K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

31 tháng 10 2025

Nam Cao, ngòi bút hiện thực xuất sắc, đã xây dựng nhân vật Chí Phèo như một hình tượng điển hình của người nông dân bị tha hoá. Chí Phèo vốn là một anh nông dân hiền lành nhưng bị chế độ phong kiến và bọn cường hào áp bức đã biến hành một kẻ say rượu, chỉ biết rạch mặt ăn vạ. Hắn lang thang ở đầu chợ cuối làng, chừi cả làng Vũ Đại trong cơn say để mong có người đáp lại, nhưng cuối cùng chỉ nhận lại sự cô đơn. Bi kịch lớn nhất của Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: hắn bị đẩy ra khỏi cộng đồng, mất nhân tính và cả khi thức tỉnh, khao khát làm người lương thiện thì cũng bị từ chối. Tình yêu ngắn ngủi với Thị Nở đã nhen nhóm trong hắn ước mơ về một mái ấm, về bát cháo hành ấm áp tình người, nhưng sự ghê sợ của bà cô Thị Nở đã khiến ước mơ ấy vụt tắt. Không tìm thấy con đường trở lại làm người, Chí Phèo đã giết Bá Kiến và kết liễu đời mình. Cái chết của hắn là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến thối nát đã cước đi quyền làm người của người nông dân. Liên hệ với số phận của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, ta thấy Nam Cao vẫn luôn đau đáu trước nỗi đau của người nông dân. Lão Hạc nghèo khổ, vợ mất sớm, con trai đi làm đồn điền, chỉ còn lại mảnh vườn và con chó vàng làm kỷ vật. Vì giữ mảnh vườn cho con, lão sống chật vật đến mức phải bán con chó – người bạn thân thiết – rồi sau đó ăn bả chó để tự tử, tránh phải dựa dằm hay ăn cắp của ai. Nếu Chí Phèo bị xã hội tha hoá làm mất quyền làm người thì Lão Hạc lại giữ trọng nhân phẩm trong nghèo đói, chấp nhận cái chết để bảo toàn lòng tự trọng. Hai số phận đối lập nhưng đều cho thấy tình thương yêu sâu sắc của Nam Cao với người nông dân: ông lên án xã hội phong kiến tàn bạo khiến con người hoặc bị tha hoá, hoặc bị dồn đến bước đường cùng; đồng thời trân trọng vẻ đẹp của những con người lam lũ, dù bị đẩy đến tận cùng vẫn giữ được tình người. Qua đó, Nam Cao khẳng định tư tưởng nhân đạo tiến bộ và nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, góp phần làm nên giá trị bất hủ của văn học hiện thực Việt Nam.

30 tháng 10 2025

3 đoạn

1.Mở bài

2.Thân bài

3.Kết bài


30 tháng 10 2025

1.mở bài

2.thân bài

3.kết bài

30 tháng 10 2025

bạn ăn gì để mình viết

28 tháng 10 2025

Hé lô bn

28 tháng 10 2025

Đoạn 1 (đặt câu chủ đề ở đầu đoạn – diễn dịch)

Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. Tình yêu ấy có thể bắt đầu từ tiếng ru của mẹ, tiếng chim hót đầu ngõ, con đường nhỏ đầy bóng mát ta vẫn đi qua mỗi ngày. Đó còn là hương vị cơm nhà, bát nước mắm thơm hay tiếng nói quê hương thân thuộc. Những điều giản dị ấy nuôi dưỡng tâm hồn con người, giúp ta hình thành tình cảm gắn bó với quê hương đất nước từ lúc nào không hay. Chính vì thế, tình yêu nước không phải là điều gì xa vời hay vĩ đại, nó bắt đầu từ những điều rất đỗi bình thường quanh ta.


Đoạn 2 (đặt câu chủ đề ở cuối đoạn – quy nạp)

Khi ta lớn lên, đi xa, ta mới hiểu tiếng gọi da diết từ những điều tưởng chừng nhỏ bé. Ta nhớ lũy tre đầu làng, con đò ngang sông, nhớ lời chào hỏi chân quê giản dị. Ta nhận ra rằng tình cảm ấy luôn sống âm ỉ trong trái tim, trở thành sức mạnh nâng đỡ ta trong cuộc sống. Những điều nhỏ bé và gần gũi ấy gắn bó với tuổi thơ và tâm hồn ta thật sâu sắc. Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.


27 tháng 10 2025
  • Vùng trời tuổi thơ: Bầu trời quê hương là nơi lưu giữ những ký ức đầu tiên của mỗi người. Đó là bầu trời trong xanh vào một buổi trưa hè, bầu trời với cánh diều chao lượn trên đồng lúa, hay bầu trời đầy sao lấp lánh vào những đêm trăng rằm. Những hình ảnh bình dị ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên bản sắc riêng cho mỗi chúng ta.
  • Tình yêu từ những điều nhỏ bé: Tình yêu quê hương được hình thành từ những điều gần gũi, nhỏ bé nhất như tình cảm dành cho gia đình, hàng xóm, những con đường quen thuộc và cảnh vật xung quanh. Chính những tình cảm này là nền tảng để bồi đắp nên một tình yêu lớn hơn, cao cả hơn, đó là tình yêu Tổ quốc.
27 tháng 10 2025

tôi cung tên đàm công vinh


28 tháng 10 2025

Bài văn nghị luận "Tinh thần yêu nước của nhân dân ta" gồm hai luận điểm lớn: (1) lòng yêu nước là một truyền thống quý báu, nồng nàn của nhân dân Việt Nam; (2) nhiệm vụ của thế hệ hiện tại là giữ gìn và phát huy truyền thống đó vào công cuộc kháng chiến, kiến thiết đất nước. Hai luận điểm này nối tiếp nhau, luận điểm thứ hai phát triển từ luận điểm thứ nhất: sau khi khẳng định truyền thống yêu nước, tác giả kêu gọi biến tình cảm ấy thành hành động cụ thể. Tác giả chứng minh lòng yêu nước của dân tộc dựa trên những bằng chứng khách quan cả trong lịch sử và hiện tại: từ những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa... đến sự hy sinh, cống hiến của nhân dân trong kháng chiến chống thực dân, phát xít. Lòng yêu nước được coi là truyền thống quý báu vì nó được tôi luyện qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, được truyền từ đời này qua đời khác và trở thành sức mạnh tinh thần lớn lao của dân tộc. Những điều bàn luận trong văn bản vẫn còn ý nghĩa sâu sắc ngày nay: mỗi người cần bồi đắp lòng yêu nước bằng những việc làm thiết thực trong học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc để truyền thống ấy mãi được phát huy.

27 tháng 10 2025

Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: Bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

27 tháng 10 2025

tui ko biết cô bé bán diêm , chỉ biết cô bé bán bom nguyên tử thôi

27 tháng 10 2025

Cô giao bài tập làm ở đâu


 Câu chuyện về tình yêu thương và sự hy sinh cao cả Câu chuyện "Chiếc lá cuối cùng" của O. Henry xoay quanh ba nhân vật chính: Sue, Johnsy và cụ Behrman.
  • Mở đầu: Hai nữ họa sĩ trẻ Sue và Johnsy sống trong một khu tập thể ở Greenwich Village, New York. Johnsy bị bệnh viêm phổi nặng trong một trận dịch.
  • Diễn biến: Johnsy tuyệt vọng, tin rằng mình sẽ chết khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống khỏi cây đối diện cửa sổ. Sue lo lắng, chăm sóc bạn và kể lại chuyện này cho cụ Behrman, một họa sĩ già nghèo khổ sống ở tầng dưới, người luôn mơ ước vẽ một kiệt tác.
  • Cao trào: Trong một đêm mưa bão, chiếc lá cuối cùng rụng xuống, nhưng cụ Behrman đã bí mật vẽ một chiếc lá giống hệt lên tường.
  • Kết thúc: Johnsy nhìn thấy "chiếc lá" vẫn còn đó vào sáng hôm sau, lấy lại niềm tin và khỏi bệnh. Sau đó, Sue phát hiện cụ Behrman đã chết vì viêm phổi do dầm mưa vẽ chiếc lá trong đêm bão. Cụ đã hoàn thành kiệt tác của mình bằng chính hành động hy sinh cao thượng đó.