trình bày các xác định phương hướng trên bản đồ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Các ngành nông, lâm, ngư nghiệp phát triển và phân bố chịu tác động bởi hai nhóm yếu tố chính: - Nhóm yếu tố tự nhiên: Khí hậu, đất, nước, rừng, ngôn ngừa và nguồn lợi sinh vật quyết định loại cây trồng, vật nuôi và phương thức khai thác. Địa hình cao thích hợp trồng cây lâm nghiệp, đồng bằng phù sa thuận lợi trồng lúa, cây lương thực; nguồn nước biển, sông hồo ảnh hưởng tới nuôi trồng thuỷ sản. - Nhóm yếu tố kinh tế – xã hội: Dân cư và lao động cung cấp nhân lực; kinh nghiệm, triức học kỹ thuật quyết định năng suất; cờ sở vật chất như giao thông, thủy lợi, chế biến bảo quản giúp tiêu thụ; chính sách nhà nước, nhu cầu thị trường và xu hướng hội nhập cũng hướng dẫn sự lựa chọn cây, con giống và định hướng phát triển.
Một số ví dụ về ảnh hưởng của địa hình đồi núi tới các hoạt động kinh tế ở vùng đồng bằng và ven biển: - Ở vùng đồng bằng, các dãy núi, đồi ở thượng nguồn là nơi hình thành sông ngòi, cung cấp phù sa và nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. Nhờ nguồn nước từ đồi núi, các đồng bằng như sông Hồng, sông Mê Kông có điều kiện phát triển nông nghiệp lương thực. - Địa hình đồi núi còn cung cấp nguyên liệu: gỗ, khoáng sản, vật liệu xây dựng cho các khu công nghiệp đồng bằng; tạo điều kiện cho việc phát triển công nghiệp khai khoáng, thủy điện ở miền núi và cung ứng điện năng cho đồng bằng. - Các sườn đồi dốc đổ ra biển tạo nên những bờ biển khúc khuỷu, vịnh, đầm phá, thuận lợi để xây dựng cảng biển, phát triển nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và du lịch cảnh quan (vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang...). - Tuy nhiên, địa hình đồi núi cao đột ngột ra sát biển cũng gây trở ngại cho giao thông đường bộ dọc bờ biển, phải xây dựng nhiều đèo dốc như đèo Hải Vân, Cả để nối giao thông giữa các đồng bằng ven biển. Như vậy, địa hình đồi núi vừa đem lại nguồn lợi (phù sa, thủy sản, tài nguyên, du lịch) vừa tạo ra những khó khăn cần khắc phục trong khai thác kinh tế ở đồng bằng và ven biển.
Tọa độ địa lý là một hệ thống sử dụng vĩ độ và kinh độ để xác định vị trí chính xác của một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất
Dân số già hóa vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Việt Nam cần có chính sách phù hợp như khuyến khích sinh con, tận dụng nguồn lao động cao tuổi có kinh nghiệm, và phát triển hệ thống chăm sóc, an sinh xã hội bền vững.
Già hóa dân số đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực lao động, y tế, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Dưới đây là những ảnh hưởng cụ thể:
1. Suy giảm lực lượng lao động
- Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm, trong khi số người cao tuổi tăng nhanh, làm mất cân đối cơ cấu dân số.
- Điều này dẫn đến thiếu hụt nhân lực, đặc biệt trong các ngành sản xuất, dịch vụ và công nghệ.
2. Gánh nặng tài chính và an sinh xã hội
- Chi phí chăm sóc sức khỏe và trợ cấp xã hội tăng cao do nhu cầu của người cao tuổi ngày càng lớn.
- Ngân sách nhà nước phải chi nhiều hơn cho bảo hiểm y tế, hưu trí và dịch vụ xã hội, ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục, hạ tầng và phát triển.
- 3. Áp lực lên hệ thống y tế
- Người cao tuổi thường mắc bệnh mãn tính, cần chăm sóc dài hạn, gây quá tải cho bệnh viện và nhân lực y tế.
- Đòi hỏi phải phát triển mô hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng và dịch vụ y tế chuyên biệt cho người già.
4. Tác động đến tăng trưởng kinh tế
- Già hóa dân số làm giảm năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng GDP ở nhiều tỉnh thành.
- Các địa phương có tỷ lệ người già cao thường có mức tăng trưởng kinh tế chậm hơn, do thiếu lực lượng lao động trẻ và sáng tạo.
5. Thách thức về đổi mới và sáng tạo
- Xã hội già hóa có xu hướng bảo thủ hơn, ít chấp nhận rủi ro và đổi mới, ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công nghệ mới và xu hướng toàn cầu.
6. Mức sinh thấp làm trầm trọng thêm vấn đề
- Tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam năm 2024 chỉ đạt 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế.
- Điều này khiến dân số già hóa nhanh hơn, làm giảm số lượng người trẻ trong tương lai.
Giải pháp đang được đề xuất trong Dự thảo Luật Dân số bao gồm: chuyển trọng tâm từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển”, đầu tư vào phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của người dân, và xây dựng chính sách thích ứng với già hóa dân số
Các loại nông sản có thể ăn được:
1, Các loại rau: Rau cải, rau muống, rau mùng tơi, rau dền, rau đay, rau thơm..
2, Các loại quả: Xoài, na, mít, ổi, xu xu, bí đao, sầu riêng...
3; Các loại củ: Xu hào, khoai tây, khoai lang, nghệ, gừng...
vĩ tuyến là những đường tròn trên quả Địa Cầu vuông góc với kinh tuyến. Các vĩ tuyến đều song song với nhau.
Vĩ tuyến là các đường tròn tưởng tượng nối tất cả các điểm có cùng vĩ độ, chạy theo hướng đông-tây trên bề mặt Trái Đất. Vĩ độ là góc giữa một điểm với mặt phẳng xích đạo và được đo bằng độ, phút, giây. Xích đạo (\(0^{o}\) ) là vĩ tuyến gốc, chia Trái Đất thành hai bán cầu Bắc và Nam.
- Có 8 hướng chính: B-N-Đ-T, ĐB, ĐN, TN, TB.
- Xác định phương hướng dựa vào kinh, vĩ tuyến:
+ Đầu phía trên và phía dưới KT chi hướng bắc, nam.
+ Đầu bên phải và bên trái VT chỉ các hướng đông, tây.
- Xác định phương hướng căn cứ vào mũi tên chỉ hướng Bắc, sau đó tìm các hướng khác.