúc cung điện, lầu gác tại hoàng cung Thăng Long đều là kiến trúc có bộ khung gỗ, mái lợp ngói, trang trí nội ngoại thất rất công phu và tráng lệ, chứng tỏ trình độ kỹ thuật, mỹ thuật và trình độ quy hoạch xây dựng đô thành đã rất phát triển dưới thời Lý, Trần, Lê tạo cho Thăng Long vị thế xứng đáng là quốc đô qua nhiều triều đại, trải dài lịch sử 779 năm (1010 - 1789). Những thành tựu nhiều mặt đó phản ánh sự kết tinh, giao thoa và tiếp biến văn hóa(8) của Thăng Long với các vùng văn hóa trong nước cũng như các nền văn minh trong khu vực. Đó cũng là một trong những giá trị nổi bật toàn cầu của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long mà UNESCO đã ghi danh là di sản thế giới năm 2010.

(TS. Trần Thế Anh, Ths. Đỗ Đức Tuệ, Ths. Nguyễn Hồng Quang, bài đăng trên tạp chí Kiến trúc số 10 - 2018)

Chú thích: 

(1) Quế hải ngu hành chí: Tập bút kí cho Phạm Thành Đại (1126 - 1193) thời Tống biên soạn. Phạm Thành Đại từng giữ chức trưởng quan của Quảng Nam Tây lộ - đầu mối thông tin giữa nhà Tống và Đại Việt.

(2) Cấp nền: Cầu nối đi lại phía trước ngôi nhà, là vị trí nối liền giữa sân và nhà, là nơi kết nối giao thông các hoạt động sống trong và ngoài của căn nhà.

(3) Bộ vì: Một bộ phận thuộc mái nhà có nhiệm vụ chống đỡ, kết nối hệ mái với những bộ phận khác để làm tăng độ kiên cố, vững chắc cho hệ mái. Đồng thời nó cũng giúp nâng cao giá trị thẩm mĩ cho ngôi nhà.

(4) Đấu củng: Một loại kết cấu mái theo kĩ thuật chồng tường (các loại gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau). Nó không chỉ có tác dụng mở rộng diện tích hiên nhà, tăng khả năng chịu lực mà còn đóng vai trò như một chi tiết để tô điểm, trang trí.

(5) Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (Bia chùa Hương Nghiêm trên núi Càn Ni): Văn bia được khắc ở chùa Hương Nghiêm, thôn Diên Hào, huyện Lôi Dương nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia không ghi người soạn nhưng theo khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn thì tác giả bài văn bia này có thể là nhà sư Hải Chiếu.

(6) Thiệu Long tự bi (Bia chùa Thiệu Long): Văn bia được khắc ở chùa Thiệu Long, xã Tam Hiệp, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Bia này được khắc năm Bính Tuất (1226), năm đầu của nhà Trần.

(7) Xi Vẫn: Một trong những đứa con của rồng. Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh ra chín đứa con nhưng không còn nào trở thành rồng cả. Chín con của rồng được gọi bằng những cái tên khác nhau là Bị Hí, Xi Vẫn, Bồ Lao, Bệ Ngạn, Thao Thiết, Công Phúc,… Xi Vẫn là con thứ hai, mang hình dáng đầu rồng đuôi cá.

(8) Tiếp biến văn hóa: Quá trình thay đổi văn hóa và thay đổi tâm lí sau cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa.

Câu 1. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 2. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Em ấn tượng với thông tin nào trong văn bản? Vì sao?        

13
13 tháng 11 2025

Câu 1. Chủ đề của văn bản là gì? Chủ đề của văn bản là: Những phát hiện khảo cổ học về đặc điểm kiến trúc và vẻ đẹp của hoàng cung Thăng Long qua các triều đại Lý, Trần, Lê.

13 tháng 11 2025

Câu 2. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào? Thông tin trong văn bản được triển khai chủ yếu theo trật tự thời gian, bắt đầu từ bối cảnh chung (các triều đại Lý, Trần, Lê), đi sâu vào kiến trúc thời Lý - Trần, và sau đó là kiến trúc thời Lê.

13 tháng 11 2025
Câu 1: Đoạn văn nghị luận về ý thức bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hoá truyền thống của giới trẻ Việt Nam hiện nay. Văn hóa truyền thống là hồn cốt, là bản sắc của một dân tộc, và việc bảo tồn nó là trách nhiệm không chỉ của thế hệ trước mà còn của chính giới trẻ Việt Nam hôm nay. Thực tế cho thấy, một bộ phận giới trẻ vẫn còn mơ hồ, thậm chí quay lưng với những giá trị truyền thống, chạy theo lối sống ngoại lai mà quên mất cội nguồn. Tuy nhiên, cũng có nhiều bạn trẻ đang thể hiện ý thức mạnh mẽ trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Ý thức này được thể hiện qua nhiều hành động thiết thực. Nhiều bạn trẻ đam mê tìm hiểu lịch sử, học chơi nhạc cụ dân tộc, mặc áo dài trong các dịp lễ, tết, hay tham gia các hoạt động tình nguyện trùng tu di tích lịch sử. Những hành động này không chỉ thể hiện tình yêu quê hương đất nước mà còn góp phần lan tỏa nét đẹp văn hóa đến cộng đồng. Để phát huy hơn nữa tinh thần này, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, tạo điều kiện để giới trẻ tiếp cận và trải nghiệm văn hóa truyền thống một cách tự nhiên và hứng thú. Việc giữ gìn văn hóa truyền thống không có nghĩa là bảo thủ, mà là biết chọn lọc và hòa nhập nó vào cuộc sống hiện đại. Giới trẻ cần nhận thức rõ giá trị của văn hóa dân tộc, biến niềm tự hào thành hành động cụ thể để bản sắc Việt Nam luôn được tỏa sáng. Câu 2: Bài văn nghị luận phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong bài thơ "Khói chiều" (Lam) Bài thơ "Khói chiều" của tác giả Lam là một bức tranh quê hương mộc mạc, thấm đượm tình cảm bà cháu, và chất chứa những suy tư sâu lắng về thời gian, ký ức. Thông qua những hình ảnh bình dị, thân thuộc, bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc bằng cả nội dung sâu sắc và nghệ thuật tinh tế. I. Những nét đặc sắc về nội dung Bài thơ xoay quanh ký ức tuổi thơ êm đềm bên bà, trên chiếc xe đạp cũ vào mỗi buổi chiều tan học. Đó là không gian của quê hương với "khói chiều cõng một hoàng hôn", "khói lay cỏ đồng", "con sông lớn chảy dòng đằng xa", "vườn trái đã mọng tươi",... Những hình ảnh này tạo nên một khung cảnh thanh bình, đẹp đẽ, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn cháu. Tình cảm bà cháu là mạch nguồn chính của bài thơ. Hình ảnh "bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay" là một ẩn dụ tuyệt đẹp, thể hiện sự che chở, nâng đỡ của bà đối với thế giới tinh thần của cháu. Bà không chỉ là người đưa đón, mà còn là người bạn đồng hành, người chứng kiến mọi niềm vui, nỗi niềm của cháu: niềm vui với "điểm mười" được ông thưởng, sự háo hức với "thịt kho" bà nấu, và cả sự tò mò trẻ thơ về đám bạn, về cỏ hoa bên đường. Tình yêu thương ấy bình dị mà ấm áp, len lỏi vào từng câu chữ. Đặc biệt, bài thơ còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về thời gian và ký ức. Thời gian trôi đi, cháu lớn lên, "đôi khi quanh quẩn, cháu quên đường về". Những ký ức tuổi thơ bên bà trở thành ngọn hải đăng soi đường cho cháu. Hình ảnh "hai Mặt Trời dẫn lối về cháu đi" ở cuối bài thơ là một sáng tạo độc đáo, tượng trưng cho bà và chính những kỷ niệm đẹp đẽ ấy, mãi mãi là nguồn sáng dẫn dắt cháu trong cuộc đời. II. Những nét đặc sắc về nghệ thuật Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ (ngũ ngôn) truyền thống, nhịp điệu nhẹ nhàng, gieo vần linh hoạt (vần chân: bay/nay, xa/hoa, tươi/mười, v.v.), tạo nên sự liền mạch, dễ nhớ, dễ thuộc, rất phù hợp với giọng kể chuyện tâm tình. Nghệ thuật ẩn dụ và nhân hóa được sử dụng rất hiệu quả. Hình ảnh "khói chiều cõng một hoàng hôn" và "bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay" là những hình ảnh giàu sức gợi, lãng mạn, thể hiện góc nhìn tinh tế của tác giả. Các hình ảnh thơ rất đỗi chân thực, mộc mạc, được chắt lọc từ cuộc sống đời thường nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Biện pháp tu từ đối lập cũng được sử dụng khéo léo. Sự đối lập giữa "đường về ngày ấy thật gần" (trong ký ức tuổi thơ) và "sau này khi đã lớn lên" (khi đường đời có thể chông chênh) làm nổi bật giá trị vĩnh cửu của những kỷ niệm. Tóm lại, bài thơ "Khói chiều" là một tác phẩm thơ ca đặc sắc. Bằng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi và nghệ thuật biểu đạt tinh tế, tác giả đã vẽ nên một bức tranh quê hương ấm áp tình bà cháu, đồng thời gửi gắm những thông điệp sâu lắng về tình thân và sức mạnh nâng đỡ của ký ức tuổi thơ.



13 tháng 11 2025

Câu 1.

Đoạn trích "Cảnh tượng đau lòng" phơi bày đỉnh điểm bi kịch của Vua Lia, nơi sự sụp đổ về tinh thần lại mở ra một sự thật trần trụi về thế giới. Bằng ngôn ngữ và hành động, Sếch-xpia khắc họa một vị vua đã hoàn toàn hóa điên: lời thoại đứt gãy, phi logic (lúc nói về "con chuột", lúc đòi "thử sức với khổng lồ"), ngoại hình "đeo quấn... hoa đồng cỏ nội". Tuy nhiên, trớ trêu thay, chính trong cơn điên dại ấy, Vua Lia lại đạt đến một sự "khôn ngoan" (như Eđ-ga nhận xét). Khi mất tất cả quyền lực, ông mới nhìn thấu bản chất giả dối của Gô-nơ-rin, Rê-gan ("Chúng nựng ta như con chó nhỏ"), sự bất lực của bản thân ("Ta có chống được cơn sốt rét đâu nào!"), và sự đảo điên của công lý. Ông nhận ra một xã hội mà sự giàu có ("áo mớ bảy mớ ba") có thể che đậy mọi tội lỗi, và quyền lực có thể phi lý ("thiên hạ vâng phép chó"). Cuộc đối thoại với Glô-xtơ mù lòa càng tô đậm bi kịch, khi hai con người mất mát nhất (một người điên, một người mù) lại là những người "thấy" rõ nhất bản chất cuộc đời.