K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

My exercise can be finished by me in two days

Chúc bạn hc tốt!

Câu gốc:

> He hasn’t exercised for 3 months.

> (Anh ấy đã không tập thể dục trong 3 tháng rồi.)

Viết lại có thể theo nhiều cách, tùy yêu cầu bài tập:

1. **Dùng “since”**:

-He hasn’t exercised **since three months ago.**

2. **Dùng “It’s + time + since”**:

It’s **three months since** he (last) exercised. ✅

(Nghĩa: Đã ba tháng kể từ lần cuối anh ấy tập thể dục.)

3. **Dùng thì quá khứ đơn + last**:

- He **last exercised three months ago.** ✅

27 tháng 10 2025

x.(1,5+2,4)=7,8

x.3,9=7,8

x=7,8:3,9

x=2

Vậy x = 2

R3
27 tháng 10 2025

x.(1,5+2,4)=7,8

x.3,9=7,8

x=7,8:3,9

x=2

27 tháng 10 2025

(͠°͟͜ʖ͡͠°)

R3
27 tháng 10 2025

Minh

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, múa Then là một loại hình biểu diễn độc đáo, gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào Tày, Nùng và Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang hay Lào Cai. Không chỉ đơn thuần là một điệu múa, múa Then còn là biểu tượng văn hóa, là sợi dây kết nối giữa con người với thế giới thần linh, thể hiện khát vọng về cuộc sống bình yên, no đủ và hạnh phúc.

Nghệ thuật múa Then thường xuất hiện trong các nghi lễ cúng Then – một nghi lễ tín ngưỡng quan trọng của người Tày, Nùng. Trong buổi lễ, người thực hiện nghi thức được gọi là ông Then hoặc bà Then, vừa hát những lời ca cổ bằng tiếng dân tộc, vừa gảy đàn tính và múa theo nhịp điệu. Tiếng đàn tính ngân vang cùng giọng hát Then trầm bổng, khi da diết, khi rộn ràng, hòa quyện với những bước múa mềm mại tạo nên một không gian nghệ thuật vừa linh thiêng, vừa gần gũi.

Các động tác trong múa Then thường nhẹ nhàng, uyển chuyển, mô phỏng hoạt động của con người trong cuộc sống như gieo hạt, hái lộc, mời thần linh, hoặc thể hiện hành trình của Then lên mường trời. Người múa thường cầm quạt, chuông, khăn hoặc kiếm gỗ, vừa di chuyển, vừa xoay người theo nhịp đàn. Mỗi động tác đều mang ý nghĩa tượng trưng, gửi gắm niềm tin, lời cầu chúc và tấm lòng biết ơn đối với tổ tiên, thần linh. Trang phục múa Then cũng rất đặc trưng, thường là áo dài màu chàm, đầu đội khăn đen, đeo chuỗi hạt bạc – biểu trưng cho sự trong sáng và may mắn.

Ngày nay, múa Then không chỉ còn là một nghi lễ tín ngưỡng mà đã trở thành một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được UNESCO công nhận vào năm 2019 với tên gọi “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”. Nhiều địa phương đã mở lớp truyền dạy, tổ chức liên hoan hát Then – đàn tính nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống này.

Múa Then là tinh hoa của tâm hồn người Việt vùng núi, chứa đựng vẻ đẹp của niềm tin, tình yêu lao động và khát vọng sống hạnh phúc. Giữ gìn và lan tỏa nghệ thuật múa Then chính là góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, để những giai điệu đàn tính và điệu múa Then tiếp tục vang vọng mãi giữa núi rừng Việt Bắc.


Lào Cai – mảnh đất vùng cao Tây Bắc không chỉ nổi tiếng với cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, trong đó nghệ thuật múa xòe của người Thái là một nét đẹp tiêu biểu. Múa xòe là điệu múa truyền thống thể hiện tinh thần đoàn kết, niềm vui và khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Trong những đêm hội, bên ánh lửa bập bùng, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên rộn ràng, mọi người nắm tay nhau xòe thành vòng tròn, cùng xoay nhịp theo tiếng nhạc. Các điệu xòe như xòe vòng, xòe nâng khăn, xòe tung khăn, xòe bổ bốn… đều mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tình cảm, sự gắn bó và lòng hiếu khách của người dân Tây Bắc. Năm 2021, nghệ thuật Xòe Thái đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đánh dấu niềm tự hào không chỉ của người Thái mà còn của cả vùng Lào Cai nói riêng và Việt Nam nói chung. Múa xòe không chỉ là nét đẹp nghệ thuật, mà còn là biểu tượng cho tinh thần cộng đồng, niềm vui sống và tình yêu quê hương của con người nơi núi rừng Tây Bắc.

26 tháng 10 2025

BPTT so sánh: mẹ về và nắng mới

Tác dụng:

-Làm tăng sức gợi hình gợi cảm

-Khắc họa hình ảnh người mẹ mới về giống như một tia nắng mới, khiến cho căn nhà nhỏ trở nên sáng ấm hơn bao giờ.

-Qua đó, giúp ta cảm nhận được sự ấm áp, niềm vui sau khi bão giông qua đi. Khẳng định vị trí quan trọng của mẹ trong gia đình.

Xin 1 tim.

26 tháng 10 2025

Theo mình không nên làm quá cầu kì. Làm đơn giản, với vốn từ của mình thì mình chỉ có thể giúp bạn vậy thôi~

EM BÉ THÔNG MINH - NHÂN VẬT KẾT TINH TRÍ TUỆ DÂN GIANTRẦN THỊ ANKiểu truyện về người thông minh là một kiểu truyện khá phổ biến trong truyện cổ tích trên phạm vi toàn thế giới. Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. Trong...
Đọc tiếp

EM BÉ THÔNG MINH - NHÂN VẬT KẾT TINH TRÍ TUỆ DÂN GIAN

TRẦN THỊ AN

Kiểu truyện về người thông minh là một kiểu truyện khá phổ biến trong truyện cổ tích trên phạm vi toàn thế giới. Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. Trong truyện Em bé thông minh, thông qua bốn lần thử thách, tác giả dân gian đã đề cao trí tuệ của nhân dân.

Thông qua thử thách đầu tiên (gắn với câu hỏi thứ nhất), tác giả dân gian đề cao sự thông minh trong ứng xử, mà chủ yếu là một phản xạ ngôn ngữ lanh lẹ và sắc sảo. Thử thách này là một tình huống thử thách tư duy và việc sử dụng ngôn ngữ. Trước câu hỏi khó, em bé đã đáp trả lại bằng việc ra lại câu hỏi cho người đố, để chỉ ra rằng, đây là một câu hỏi không thể có câu trả lời.

Ở thử thách thứ hai và thứ ba (gắn với câu hỏi thứ hai, thứ ba), tác giả dân gian muốn khẳng định sự mẫn tiệp của trí tuệ dân gian, qua đó bày tỏ ước mơ về một xã hội mà mọi ràng buộc chặt chẽ của quan niệm phong kiến về các tầng lớp người trong xã hội đều được nới lỏng và cởi bỏ. Hai câu hỏi thử thách ở đây đều do nhà vua đưa ra, là những câu hỏi tình huống mà ở đó, người trả lời phải đưa ra những giải pháp hợp lí. Nhờ nhanh trí, em bé “đọc” ngay ra sự vô lí của câu hỏi và hiểu ngay ra cần phải ứng xử với sự vô lí ấy như thế nào. Câu trả lời của em bé ở hai tình huống này vẫn theo cách đáp trả sở trường. Đó là trong khi dân làng lo lắng, bao nhiêu lần họp bàn cố gắng đi tìm câu trả lời thì em bé hướng trí thông minh của mình vào việc vạch ra sự vô lí của câu hỏi và bắt người ra câu hỏi thừa nhận sự vô lí đó. Nhờ việc phát hiện ra sự vô lí và đoán trước tình hình, nên em bé đã bảo dân làng giết trâu cho làng ăn, khiến nhà vua phải bái phục. Sau đó, em lại tiếp tục phát hiện sự vô lí của tình huống tiếp theo nên đã nhờ sứ giả mang cây kim về tâu vua rèn dao để làm thịt chim sẻ. Sự đáp trả mang tính tình huống này của em bé đẩy nhà vua vào tình thế hoặc là công nhận sự vô lí của câu hỏi hoặc là phải thực hiện một sự vô lí còn lớn hơn.

Ở thử thách thứ tư (gắn với câu hỏi cuối cùng), người kể chuyện đã nâng nhân vật em bé lên một tầm cao mới, vượt lên cả triều đình hai nước, nhấn mạnh vị thế áp đảo của trí tuệ dân gian so với trí tuệ cung đình, đây là một cách nói phóng đại thường bắt gặp trong truyện dân gian. Để tôn vinh trí tuệ dân gian, người kể chuyện đã xếp đặt tình huống để cho người ra câu đố ở vị trí sứ giả nước ngoài, thậm chí là một nước lớn hơn đang “lăm le muốn chiếm bờ cõi nước ta”, mà nếu không trả lời được thì nước ta sẽ phải “thừa nhận sự thua kém và sự thần phục của mình đối với nước láng giềng”. Cách dẫn dắt vấn đề đã đẩy tầm quan trọng của việc trả lời câu đố lên một mức cao: đây là vấn đề danh dự và vận mệnh của quốc gia. Người kể còn nhấn mạnh thêm tính trầm trọng của tình huống bằng cách kể về những cách xử lí tình huống sai – “hút, bôi sáp vào chỉ để luồn qua bụng ốc”, về độ căng thẳng của việc tìm câu trả lời – “các nhà thông thái lắc đầu bó tay, các quan đại thần vò đầu suy nghĩ, vua tìm kế hoãn binh bằng việc mời sứ thần ra ở công quán để có thời gian suy nghĩ”. Tất cả những chi tiết đó tạo độ căng, tạo sức cuốn hút cho câu chuyện, và cũng là cách để nhấn mạnh độ xuất sắc của câu trả lời em bé đưa ra. Với câu trả lời xuất sắc của mình, em bé đã gỡ bí cho cả triều đình, “vua nghe nói như mở cờ trong bụng” và chinh phục được cả sứ thần ngoại bang – vượt qua thử thách “trước con mắt thán phục của sứ giả láng giềng”.

Như vậy, qua nhân vật em bé, truyện cổ tích Em bé thông minh đã tập trung ca ngợi trí thông minh của nhân dân. Để vượt qua những thử thách của các câu đố, người trả lời cần có sự nhanh trí, khả năng quan sát tinh tường, khả năng ứng phó nhanh nhạy, sự bình tĩnh, bản lĩnh trong ứng xử. Ca ngợi trí thông minh của người bình dân, tác giả dân gian muốn đề cao tầng lớp lao động, thể hiện sự tự hào về trí tuệ bình dân [...] Ca ngợi trí tuệ người bình dân, truyện cổ tích còn thể hiện một ước muốn có được cuộc sống xứng đáng với trí tuệ mà họ có, một ước mơ dẫu chưa thành hiện thực thì cũng là niềm an ủi và niềm hi vọng cho những bất công và cực nhọc mà người nông dân phải chịu đựng trong cuộc sống hằng ngày.

(Trích Giảng văn văn học Việt Nam Trung học cơ sở, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014)



Chọn 3 ý kiến nhỏ trong văn bản Em bé thông minh - nhân vật kết tinh trí tuệ dân gian.

a.Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. b.Ở thử thách thứ tư (gắn với câu hỏi cuối cùng), người kể chuyện đã nâng nhân vật em bé lên một tầm cao mới, vượt lên cả triều đình hai nước, nhấn mạnh vị thế áp đảo của trí tuệ dân gian so với trí tuệ cung đình, đây là một cách nói phóng đại thường bắt gặp trong truyện dân gian. c. Ở thử thách thứ hai và thứ ba (gắn với câu hỏi thứ hai, thứ ba), tác giả dân gian muốn khẳng định sự mẫn tiệp của trí tuệ dân gian, qua đó bày tỏ ước mơ về một xã hội mà mọi ràng buộc chặt chẽ của quan niệm phong kiến về các tầng lớp người trong xã hội đều được nới lỏng và cởi bỏ. d.Thông qua thử thách đầu tiên (gắn với câu hỏi thứ nhất), tác giả dân gian đề cao sự thông minh trong ứng xử, mà chủ yếu là một phản xạ ngôn ngữ lanh lẹ và sắc sảo.
2
26 tháng 10 2025

buồn

26 tháng 10 2025

Khi đọc bài thơ “Mẹ đừng buồn mẹ nhé”, em cảm thấy lòng mình tràn đầy xúc động. Qua từng câu chữ, em cảm nhận được tình cảm sâu sắc, sự quan tâm và niềm yêu thương của con dành cho mẹ. Bài thơ khiến em nhớ đến mẹ, nhớ những lần mẹ chăm sóc, lo lắng cho gia đình và bản thân em. Bài thơ đã khiến em nhận ra tình mẫu tử thiêng liêng và ý nghĩa của sự biết ơn trong cuộc sống.

Đề 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:Dạ khúc cho vầng trăngTrăng non ngoài cửa sổMảnh mai như  lúaThổi nhẹ thôi là bayCon ơi ngủ cho sayĐể trăng thành chiếc lượcChải nhẹ lên mái tócĐể trăng thành lưỡi càyRạch bầu trời khuya nayTrăng thấp thoáng cành câyTìm con ngoài cửa sổCửa nhà mình bé quáTrăng lặn trước mọi nhàVai mẹ thành võng đưaTheo con vào giấc ngủTrăng thành con...
Đọc tiếp

Đề 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Dạ khúc cho vầng trăng

Trăng non ngoài cửa sổ

Mảnh mai như  lúa

Thổi nhẹ thôi là bay

Con ơi ngủ cho say

Để trăng thành chiếc lược

Chải nhẹ lên mái tóc

Để trăng thành lưỡi cày

Rạch bầu trời khuya nay

Trăng thấp thoáng cành cây

Tìm con ngoài cửa sổ

Cửa nhà mình bé quá

Trăng lặn trước mọi nhà

Vai mẹ thành võng đưa

Theo con vào giấc ngủ

Trăng thành con thuyền nhỏ

Đến bến bờ tình yêu…

(Duy Thông)

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ?

Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ?

Câu 4: Nêu tác dụng của BPTT nhân hoá trong đoạn thơ sau:

“ Trăng thấp thoáng cành cây

Tìm còn ngoài cửa sổ

Cửa nhà mình bé quá

Trăng lặng trước mọi nhà”

Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em.

Đề 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Thả điều

Cánh diều no gió
Sáo nó thổi vang
Sao trời trôi qua
Diều thành trăng vàng

Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân

Cánh diều no gió
Tiếng nó chơi vơi
Diều là hạt cau
Phơi trên nong trời

 

Trời như cánh đồng
Xong mùa gặt hái
Diều em - lưỡi liềm
Ai quên bỏ lại […]

Tiếng diều vàng nắng
Trời xanh cao hơn
Dây diều em cắm
Bên bờ hố bom...

 

(Trần Đăng Khoa)

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Câu 4: Nêu tác dụng của BPTT so sánh có trong khổ thơ thứ 2

Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

2

ĐỀ 1: DẠ KHÚC CHO VẦNG TRĂNG – Duy Thông

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ

Bài thơ viết về tình mẹ hiền dịu dàng, ấm áp trong đêm trăng, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự chở che và những ước mơ bình yên của người mẹ dành cho con.


Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ

Chi tiết miêu tả trăng non là:

Trăng non ngoài cửa sổ / Mảnh mai như lúa / Thổi nhẹ thôi là bay

→ Trăng được miêu tả bằng hình ảnh so sánh và nhân hóa, gợi cảm giác mảnh mai, tinh khôi, dịu nhẹ và mong manh.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong đoạn thơ:

“Trăng thấp thoáng cành cây
Tìm con ngoài cửa sổ
Cửa nhà mình bé quá
Trăng lặn trước mọi nhà”

→ Biện pháp nhân hoá đã làm vầng trăng trở nên gần gũi, có tâm hồn như con người, biết “tìm con”, biết “lặn” vì cửa nhà nhỏ quá.
→ Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương của mẹ dành cho con, đồng thời gợi không khí ấm áp, yên bình trong đêm quê hương.


Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em

Tác giả muốn gửi gắm rằng:
👉 Tình mẹ là ánh trăng dịu dàng, luôn chở che, vỗ về con trong giấc ngủ bình yên.
Bài thơ khuyên chúng ta hãy biết yêu thương, trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ thiêng liêng.


🟣 ĐỀ 2: THẢ DIỀU – Trần Đăng Khoa

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Trong ba khổ thơ đầu, tác giả miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn qua hình ảnh cánh diều no gió và tiếng sáo vi vu.
→ Cách miêu tả kết hợp so sánh, nhân hóa và liên tưởng độc đáo (diều thành trăng vàng, thuyền trôi trên sông Ngân, hạt cau phơi trên nong trời), gợi ra một không gian trong trẻo, yên bình và đầy tưởng tượng của tuổi thơ.


Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Hai khổ thơ cuối thể hiện rằng:
👉 Dù đất nước từng trải qua chiến tranh (“bên bờ hố bom”), nhưng cuộc sống đã hồi sinh, bầu trời quê hương vẫn xanh, tiếng diều vẫn vang vọng.
→ Tác giả khẳng định sức sống mạnh mẽ, tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi đẹp của con người Việt Nam.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ thứ hai

“Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân”

→ Biện pháp so sánh “diều hay chiếc thuyền trôi trên sông Ngân” khiến hình ảnh cánh diều trở nên lung linh, huyền ảo, bay bổng như trong mơ.
→ Qua đó, thể hiện tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ và vẻ đẹp thanh bình của quê hương.


Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

Bức tranh thiên nhiên nông thôn hiện lên trong sáng, yên bình, đầy âm thanh và sắc màu tươi đẹp.
Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ rằng:
👉 Hãy yêu quý quê hương, trân trọng cuộc sống hòa bình hôm naygiữ gìn những giá trị bình dị, trong trẻo của làng quê Việt Nam.

ĐỀ 1: DẠ KHÚC CHO VẦNG TRĂNG – Duy Thông

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ

Bài thơ viết về tình mẹ hiền dịu dàng, ấm áp trong đêm trăng, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự chở che và những ước mơ bình yên của người mẹ dành cho con.


Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ

Chi tiết miêu tả trăng non là:

Trăng non ngoài cửa sổ / Mảnh mai như lúa / Thổi nhẹ thôi là bay

→ Trăng được miêu tả bằng hình ảnh so sánh và nhân hóa, gợi cảm giác mảnh mai, tinh khôi, dịu nhẹ và mong manh.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong đoạn thơ:

“Trăng thấp thoáng cành cây
Tìm con ngoài cửa sổ
Cửa nhà mình bé quá
Trăng lặn trước mọi nhà”

→ Biện pháp nhân hoá đã làm vầng trăng trở nên gần gũi, có tâm hồn như con người, biết “tìm con”, biết “lặn” vì cửa nhà nhỏ quá.
→ Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương của mẹ dành cho con, đồng thời gợi không khí ấm áp, yên bình trong đêm quê hương.


Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em

Tác giả muốn gửi gắm rằng:
👉 Tình mẹ là ánh trăng dịu dàng, luôn chở che, vỗ về con trong giấc ngủ bình yên.
Bài thơ khuyên chúng ta hãy biết yêu thương, trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ thiêng liêng.


🟣 ĐỀ 2: THẢ DIỀU – Trần Đăng Khoa

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Trong ba khổ thơ đầu, tác giả miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn qua hình ảnh cánh diều no gió và tiếng sáo vi vu.
→ Cách miêu tả kết hợp so sánh, nhân hóa và liên tưởng độc đáo (diều thành trăng vàng, thuyền trôi trên sông Ngân, hạt cau phơi trên nong trời), gợi ra một không gian trong trẻo, yên bình và đầy tưởng tượng của tuổi thơ.


Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Hai khổ thơ cuối thể hiện rằng:
👉 Dù đất nước từng trải qua chiến tranh (“bên bờ hố bom”), nhưng cuộc sống đã hồi sinh, bầu trời quê hương vẫn xanh, tiếng diều vẫn vang vọng.
→ Tác giả khẳng định sức sống mạnh mẽ, tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi đẹp của con người Việt Nam.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ thứ hai

“Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân”

→ Biện pháp so sánh “diều hay chiếc thuyền trôi trên sông Ngân” khiến hình ảnh cánh diều trở nên lung linh, huyền ảo, bay bổng như trong mơ.
→ Qua đó, thể hiện tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ và vẻ đẹp thanh bình của quê hương.


Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

Bức tranh thiên nhiên nông thôn hiện lên trong sáng, yên bình, đầy âm thanh và sắc màu tươi đẹp.
Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ rằng:
👉 Hãy yêu quý quê hương, trân trọng cuộc sống hòa bình hôm naygiữ gìn những giá trị bình dị, trong trẻo của làng quê Việt Nam.