K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (Khoảng 200 chữ): Phân tích đoạn trích

Đoạn trích “Chèo đi rán thứ sáu … Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!” thể hiện nỗi bi ai, cô độc và khát vọng tự do của con người trước thiên nhiên và số phận. Ngôn ngữ tác giả giàu nhịp điệu, giọng điệu bi tráng, gợi cảm giác dồn nén và bức bối. Hình ảnh “biển” vừa là biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, vừa là ẩn dụ cho thử thách, bão tố cuộc đời mà con người phải đối mặt. Qua lời độc thoại, nhân vật bộc lộ tâm trạng kiên cường, quyết liệt và khát khao sống, đồng thời phản ánh sự đấu tranh nội tâm giữa ý chí sống và hoàn cảnh éo le. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang âm hưởng gợi hình, gợi cảm và nhịp điệu câu linh hoạt tạo ra hiệu quả biểu cảm mạnh mẽ, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau, khát vọng và tình yêu cuộc sống của nhân vật. Từ đó, đoạn trích không chỉ tái hiện hoàn cảnh khó khăn mà còn nhấn mạnh sức sống tiềm ẩn và lòng dũng cảm của con người trong nghịch cảnh.


Câu 2 (Khoảng 600 chữ): Giá trị của tình thân trong cuộc sống

Tình thân, bao gồm tình cảm gia đình, quan hệ ruột thịt và sự gắn bó giữa những người thân yêu, là một giá trị tinh thần vô cùng quý báu trong cuộc sống mỗi con người. Nó không chỉ là nơi ta tìm thấy sự che chở, bảo vệ và đồng cảm, mà còn là nguồn động lực tinh thần để vượt qua khó khăn, thử thách. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, mỗi người đều phải đối mặt với áp lực học tập, công việc hay các mối quan hệ phức tạp. Trong bối cảnh ấy, tình thân trở thành bến bờ bình yên, giúp con người cảm thấy an toàn, vững vàng và được yêu thương.

Tình thân còn được thể hiện qua những hành động cụ thể: cha mẹ nhẫn nại nuôi dưỡng, dạy dỗ con; anh chị em chia sẻ, giúp đỡ nhau trong khó khăn; người thân luôn ở bên lúc hoạn nạn, đau ốm hay thất bại. Những giá trị ấy không thể đo bằng vật chất, mà được cảm nhận qua sự quan tâm, sẻ chia và tình yêu thương chân thành. Văn học, điện ảnh hay những câu chuyện đời thường đều minh chứng rằng, tình thân giúp con người giữ được nhân cách, niềm tin và lạc quan trong cuộc sống.

Ngược lại, thiếu tình thân sẽ khiến con người cô độc, mất phương hướng và dễ chán nản. Chính vì vậy, việc duy trì, nuôi dưỡng tình thân là điều cần thiết. Mỗi người cần biết trân trọng gia đình, quan tâm và sẻ chia với người thân, bởi chỉ khi có tình thân, con người mới cảm nhận trọn vẹn hạnh phúc, nghị lực và ý nghĩa cuộc sống.

Tóm lại, tình thân là nguồn sức mạnh tinh thần, chỗ dựa bền vững và ánh sáng dẫn lối cho con người trong hành trình sống. Dù cuộc sống có bộn bề, khó khăn hay thử thách, tình thân vẫn là giá trị vĩnh hằng, giúp mỗi chúng ta vượt qua nghịch cảnh và hoàn thiện nhân cách.

13 tháng 11 2025


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Chèo đi rán(1) thứ sáuThấy nước vằn mông mốcXé nhau đục vật vờChèo đi thôi, chèo đi!Một người cầm cán dầm cho vững,Nước cuộn thác chớ loBiển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.Chèo đi rán thứ bảy,Nước ác kéo ầm ầm,Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăngChực ăn người...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Chèo đi rán(1) thứ sáu

Thấy nước vằn mông mốc

Xé nhau đục vật vờ

Chèo đi thôi, chèo đi!

Một người cầm cán dầm cho vững,

Nước cuộn thác chớ lo

Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.

Chèo đi rán thứ bảy,

Nước ác kéo ầm ầm,

Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,

Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăng

Chực ăn người đi biển,

Chực nuốt tảng(3) nuốt thuyền

Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế,

Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân.

Có bạc mới được qua.

Chèo đi rán thứ tám,

Nước đổ xuống ầm ầm,

To hơn bịch đựng lúa.

Nước xoáy dữ ào ào,

Nước thét gào kéo xuống Long Vương.

Nhanh nhanh tay chèo sang qua khỏi.

Chèo đi rán thứ chín,

Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,

Khắp mặt biển nước sôi gầm réo.

Biển ơi, đừng giết tôi,

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,

Đừng cho thuyền lật ngang,

Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!

Chèo đi rán thứ mười,

Thuyền lướt theo nước trời băng băng,

Cánh dầm tung bốn góc

Rán lại rán bay đi…

Chèo đến rán mười một,

Sóng đuổi sóng xô đi

Nước đuổi về sau lưng.

Chèo mau lên, chèo cố

Cho thuyền đến cửa biển ta dừng,

Cho thuyền đến bãi cát vàng bình an.

Chèo đi rán mười hai,

– A! Bờ biển kia rồi,

Ta chèo mau lên thôi,

Chèo mau lên, hỡi người trai trẻ!

Trai trẻ hãy lắng tai,

Trai trẻ nghe tôi bảo,

Lại đây nghe tôi dạy:

– Mau lên ta kéo thuyền vào cạn,

Cùng lôi tảng vào bến,

Kéo thuyền vào bãi cát chói hồng,

Kéo thuyền vào bãi bướm vàng vờn bay!

– Mời nàng hương(4) hai cô

Mời em hãy ôm hoa lên bến,

Mời nàng hãy ôm hương hầu slay

Quân quan lên “bời bời”(5)

Đàn bà cầm nón ra thuyền

Đàn ông cầm ô lên bến

Tay trái xách giày hoa ra tảng,

Tay phải xách giày đẹp lên bờ,

Gánh gồng lên rầm rập theo slay(6),

Bao của quý khiêng lên đi lễ người.

Mười hai rán nước nay đã qua rồi,

Bây giờ mới biết tôi sống sót.

Binh mã(7) slay rầm rập

Kéo vào chợ Đường Chu(8)

Sau lưng trơ lại tôi

Ngồi bên bờ biển đất trời mênh mông,

Tự than thân trách phận,

Cay đắng lắm đời sa dạ sa dồng(9).

Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung…

(Trích Vượt biển, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam − Tập IV, tr.887 889)

Chú thích: 

(1) Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm đe doạ những người chèo mảng.

(2) Ngọ lồm: Quỷ vô hình.

(3) Tảng: Loại mảng rất kiên cố có thể đi biển được.

(4) Nàng hương: Nàng hầu của quan slay. Trong thực tế, đây là hai cô gái đẹp chưa chồng, đến phục dịch trà thuốc cho thầy pụt cúng. Theo quan niệm mê tín cũ, những cô gái này khi chết cũng vẫn làm nàng hầu cho quan slay ở xứ ma.

(5) Bời bời: Đông đúc.

(6) Slay: Quan cai trị ở “cõi ma” (âm phủ).

(7) Binh mã: Xe ngựa, quân lính nơi cõi âm. 

(8) Chợ Đường Chu: Chợ ở “xứ ma”.   

(9) Sa dạ sa dồng: Những người làm phu phen đầy tớ cho các quan slay ở cõi âm.

Tóm tắt: Vượt biển là truyện thơ dân gian của dân tộc Tày – Nùng, dài khoảng 1000 câu thơ. Nội dung như sau: Có hai anh em mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau. Người anh sau này khi lấy vợ thì trở nên lạnh nhạt, bỏ mặc em sống nghèo đói. Người chị dâu thương tình, vá áo cho em chồng, chẳng may làm in những ngón tay đang nhuộm chàm lên lưng áo rách. Người anh ghen tuông khiến em bị chết oan ức. Linh hồn em không nơi nương tựa, bị các quan slay ở cõi âm bắt làm sa dạ sa dồng – phu chèo thuyền vượt biển. Mỗi lần vượt biển phải trải qua hành trình mười hai rán nước vô cùng hiểm nguy. Tác phẩm này được các thầy cúng đọc trong các lễ cầu hồn, cầu mát, được phổ biến rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, Bắc Kạn.

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.

Câu 2. Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?

Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?

Câu 5. Những âm thanh nào được thể hiện trong đoạn thơ: Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền? Những âm thanh đó gợi cho em cảm xúc gì?

107
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản


Người kể trong văn bản là người kể thứ nhất, tức nhân vật “tôi” trong truyện. Nhân vật kể lại chính trải nghiệm của mình khi vượt biển, diễn tả trực tiếp cảm giác sợ hãi, lo lắng và cố gắng vượt qua nguy hiểm. Cách kể này giúp người đọc cảm nhận chân thực và sống động hành trình gian nan của nhân vật.


Câu 2. Hình ảnh “biển” trong văn bản có đặc điểm gì?


Hình ảnh biển trong văn bản được miêu tả hung dữ, dữ dội và nguy hiểm:


Biển “nước cuộn thác”, “nước ác kéo ầm ầm”, “nước dựng đứng chấm trời”, “nước sôi gầm réo”.


Biển vừa là thực tại hiểm nguy, vừa là biểu tượng cho thử thách, bão tố của cuộc đời mà con người phải vượt qua.


Biển cũng là đối tượng mà nhân vật phải cầu xin, thuyết phục, thể hiện mối quan hệ con người – thiên nhiên đầy căng thẳng và khát vọng sống.


Câu 3. Chủ đề của văn bản


Chủ đề của văn bản là: khát vọng sống, sức mạnh vượt qua thử thách và ý chí kiên cường của con người trước thiên nhiên và số phận. Đồng thời, truyện cũng phản ánh niềm tin vào cõi tâm linh và các nghi lễ dân gian trong đời sống tinh thần của người Tày – Nùng.


Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?


Các rán nước (từ rán thứ sáu đến rán thứ mười hai) là biểu tượng cho những thử thách, khó khăn và hiểm nguy liên tiếp mà con người phải đối mặt trong cuộc đời. Mỗi rán nước là một chặng đường gian nan, đòi hỏi ý chí, sự kiên trì và khả năng vượt khó. Chúng tượng trưng cho sự đấu tranh không ngừng để giành lại cuộc sống và tự do, đồng thời phản ánh quan niệm nhân quả và thử thách trong tín ngưỡng dân gian.


Câu 5. Những âm thanh và cảm xúc được gợi lên trong đoạn:


“Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?”


Âm thanh được thể hiện:


“nước sôi gầm réo” → âm thanh dữ dội, vang rền của sóng biển.


Tiếng cầu cứu của nhân vật: “Biển ơi, đừng giết tôi, Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?” → âm thanh kêu van, lo sợ.


Cảm xúc gợi lên:


Sợ hãi, căng thẳng, lo lắng trước hiểm nguy.


Khát vọng sống mạnh mẽ, cầu mong an toàn.


Đồng thời tạo cảm giác kịch tính và hồi hộp cho người đọc, giúp nhập vai vào hành trình gian nan của nhân vật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Người kể trong văn bản là người xưng "tôi", xuất hiện trực tiếp qua các câu "Biển ơi, đừng giết tôi", "bây giờ mới biết tôi sống sót", "Sau lưng trơ lại tôi". Đối chiếu với phần tóm tắt, người kể chính là linh hồn của người em trai đã chết oan, bị bắt làm sa dạ sa dồng (phu chèo thuyền) ở cõi âm.

13 tháng 11 2025

Đâu ai biết em ở tỉnh nào đâu em ơi @@

13 tháng 11 2025

Tỉnh tôi hôm nay

Sông xanh uốn quanh phố nhỏ,
Núi cao vươn mình giữa nắng hồng.
Người đi chợ, tiếng cười rộn rã,
Làng xóm hòa nhịp với thành phố đông.

Bao năm sáp nhập, cùng chung nhịp,
Tình đất, tình người thêm gần gũi.
Tỉnh tôi giờ rực rỡ sắc mới,
Chào ngày mai, sáng tươi hạnh phúc ngời.

các bn thấy hay thì tick cho mik nhé❗

12 tháng 11 2025

Phép nhân hóa trong khổ thơ (mây “sầu”, gió “thảm”) làm cho thiên nhiên như mang tâm trạng con người, cùng chia sẻ nỗi đau và bất bình trước cảnh đất nước bị xâm lăng. Nhờ đó, nỗi uất hận và lòng yêu nước của tác giả được thể hiện sâu sắc, sinh động hơn.


tick cho mik nhé❗

13 tháng 11 2025

Trong dòng văn học yêu nước đầu thế kỷ XX, "Hai chữ nước nhà" của Trần Tuấn Khải là một tác phẩm nổi bật, lay động lòng người. Bài thơ là lời tâm huyết của một người cha (hoặc người vợ) tiễn con (chồng) ra đi làm nhiệm vụ cứu nước. Đặc biệt, trong khổ thơ đầu, bằng việc sử dụng phép tu từ nhân hóa đặc sắc qua hình ảnh "mây sầu" và "gió thảm", tác giả đã vẽ nên một bức tranh non sông đầy bi phẫn trong bối cảnh đất nước bị xâm lược.

Nếu trong văn học cổ, mây, gió thường được nhân hóa để thể hiện nỗi buồn tình riêng, thì trong khổ thơ này, chúng mang một tầm vóc và ý nghĩa lớn lao hơn nhiều. Bối cảnh của tác phẩm là khi đất nước đang chìm trong đêm đen nô lệ, "ải Bắc" và "trời Nam" không còn là không gian của sự chia ly cá nhân, mà là hình ảnh hoán dụ cho toàn bộ lãnh thổ đất nước đang bị giày xéo.

Trước hết, phép nhân hóa "mây sầu" và "gió thảm" đã biến thiên nhiên vô tri thành một thực thể có linh hồn, đang quằn quại trong nỗi đau chung của dân tộc. Đây không phải là cái buồn lãng mạn, mà là nỗi sầu của non sông, nỗi bi thảm của một quốc gia mất chủ quyền. Cả bầu trời, từ Bắc chí Nam, đều bao trùm một không khí "âm đạm", "đìu hiu" tang tóc. Thiên nhiên cũng đang đau đớn, u uất trước cảnh đất nước bị xâm lược.

Phép nhân hóa này không chỉ dừng lại ở việc diễn tả nỗi buồn, mà còn có tác dụng khơi gợi lòng căm phẫn. Nỗi "sầu", "thảm" ấy kết hợp với những âm thanh đầy hãi hùng, man rợ "Bốn bề hổ thét chim kêu" (hình ảnh ẩn dụ cho quân xâm lược tàn bạo và bè lũ tay sai) đã tạo nên một bức tranh thực tại ngột ngạt, bi phẫn.

Quan trọng nhất, tất cả cảnh vật đó khi được nhìn ngắm không phải để người ta chìm đắm trong bi lụy, mà có tác dụng "như khêu bất bình". Đây chính là điểm mấu chốt. Nỗi buồn của thiên nhiên, sự tàn bạo của kẻ thù đã trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, khơi dậy sự phẫn uất, lòng căm thù giặc và nỗi bất bình sâu sắc trong lòng người. Nó không phải là sự than vãn, mà là một lời tố cáo đanh thép thực tại, nung nấu ý chí phải hành động

Phép nhân hóa "mây sầu" và "gió thảm" trong khổ thơ của Trần Tuấn Khải là một thủ pháp nghệ thuật vô cùng đắt giá. Nó đã thành công trong việc biến nỗi đau của thiên nhiên thành nỗi đau của đất nước, từ đó khơi gợi trực tiếp lòng yêu nước, ý thức dân tộc và sự bất bình trước cảnh nô lệ, đúng với tinh thần chủ đạo của một bài thơ yêu nước cách mạng.

13 tháng 11 2025

Hmm, đây là một câu ghép và đã có đủ 2 động từ chính rồi á em, nên không có thiếu đâu.

13 tháng 11 2025

hurt ở đây là verb rồi em nhé

12 tháng 11 2025
Văn bản "Những cái nhìn hạn hẹp" không phải là tên của một bài đọc cụ thể, mà là tên một chủ đề bài học (Chủ đề 2: Bài học cuộc sống) trong chương trình môn Ngữ văn lớp 7, bộ sách Chân trời sáng tạo.  Chủ đề này tập hợp các văn bản thuộc thể loại truyện ngụ ngôn Các bài đọc chính trong chủ đề "Những cái nhìn hạn hẹp" (hoặc trong bài học liên quan) thường bao gồm hai truyện ngụ ngôn nổi tiếng của Việt Nam:
  1. Ếch ngồi đáy giếng
  2. Thầy bói xem voi 
Mỗi câu chuyện này mang đến một bài học sâu sắc về việc nhìn nhận, đánh giá sự vật, sự việc một cách phiến diện, một chiều, từ đó khuyên nhủ con người cần có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn trong cuộc sống.
12 tháng 11 2025

✍️ Câu 1: Đoạn văn nêu cảm xúc về bài thơ "Mùa về" (khoảng 200 chữ)

Bài thơ “Mùa về” của Phạm Xuân Am đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp lao động và tình quê hương. Những hình ảnh chân thực như “sàng rơm, sảy thóc”, “liềm hái ra đồng”, “giòn tan cối vỗ” gợi lên khung cảnh nhộn nhịp, rộn ràng của ngày mùa nơi làng quê. Em cảm nhận được sự vất vả, nhọc nhằn nhưng đầy niềm vui của người nông dân khi gặt hái thành quả sau bao ngày chăm sóc ruộng đồng. Đặc biệt, hai câu thơ “Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông” khiến em xúc động bởi sự hy sinh thầm lặng và sức mạnh phi thường của người nông dân. Họ không chỉ làm ra hạt lúa mà còn nuôi dưỡng cả sự sống. Bài thơ không chỉ là lời ca ngợi lao động mà còn là bản hòa ca của tình yêu quê hương, của niềm tin vào cuộc sống. Em thấy thêm yêu những người nông dân, yêu quê hương và trân trọng giá trị của lao động chân chính.


🌕 Câu 2: Bài văn tả cảnh sinh hoạt ngày Tết Trung thu ở quê em

Tết Trung thu ở quê em là một dịp lễ hội rộn ràng và đầy màu sắc, khiến ai cũng háo hức mong chờ. Ngay từ chiều, khắp xóm làng đã rộn rã tiếng cười nói, tiếng trống múa lân vang lên tưng bừng. Trẻ con tụ tập trong sân đình, tay cầm đèn ông sao, đèn kéo quân, đèn cá chép lung linh sắc màu. Những chiếc bánh nướng, bánh dẻo được bày biện đẹp mắt trên mâm cỗ, bên cạnh là chuối, bưởi, mãng cầu – những loại quả đặc trưng của mùa thu.

Khi trăng lên cao, cả làng như sáng bừng dưới ánh trăng tròn vành vạnh. Đoàn múa lân bắt đầu biểu diễn, tiếng trống rộn ràng, tiếng reo hò vang dội. Người lớn ngồi trò chuyện, trẻ con chạy nhảy, hát vang bài “Chiếc đèn ông sao” đầy vui tươi. Không khí Trung thu thật ấm áp, chan hòa tình thân. Em cảm thấy hạnh phúc khi được sống trong một miền quê yên bình, nơi những giá trị truyền thống vẫn được gìn giữ qua từng mùa trăng rằm.



24 tháng 12 2025

câu 1 ngày mùa ở quê em vui lắm sáng sớm mọi người đã lô nức ra đồng để găt lúa về, những bông lúc chín vàng óng nhìn từ xa những bác nông dân đang hăng say găt lúc những bông lúc chín vàng óng bao công sức của người nông dân bỏ ra thật sứng đáng ,người găt người gánh nhìn những nụ cười của các bác nông dân cũng xua đi những vất vả mệt nhọc vì bao công sức của mình làm ra đều được đên đáp xứng đáng những hạt lúa vàng mang lại sự ấm lo người nông dân

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. MÙA VỀ Quê tôi nhộn nhịp ngày mùa Lúa còn nện cối, gà vừa sang canh Sàng rơm, sảy thóc nhanh nhanh Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng Tinh mơ liềm hái ra đồng Bồng cây lúa đứng, ôm bông lúa vàng Mưa rào trút giữa tháng năm Sân...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

MÙA VỀ

Quê tôi nhộn nhịp ngày mùa
Lúa còn nện cối, gà vừa sang canh
Sàng rơm, sảy thóc nhanh nhanh
Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng

Tinh mơ liềm hái ra đồng
Bồng cây lúa đứng, ôm bông lúa vàng
Mưa rào trút giữa tháng năm
Sân trôi thóc nổi, áo đầm mồ hôi

Hai tay dưỡng đất, nuôi trời
Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông
Da hun nước ruộng, đất đồng
Giòn tan cối vỗ, nức lòng trục lăn

Vội vàng giấc ngủ, bữa ăn
Giêng, Hai,… đón hội, vui rằm bõ công
Cót đầy, thóc đủ, yên lòng
Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về

(Phạm Xuân Am)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Chỉ ra ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa được nhắc đến trong văn bản.

Câu 3. Những dòng thơ "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảng trời bão giông" gợi cho em cảm nhận gì về người nông dân?

Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong dòng thơ "Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng".

Câu 5. Từ tinh thần "Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về" của người nông dân trong bài thơ, em rút ra được bài học gì cho bản thân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

18
12 tháng 11 2025

✅ Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. Bài thơ thể hiện cảm xúc trân trọng, ngợi ca người nông dân qua hình ảnh lao động và không khí ngày mùa.


🌾 Câu 2: Ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa

Ba hoạt động lao động được nhắc đến trong bài thơ:

  • Sàng rơm, sảy thóc: làm sạch và phân loại hạt lúa.
  • Gặt lúa bằng liềm hái: thu hoạch lúa ngoài đồng.
  • Nện cối, trục lăn: giã lúa, xay thóc để lấy gạo.


💪 Câu 3: Cảm nhận về người nông dân qua hai dòng thơ

Hai dòng thơ “Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông” gợi cảm nhận:

  • Người nông dân hiện lên vừa nhỏ bé giữa thiên nhiên, vừa vĩ đại trong sức lao động.
  • Họ gắn bó với đất trời, chịu đựng gian khổ, bão giông nhưng vẫn kiên cường, bền bỉ.
  • Hình ảnh mang tính biểu tượng, ca ngợi vai trò to lớn và phẩm chất cao đẹp của người nông dân.


✨ Câu 4: Biện pháp tu từ và tác dụng

Dòng thơ “Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng” sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và điệp từ “thêm”.

  • “Vàng hạt lúa” tượng trưng cho thành quả lao động.
  • “Xanh giấc nồng” là hình ảnh ẩn dụ cho sự bình yên, hạnh phúc.
  • Tác dụng: Nhấn mạnh mối liên hệ giữa lao động và cuộc sống, cho thấy niềm vui, sự mãn nguyện khi mùa về.


🌱 Câu 5: Bài học rút ra từ tinh thần người nông dân

Từ tinh thần “Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về”, em rút ra bài học:

Dù cuộc sống có vất vả, khó khăn, ta vẫn cần giữ vững niềm tin và sự kiên trì. Thành quả chỉ đến với những ai biết nỗ lực không ngừng. Em học được rằng phải trân trọng lao động, sống có trách nhiệm và luôn hướng về những giá trị bền vững trong cuộc sống.



12 tháng 11 2025

✅ Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. Bài thơ thể hiện cảm xúc trân trọng, ngợi ca người nông dân qua hình ảnh lao động và không khí ngày mùa.


🌾 Câu 2: Ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa

Ba hoạt động lao động được nhắc đến trong bài thơ:

  • Sàng rơm, sảy thóc: làm sạch và phân loại hạt lúa.
  • Gặt lúa bằng liềm hái: thu hoạch lúa ngoài đồng.
  • Nện cối, trục lăn: giã lúa, xay thóc để lấy gạo.


💪 Câu 3: Cảm nhận về người nông dân qua hai dòng thơ

Hai dòng thơ “Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông” gợi cảm nhận:

  • Người nông dân hiện lên vừa nhỏ bé giữa thiên nhiên, vừa vĩ đại trong sức lao động.
  • Họ gắn bó với đất trời, chịu đựng gian khổ, bão giông nhưng vẫn kiên cường, bền bỉ.
  • Hình ảnh mang tính biểu tượng, ca ngợi vai trò to lớn và phẩm chất cao đẹp của người nông dân.


✨ Câu 4: Biện pháp tu từ và tác dụng

Dòng thơ “Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng” sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và điệp từ “thêm”.

  • “Vàng hạt lúa” tượng trưng cho thành quả lao động.
  • “Xanh giấc nồng” là hình ảnh ẩn dụ cho sự bình yên, hạnh phúc.
  • Tác dụng: Nhấn mạnh mối liên hệ giữa lao động và cuộc sống, cho thấy niềm vui, sự mãn nguyện khi mùa về.


🌱 Câu 5: Bài học rút ra từ tinh thần người nông dân

Từ tinh thần “Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về”, em rút ra bài học:

Dù cuộc sống có vất vả, khó khăn, ta vẫn cần giữ vững niềm tin và sự kiên trì. Thành quả chỉ đến với những ai biết nỗ lực không ngừng. Em học được rằng phải trân trọng lao động, sống có trách nhiệm và luôn hướng về những giá trị bền vững trong cuộc sống.


12 tháng 11 2025


12 tháng 11 2025

chơi ff ko

12 tháng 11 2025

Câu 1: Phân tích nhân vật người cha trong “Buổi đầu tiên học trường Yên Phụ” – Nguyễn Hiến Lê

Trong truyện, người cha hiện lên là một hình ảnh đầy yêu thương và tận tâm. Ông luôn quan tâm, chăm sóc con một cách tỉ mỉ: từ việc chuẩn bị quần áo, sách vở cho đến dặn dò con trong ngày đầu tiên đi học. Bên cạnh đó, ông còn là tấm gương về sự nghiêm khắc và nguyên tắc, khéo léo hướng con vào khuôn phép nhưng không áp đặt. Sự chu đáo, kiên nhẫn và tình yêu thương của người cha khiến nhân vật “tôi” cảm thấy ấm áp, an tâm và tự tin khi bước vào ngôi trường mới. Qua đó, Nguyễn Hiến Lê đã khắc họa thành công hình ảnh người cha vừa gần gũi vừa uy nghiêm, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con trẻ.

(Đoạn này khoảng 130–150 chữ, đủ cho phần đọc hiểu.)


Câu 2: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc với thầy cô, bạn bè ở trường tiểu học

Ngày đầu tiên đi học tiểu học, em vẫn còn nhớ rõ cảm giác bỡ ngỡ khi bước vào lớp. Cô giáo chủ nhiệm với nụ cười hiền hậu đã chào đón từng học sinh, giúp em làm quen bạn bè mới. Một kỉ niệm khiến em không thể quên là khi em vô tình làm đổ mực ra bàn, cô nhẹ nhàng dạy em cách lau dọn và động viên: “Lần sau sẽ cẩn thận hơn nhé”. Bạn bè trong lớp cũng chạy đến giúp em, khiến em cảm thấy ấm áp và được chào đón. Khoảnh khắc ấy không chỉ giúp em học cách tự lập mà còn cho em cảm nhận sâu sắc tình cảm thầy trò, bè bạn – tình cảm đầu đời mà em luôn trân trọng.

18 tháng 12 2025

1. Cho quê mà tác giả muốn nói là sự yên bình và nôn lúc của chợ quê