(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Hãy nghe nó thúc báo oan trả cừu(1)
Có tiếng kèn đồng vang lên.
Các đào kép ra diễn một màn tuồng câm. Một ông vua và một bà hoàng hậu ra, vẻ âu yếm. Hậu ôm lấy vua, vua ôm lấy hậu. Hậu quỳ xuống làm bộ điệu thề thốt. Vua đỡ hậu dậy, ngả đầu vào cổ hậu, rồi nằm xuống trên một luỗng hoa. Thấy vua ngủ say, hậu lén ra ngoài. Lập tức có một gã đàn ông bước vào, lột lấy vương miện mà hôn hít; đổ thuốc độc vào tai vua rồi đi ra. Hậu quay vào, thấy vua đã chết, làm bộ điệu than khóc thảm thiết. Tên sát nhân cùng với hai ba người nữa vào làm ra vẻ cũng khóc than với hậu và khuân xác chết ra ngoài. Tên sát nhân đưa những tặng phẩm ra và tán tỉnh hậu. Thoạt đầu hậu tỏ vẻ kháng cự từ chối, nhưng sau thì cũng ưng thuận.
Cả bọn vào.
Ô-PHÊ-LI-A: Thưa điện hạ, lớp tuồng câm kia ý nghĩa thế nào?
HĂM-LÉT: Chà, chắc là âm mưu ám muội, chuyện chẳng lành đâu.
Ô-PHÊ-LI-A: Chắc họ định giới thiệu nội dung của vở tuồng.
Một người giáo đầu ra.
HĂM-LÉT: Nghe anh chàng này nói, ta sẽ rõ. Các đào kép không giữ được gì bí mật đâu. Họ sẽ tiết lộ hết cả.
Ô-PHÊ-LI-A: Điện hạ kì quá, thật kì quá. Để thiếp xem vở tuồng ra sao. [...]
HĂM-LÉT: Tâu Lệnh bà, Lệnh bà thấy vở tuồng thế nào?
HẬU: Mẹ nghĩ rằng vai nữ thề thốt quá nhiều.
HĂM-LÉT: Ồ, nhưng bà ấy giữ được lời nguyền.
VUA: Con có hiểu được ý nghĩa của vở không? Có điều gì ác ý bên trong không?
HĂM-LÉT: Không, không, tâu Bệ hạ, họ đùa cợt đấy thôi, bỏ thuốc độc đùa đấy thôi, làm chi có điều gì ác ý trên đời này.
VUA: Tên vở tuồng là gì nhỉ?
HĂM-LÉT: Cái bẫy chuột. Lạy chúa, sao lại gọi thế? Đây là theo nghĩa bóng. Vở tuổng diễn lại một cảnh ám sát ở kinh thành Viên. Gông-da-gô là tên quận công, quận chúa là Báp-ti-xta. Lát nữa Bệ hạ sẽ rõ. Câu chuyện khốn nạn quá. Nhưng mà có sao đâu? Bệ hạ, cũng như chúng ta ở đây, lương tâm trong trắng, có chi mà phải động lòng. Kệ cho những kể lòng lang dạ thú run sợ, còn chúng ta thì cứ thản nhiên.
Vai Lu-xi-a-nút ra. Đây là vai Lu-xi-a-nút, cháu vua đây.
HĂM-LÉT: [...]. Bắt đầu đi, hỡi kẻ sát nhân, đồ khốn khiếp, hãy trút bỏ bộ mặt quỷ mà bắt đầu đi. Nào, quạ đen đang đứng kêu than, hãy nghe nó thúc báo oan trả cừu.
LU-XI-A-NÚT: Ý nghĩ hắc ám, bàn tay rắn chắc, độc dược hiệu nghiệm và thời cơ thuận lợi, thì giờ đồng loã, vì không một ai hay ai biết! Mi, một chất hỗn hợp kì lạ lấy từ tinh cỏ dại, trong đêm khuya thanh vắng, ba lần nhiễm độc, ba lần nữa thần Hi-cát phù phép, hãy đem ma lực tự nhiên, sức mạnh tàn bạo của mi ra mà kết liễu tức thì cuộc đời cường tráng.
Đổ thuốc độc vào tai vua đang ngủ.
HĂM-LÉT: Nó giết vua ở trong vườn để đoạt ngôi báu đấy! Vua này tên là Gông-da-gô. Chuyện hoàn toàn có thật và đã được viết lại bằng ngôn ngữ Ý rất tinh vi. Lát nữa cô sẽ thấy tên sát nhân làm thế nào mà chiếm đoạt được tình yêu của vợ Gông-da-gô.
Ô-PHÊ-LI-A: Chúa thượng đứng dậy kìa.
HĂM-LÉT: Sao! Mới bắn đạn giả mà đã sợ à?
HẬU: Kìa, Bệ hạ làm sao vậy?
PÔ-LÔ-NI-ÚT: Thôi! Ngừng diễn!
VUA: Đuốc đâu, đem đây ngay, đi thôi!
TẤT CẢ: Đuốc đâu! Đuốc đâu! Đuốc đâu!
Tất cả vào trừ Hăm-lét và Hô-ra-xi-ô.
HĂM-LÉT (hát): Hừ, cứ để hươu con tử nạn
Tiếng đau thương phải rống kêu lên;
Để cho cái chú nai vàng
Ngây thơ đồng cỏ thênh thang giỡn đùa.
Kẻ đang thức, kẻ thì mê ngủ,
Ấy sự đời cứ thế mà trôi.
Này bạn ơi, hát như thế mà lại thêm cái mũ lông sù sụ trên đầu, giày hài có đính thêm hai bông hồng xứ Prô-văng-xơ thì, nếu chẳng may số mệnh trở trêu, ta lầm vận bĩ(2), liệu có thể theo nghề đào kép được không nhỉ? [...] Ồ, Hô-ra-xi-ô thân mên. Lời nói của hồn ma thật đáng ngàn vàng nhé. Bạn có thấy không?
HÔ-RA-XI-Ô: Thật rõ quá, thưa Điện hạ.
HĂM-LÉT: Đúng vào lúc bỏ thuốc độc.
HÔ-RA-XI-Ô: Tôi nhận thấy rõ ràng lúc đó mặt y biến sắc.
HĂM-LÉT: A ha! Nào, cử nhạc nào! Nào! Các bạn nhạc công! Vì nếu đức vua ngài không thích tuồng hài thì chỉ vì tuồng hài không làm ngài thích đấy thôi. Nào! Cử nhạc nào!
[...] Pô-lô-ni-út ra.
PÔ-LÔ-LI-ÚT: Thưa Điện hạ, Hoàng hậu muốn nói chuyện với người ngay bây giờ. [...]
HĂM-LÉT: "Ngay bây giờ", nói thì dễ quá. Các bạn ơi, xin lui ra đi cho.
Tất cả vào trừ Hăm-lét.
Giờ đây đúng là lúc đêm khuya thanh vắng, giờ của ma thiêng, quỷ dữ, những nấm mồ hé mở và địa ngục tỏa tà khí ra khắp thế gian này. Giờ đây ta có thể uống máu nóng và làm những việc khủng khiếp, những việc mà ánh sáng ban ngày phải run lên, kinh sợ khi nhìn thấy. Hãy bình tĩnh lại! Bây giờ ta phải đến gặp mẹ ta. Ôi tim ta hỡi! Đừng để bản chất nhân ái của mi, đừng để linh hồn của Nê-rông(3) thâm nhập vào lồng ngực cứng rắn này. Ác thì được, nhưng quyết không được bất nghĩa bất nhân. Ta sẽ nói với mẹ ta những lời như kim châm dao cắt, nhưng dao thật ta nhất định không dùng. Trong cuộc gặp gỡ này, miệng lưỡi và tâm hồn ta phải hư ngụy(4). Những lời nói của ta sẽ làm cho mẹ ta phải tủi hổ, đau đớn, nhưng ra tay hành động thì nhất định tâm hồn ta không bao giờ cho phép.
(Trích Hăm-lét, William Shakespeare tuyển tập tác phẩm)
* Chú thích:
(1) Cừu: Mối thù.
(2) Vận bĩ: Hoàn cảnh rủi ro.
(3) Nê-rông: Vua La Mã, nổi tiếng là độc ác, tàn bạo đã giết mẹ là A-gri-pi-na.
(4) Hư ngụy: Giả tạo.
* Tác giả, tác phẩm:
Hăm-lét là vở bi kịch năm hồi của Sếch-xpia, được viết vào khoảng năm 1601, cốt truyện phỏng theo một truyện dân gian Đan Mạch. Nội dung vở kịch như sau: Được tin vua cha đột ngột băng hà, thái tử Hăm-lét đang học ở Đức vội về Đan Mạch chịu tang. Chú ruột của chàng là Clô-đi-út đã lên ngôi vua và lấy mẹ chàng. Hồn ma của vua cha hiện về báo cho chàng biết tội ác của Clô-đi-út và hoàng hậu. Chàng giả điên để tìm kiếm sự thật và đánh lạc hướng kẻ thù. Chàng cũng trả lại kỉ vật cho Ô-phê-li-a. Nhân việc gánh hát được vời vào cung điện biểu diễn cho Hăm-lét nguôi ngoai, chàng đã yêu cầu họ diễn một vở kịch có cảnh mưu sát giống như tình tiết Clô-đi-út và hoàng hậu đã làm với cha mình, nhờ đó, Hăm-lét đã phát hiện được sự thật. Chàng định hạ sát Clô-đi-út nhưng lúc đó hắn đang cầu nguyện. Hăm-lét vào phòng hoàng hậu để nói "những lời như kim châm dao cắt", thấy có người nấp sau rèm, tưởng là Clô-đi-út, chàng rút gươm đâm. Không ngờ đó là Pô-lô-ni-út, cha của Ô-phê-li-a. Hăm-lét bị Clô-đi-út cho sang nước Anh với mật thư nhờ vua Anh giết chàng. Giữa đường, chàng phát hiện ra nội dung bức thư và lén thay bằng nội dung nhờ nhà vua trừng phạt hai kẻ đưa thư, còn mình thì trở về Đan Mạch. Ô-phê-li-a đau khổ đến phát điên và bị chết đuối. Clô-đi-út lợi dụng kích động hận thù của La-ớc-tơ, con trai Pô-lô-ni-út, khiến La-ớc-tơ thách Hăm-lét đấu kiếm. Trong cuộc đấu, La-ớc-tơ đâm Hăm-lét bị thương, liền sau đó, họ hăng máu xông lên, cướp đổi lưỡi gươm của nhau, Hăm-lét cũng đâm La-ớc-tơ bị thương bằng mũi gươm của La-ớc-tơ vốn được tẩm thuốc độc từ trước, còn hoàng hậu thì uống nhầm li rượu độc mà Clô-đi-út định dành cho Hăm-lét. Trước khi chết, La-ớc-tơ đã vạch tội Clô-đi-út. Mọi âm mưu tội ác bị phơi bày. Clô-đi-út đã phải nhận lưỡi gươm từ Hăm-lét cho tội ác của y.
Đoạn trích trên là một phần của cảnh II, hồi 3 của vở kịch.
Câu 1. Sự việc trong văn bản trên là gì?
Câu 2. Chỉ ra một chỉ dẫn sân khấu trong văn bản.
Câu 3. Mâu thuẫn, xung đột kịch trong văn bản này là gì?
Câu 4. Lời thoại: "Giờ đây ta có thể uống máu nóng và làm những việc khủng khiếp, những việc mà ánh sáng ban ngày phải run lên, kinh sợ khi nhìn thấy." cho thấy nội tâm của Hăm-lét như thế nào?
Câu 5. Nội dung của văn bản này gợi cho em những suy nghĩ gì?
Câu 1:
Bài làm
Trong thời đại hiện nay, công nghệ AI đang phát triển mạnh mẽ và dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người. Từ học tập, làm việc cho đến giải trí, AI đều góp mặt và mang lại nhiều tiện ích. Tuy nhiên, việc con người ngày càng phụ thuộc vào AI cũng đặt ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ.
Trước hết, không thể phủ nhận rằng AI giúp cuộc sống trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn. Nhờ AI, chúng ta có thể tìm kiếm thông tin nhanh chóng, hỗ trợ học tập, làm việc thông minh hơn và tiết kiệm thời gian. Ví dụ, học sinh có thể sử dụng AI để giải bài tập, tra cứu kiến thức; người lớn có thể ứng dụng AI trong công việc để tăng năng suất. Điều này cho thấy AI là một công cụ rất hữu ích nếu được sử dụng đúng cách.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá mức vào AI lại khiến con người dần trở nên thụ động và thiếu tư duy sáng tạo. Khi gặp vấn đề, nhiều người không còn tự suy nghĩ mà lập tức tìm đến AI để có câu trả lời. Lâu dần, khả năng tư duy độc lập, phân tích và giải quyết vấn đề sẽ bị suy giảm. Đặc biệt đối với học sinh, việc lạm dụng AI trong học tập có thể khiến kiến thức trở nên hời hợt, không thực sự hiểu bản chất.
Không chỉ vậy, phụ thuộc vào AI còn tiềm ẩn những rủi ro về thông tin và đạo đức. AI không phải lúc nào cũng đưa ra câu trả lời chính xác, và nếu con người tin tưởng tuyệt đối, có thể dẫn đến những quyết định sai lầm. Bên cạnh đó, việc sử dụng AI thiếu kiểm soát còn có thể làm giảm đi sự giao tiếp trực tiếp giữa con người với nhau, khiến các mối quan hệ trở nên xa cách hơn.
Từ những điều trên, có thể thấy rằng AI vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Vì vậy, mỗi người cần biết sử dụng AI một cách hợp lý: xem AI là công cụ hỗ trợ chứ không phải thay thế hoàn toàn khả năng của bản thân. Đặc biệt, học sinh cần rèn luyện tư duy, chủ động học tập và chỉ sử dụng AI khi thật sự cần thiết.
Tóm lại, con người không nên phụ thuộc quá mức vào công nghệ AI. Thay vào đó, cần làm chủ công nghệ để phát triển bản thân một cách toàn diện và bền vững trong thời đại số.
Câu 2:
Bài làm
Bài thơ “Đừng chạm tay” của Vũ Thị Huyền Trang là một tác phẩm giàu chất suy tư, gợi lên nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc về con người, kí ức và sự thay đổi của cuộc sống. Qua hình ảnh một cụ già ngồi bên con dốc chỉ đường cho khách, bài thơ không chỉ kể một câu chuyện giản dị mà còn gửi gắm những chiêm nghiệm về quá khứ, hiện tại và cách con người đối diện với kí ức.
Trước hết, về nội dung, bài thơ khắc họa hình ảnh một cụ già như một “người giữ đường”, người lưu giữ kí ức của một không gian xưa cũ. Những con đường mà cụ chỉ không chỉ là đường đi thực tế mà còn là con đường của thời gian, của những trải nghiệm đã qua. “Con đường hiện ra dưới chân khách bây giờ / Là con đường cụ già từng tới” cho thấy sự tiếp nối giữa các thế hệ, giữa quá khứ và hiện tại. Tuy nhiên, đó lại là “con đường khách không mong đợi”, gợi cảm giác lạc lõng, xa lạ. Người khách đi theo chỉ dẫn nhưng dường như lại bước vào một thế giới khác – thế giới của kí ức, của những điều đã phai mờ theo thời gian.
Bài thơ còn thể hiện nỗi buồn trước sự đổi thay của cuộc sống. Những hình ảnh như “núi xẻ, đồng san, cây vừa bật gốc”, “những khối bê tông đông cứng ánh nhìn” đã phản ánh sự phát triển đô thị hóa, nhưng đồng thời cũng là sự phá vỡ vẻ nguyên sơ của thiên nhiên và kí ức xưa. Con đường từng thân thuộc trong kí ức người già nay không còn như trước, khiến người khách “chẳng thể nhận ra”. Điều đó cho thấy sự đứt gãy giữa quá khứ và hiện tại, giữa những gì từng tồn tại và những gì đang diễn ra.
Đặc biệt, nhan đề “Đừng chạm tay” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó không chỉ là lời nhắc nhở người khách, mà còn là thông điệp về việc tôn trọng kí ức của người khác. Kí ức là điều thiêng liêng, mong manh; nếu “khuấy lên” có thể làm tổn thương người mang nó. Câu kết “Đừng khuấy lên kí ức một người già” như một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng nhưng thấm thía, thể hiện sự đồng cảm và trân trọng đối với những trải nghiệm đã qua của con người.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, giúp dòng cảm xúc được triển khai tự nhiên, linh hoạt. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi, tạo nên một không gian vừa thực vừa ảo. Hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cao, đặc biệt là hình ảnh “con đường” – vừa là con đường thực, vừa là hành trình kí ức và đời người. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng thủ pháp tương phản giữa quá khứ và hiện tại, giữa thiên nhiên và đô thị, qua đó làm nổi bật chủ đề về sự đổi thay và mất mát.
Giọng điệu bài thơ trầm lắng, suy tư, giàu tính chiêm nghiệm. Nhịp thơ chậm rãi như dẫn dắt người đọc bước vào từng lớp nghĩa, từng khoảng lặng của kí ức. Cách kết thúc mở, không ồn ào mà nhẹ nhàng, khiến dư âm bài thơ còn đọng lại sâu sắc trong lòng người đọc.
Tóm lại, “Đừng chạm tay” là một bài thơ giàu ý nghĩa nhân văn, thể hiện sự trân trọng kí ức và nhắc nhở con người biết lắng nghe, thấu hiểu những giá trị đã qua. Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật biểu đạt tinh tế, tác phẩm đã để lại ấn tượng mạnh mẽ, gợi nhiều suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người với thời gian và kí ức.
Câu 1
Trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một trợ thủ đắc lực, nhưng việc con người quá phụ thuộc vào nó đang trở thành một vấn đề đáng suy ngẫm. Không thể phủ nhận AI giúp chúng ta tối ưu hóa năng suất, giải quyết các thuật toán phức tạp và mở ra chân trời tri thức vô tận chỉ trong vài giây. Tuy nhiên, khi quá lạm dụng, con người dễ rơi vào trạng thái "lười tư duy". Thay vì tự mình phân tích, sáng tạo hay phản biện, chúng ta dần có thói quen phó mặc mọi quyết định cho các dòng mã lệnh. Sự lệ thuộc này làm xói mòn khả năng giải quyết vấn đề độc lập và làm cùn mòn những cảm xúc trực quan vốn có của con người. Hơn nữa, việc tin tưởng tuyệt đối vào AI có thể khiến chúng ta bị thao túng bởi các thuật toán định kiến, dẫn đến mất đi bản sắc cá nhân. Để không trở thành "nô lệ" của công nghệ, chúng ta cần xác định AI chỉ là công cụ hỗ trợ. Chúng ta phải không ngừng rèn luyện tư duy phản biện và giữ vững sự kết nối với thực tế. Hãy để AI giúp con người tiến xa hơn, chứ không phải để nó thay thế bộ não và tâm hồn của chính mình.
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, khi con người mải mê chinh phục những điểm đến lộng lẫy trên bản đồ du lịch, đôi khi chúng ta vô tình lãng quên những giá trị nguyên sơ, tĩnh lặng. Bài thơ "Đừng chạm tay" là một nốt lặng đầy suy tư, dẫn dắt người đọc đi lạc vào một miền ký ức thâm trầm, nơi vẻ đẹp không nằm ở sự náo nhiệt mà hiện hữu trong sự thưa thớt, nguyên bản. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc về cách ứng xử với quá khứ và những giá trị tâm hồn. Mở đầu bài thơ là một hình ảnh đầy biểu cảm: "Khách nào đến đây cũng gặp một cụ già / Ngồi sưởi nắng trên đầu con dốc". Hình ảnh cụ già không chỉ là một nhân chứng của thời gian mà còn là biểu tượng cho sự kết nối giữa hiện tại và quá khứ. Cụ ngồi đó, thản nhiên sưởi nắng – một hành động gợi sự tĩnh tại, chậm rãi, đối lập hoàn toàn với sự vội vã của "khách" phương xa. Chi tiết cụ già chỉ đường bằng "dấu tay" thay vì những biển chỉ dẫn hiện đại gợi lên một sự dẫn dắt mang tính định mệnh. Để rồi, vị khách ấy không đến được nơi mình định sẵn mà lại "đi lạc trong thế giới một người già". Cái hay của bài thơ nằm ở sự đối lập giữa kỳ vọng của con người hiện đại và thực tế của miền ký ức. Con đường hiện ra dưới chân khách không phải là con đường nhựa phẳng phiu dẫn đến khu nghỉ dưỡng, mà là "con đường cụ già từng tới". Đó là một con đường "khách không mong đợi", bởi nó "chẳng có thông điệp nào", "chẳng có trên bản đồ du lịch". Tác giả đã khéo léo sử dụng các từ phủ định để nhấn mạnh sự trống rỗng đối với cái nhìn thực dụng: không dịch vụ, không quảng bá, không náo nhiệt. Ở đó chỉ có "tiếng gió reo" và "thưa thớt dấu chân người". Tuy nhiên, chính cái sự "thưa thớt" ấy lại bảo vệ cho sự "nguyên sơ trong kí ức". Miền không gian này thuần khiết đến mức bất cứ sự can thiệp thô bạo nào của ngành công nghiệp du lịch cũng có thể làm tổn thương nó. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi như một lời tự sự tâm tình. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, đặc biệt là nghệ thuật đối lập giữa "bản đồ" (cái hữu hình, đo đếm được) và "ký ức" (cái vô hình, thiêng liêng). Hình ảnh "tiếng gió reo" là một nét vẽ âm thanh tuyệt đẹp, gợi lên sự sống bền bỉ của thiên nhiên trong sự cô độc. Kết thúc bài thơ là một nỗi băn khoăn đầy trăn trở: "Cũng có khi khách chẳng thể nhận ra / Nơi mình đến có gì mà lưu luyến". Câu thơ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía. Nếu con người chỉ đến với một vùng đất bằng con mắt của một vị khách tham quan hời hợt, họ sẽ thấy nơi đó chẳng có gì giá trị. Nhưng nếu chạm vào đó bằng trái tim, bằng sự trân trọng những giá trị "nguyên sơ", họ sẽ tìm thấy sự bình yên. Nhan đề "Đừng chạm tay" dường như là một lời khẩn cầu: Hãy cứ để những ký ức ấy được ngủ yên, được đẹp một cách tự nhiên, đừng dùng sự hiếu kỳ của đám đông làm hoen ố vẻ đẹp nguyên bản. Tóm lại, bài thơ " Đừng chạm tay " không chỉ là tiếng lòng của một người hoài cổ mà còn là bài học về văn hóa ứng xử với thiên nhiên và lịch sử. Tác phẩm khơi dậy trong lòng mỗi người ý thức về việc giữ gìn những khoảng lặng tâm hồn trước sự xói mòn của nhịp sống công nghiệp.Câu 2: