(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:
PHỞ
− Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được. Trong một ngày ăn thêm một bát phở, cũng như lúc trò chuyện ăn giọng nhau mà pha thêm một ấm trà, cùng thưởng thức với bạn bè. Hình như không ai nỡ từ chối một người quen rủ đi ăn phở. Phở giúp cho người thanh bạch đủ điều kiện biểu hiện lòng thành theo với bầu bạn nó hợp với cái túi nhỏ của mình. Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thuý. Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại. Trong một ngày mùa đông của người nghèo, bát phở có giá trị như một tấm áo kép mặc thêm lên người. Đêm đông, có người ăn phở xong, tự coi như vừa nuốt được cả một cái chăn bông và tin rằng có thể ngủ yên đến sáng, để mai đi làm khoẻ. […]
− Phở cũng có những quy luật của nó. Như tên các hàng phở, hiệu phở. Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu, ví dụ phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở Trưởng ca, phở Tư,… Có khi một cái tên tật nguyền trên thân thể người bán phở được cảm tình quần chúng thân mật nhắc lại thành một cái tên hiệu: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt,… cái khuyết điểm trên hình thù ấy đã chuyển thành một cái uy tín trong nghề bán miếng chín mà lưu danh một thời trên cửa miệng những người sành. Quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Hà Nội có nhiều sáng kiến để đặt tên cho những người họ yêu tin. […]
[…] Hương vị phở vẫn như xa xưa, nhưng cái tâm hồn người ăn phở ngày nay, đã sáng sủa và lành mạnh hơn nhiều … Ngày trước, anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dày giò đêm đông tội lỗi trong ngõ khuất; có người rao lên nghe vui rền. Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi? Có những lúc, tôi muốn thu thanh vào đĩa, tất cả những cái tiếng rao hàng quà rong của tất cả những thứ quà rong, của tất cả những thư quà miếng chín trên toàn cõi quê hương chúng ta. Những tiếng rao ấy, một phần nào vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung của chúng ta đấy.
[…] Đêm Hà Nội, nay thức khuya nhất vẫn là những hiệu phở […] Và cái món ăn Hà Nội đầu tiên … vẫn là cái món phở ngày xưa chúng ta vẫn ăn đủ cả rau mùi hành hoa đủ chua cay và sôi sùng sục. Tôi biết ở Nam Bộ vẫn có phở, phở hủ tíu, nhưng bát phở Bắc ăn ở đầu hè di cư không bao giờ có thể ngon được bằng bát phở cổ truyền Hà Nội ăn ngay bên lò than quả bàng đỏ lửa giữa ngàn năm văn vật này.
(Trích tùy bút Phở − Nguyễn Tuân, Báo Văn số 1, 10-5-1957, và số 2, 17-5-1957. In lại trong Cảnh sắc và hương vị đất nước, NXB Tác Phẩm Mới, 1988)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là gì?
Câu 2. Theo tác giả, việc đặt tên của các quán phở bao gồm những quy luật nào?
Câu 3. Tác giả đã nói về phở trên những phương diện nào? Qua những phương diện đó, hãy nêu nhận xét của em về cái nhìn của tác giả đối với món ăn này.
Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của văn bản.
Câu 5. Qua văn bản, tác giả thể hiện tình cảm gì đối với món ăn thấm đượm tinh thần dân tộc này?
Người bố trong đoạn văn hiện lên thật xúc động – một người cha nghèo, chất phác nhưng chứa đựng tình yêu thương bao la dành cho con. Ông sống nơi núi rừng heo hút, vậy mà tuần nào cũng xuống đồng bằng chỉ để nhận thư của con. Ông không biết đọc, nhưng lại “xem từng con chữ, chạm vào nó rồi ép vào khuôn mặt đầy râu”, như thể muốn cảm nhận hơi ấm và niềm vui của con qua từng nét bút. Câu nói “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả” vừa giản dị vừa thấm đẫm tình cha con sâu nặng. Người cha ấy thương con không bằng lời nói, mà bằng những hành động nhỏ bé, âm thầm mà lớn lao. Khi ông mất đi, tình yêu ấy vẫn còn nguyên vẹn, trở thành điểm tựa, thành nguồn sức mạnh nâng bước người con trên đường đời.
Trong đoạn trích, nhân vật người bố hiện lên là một hình ảnh cao đẹp, đại diện cho tình phụ tử thầm lặng và sâu sắc. Dù sống ở nơi "núi đồi hiểm trở" và không biết chữ, nhưng sự quan tâm ông dành cho con lại vô cùng tỉ mỉ. Chi tiết ông mặc chiếc áo "phẳng phiu nhất" mỗi khi xuống núi nhận thư cho thấy sự trân trọng tuyệt đối đối với những gì thuộc về con. Dù không đọc được nội dung, ông vẫn "chạm tay vào từng con chữ", "ép vào khuôn mặt đầy râu" – những cử chỉ ấy bộc lộ một sự kết nối tâm linh kỳ diệu; ông không đọc bằng mắt mà đọc bằng cả trái tim. Câu nói: "Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả" là minh chứng cao nhất cho sự thấu hiểu và tin yêu. Người bố ấy đã nâng niu từng lá thư như báu vật, lưu giữ hành trình trưởng thành của con từ những nét chữ "non nớt" đầu đời. Dù kết thúc đoạn trích, người bố đã qua đời, nhưng tình yêu thương bao la ấy vẫn là điểm tựa tinh thần vững chãi, tiếp sức cho người con trên mọi nẻo đường đời.