K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:       Bạn có từng đôi lần như thế?      Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?      Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

     Bạn có từng đôi lần như thế?

     Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?

     Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy? Như dòng sông muộn phiền quanh vách núi?

     Như chính cái đầm lầy?

     Như cái hồ dài kì dị sống đời thực vật?

     Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng. Còn gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền. Khước từ trải nghiệm. Khước từ nắng gió. Khước từ đi tới. Khước từ sự vận động.

     Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi. Như dòng sông tha thiết trôi.

(Trích Ngày trong sương mù - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.38)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Chỉ ra hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích. 

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về “tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.”?

Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học nào? Vì sao?

23
31 tháng 3

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm).

Câu 2.

Hai lối sống được nêu trong đoạn trích:

Lối sống thụ động, trì trệ, ngại vận động, thu mình trong vùng an toàn.

Lối sống chủ động, dám trải nghiệm, luôn vận động và hướng tới những điều lớn lao.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là so sánh (“Sông như đời người”, “tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng”).

Tác dụng:

Làm cho ý tưởng trở nên sinh động, dễ hiểu.

Nhấn mạnh quy luật: cũng như dòng sông phải chảy ra biển, con người – đặc biệt là tuổi trẻ – cần vận động, trải nghiệm và phát triển.

Gợi suy ngẫm sâu sắc về lẽ sống, khơi dậy ý chí vươn lên.

Câu 4.

“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là tiếng gọi thôi thúc từ bên trong mỗi con người:

Kêu gọi ta không được đứng yên, không sống thụ động.

Thúc đẩy ta bước đi, trải nghiệm, vượt qua giới hạn của bản thân.

→ Đó chính là tiếng gọi của khát vọng sống, khát vọng vươn ra thế giới rộng lớn.

Câu 5.

Bài học rút ra:

Mỗi người, đặc biệt là tuổi trẻ, cần sống chủ động, không ngại khó khăn, dám trải nghiệm và không tự giam mình trong vùng an toàn.

Vì:

Nếu sống thụ động, con người sẽ trở nên trì trệ, mất cơ hội phát triển.

Ngược lại, khi dám bước đi và trải nghiệm, ta sẽ trưởng thành, hiểu bản thân và chạm tới những giá trị lớn hơn trong cuộc sống.

Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.


Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.

31 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận (kết hợp với yếu tố biểu cảm). Tác giả đưa ra những suy ngẫm, quan điểm về cách sống và thái độ sống của con người. Câu 2: Hai lối sống được nêu trong đoạn trích Dựa trên ngữ cảnh của tác phẩm, hai lối sống mà con người từng trải qua là: Lối sống tĩnh tại, ngại thay đổi (khước từ sự vận động): Trạng thái muốn dừng lại, không muốn nỗ lực hay đối mặt với thử thách. Lối sống vận động, dấn thân: Trạng thái luôn tiến về phía trước, hành động và cống hiến giống như dòng sông phải chảy ra biển lớn. Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ Trong đoạn: "Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng." Biện pháp tu từ: So sánh (Sông như đời người; Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng). Tác dụng: Về nội dung: Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình gợi cảm. Khẳng định một quy luật tất yếu: đời người cũng như dòng sông, bản chất là sự vận động không ngừng. Tuổi trẻ cần phải có khát vọng, hoài bão và dám dấn thân vào "biển rộng" của cuộc đời để khẳng định giá trị bản thân. Về tư tưởng: Khích lệ thái độ sống tích cực, chủ động và đầy nhiệt huyết của mỗi cá nhân. Câu 4: Cách hiểu về cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi" Cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi" có thể được hiểu là: Tiếng gọi của bản năng và sứ mệnh: Đó là sự thúc giục từ bên trong tâm hồn mỗi người, nhắc nhở chúng ta không được lười biếng hay gục ngã. Khát vọng vươn tới: Là động lực thôi thúc con người vượt qua những khó khăn, trở ngại thường nhật để tiếp tục hành trình đi tới tương lai, đi tới những đích đến cao đẹp hơn trong cuộc sống. Câu 5: Bài học rút ra và giải thích Bài học: Đừng bao giờ dừng lại hay từ bỏ việc nỗ lực; hãy luôn giữ cho mình một tinh thần vận động và khát vọng cống hiến. Vì sao: Bởi vì cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta vận động. Sự dừng lại đồng nghĩa với sự trì trệ và lụi tàn. Giống như dòng sông nếu không chảy sẽ trở thành mặt hồ tĩnh lặng và dần cạn kiệt, con người nếu không bước đi sẽ không bao giờ nhìn thấy được sự bao la của "biển lớn" tri thức và trải nghiệm. Ghi

20 tháng 3 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!


Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.   Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.    CHUYỆN CỦA MẸ                      Nguyễn Ba    mẹ có năm lần chia li    chồng mẹ ra đi    rồi hóa thành ngàn lau    bời bời nơi địa đầu Tây Bắc  ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.  

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

   CHUYỆN CỦA MẸ

                     Nguyễn Ba

   mẹ có năm lần chia li

   chồng mẹ ra đi
   rồi hóa thành ngàn lau
   bời bời nơi địa đầu Tây Bắc

   đứa trai đầu
   đã thành con sóng nát
   trên dòng Thạch Hãn
   hoàng hôn buông lại táp đỏ trời

   đứa trai thứ hai
   đã băng hết Trường Sơn
   chết gần sát Sài Gòn
   thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc

   chị gái trước tôi
   là dân công hoả tuyến
   dầm suối làm cây mốc sống
   dẫn xe bộ đội lội ngầm
   tuổi thanh xuân nhiều mộng mơ của chị
   xanh vào vời vợi trong xanh

   tôi là mỏi mòn chờ đợi thứ năm
   may mắn được trở về bên mẹ
   tôi đi về bằng đôi mông đít
   chân của tôi
   đồng đội chôn trên đồi đất Vị Xuyên

   đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc
   dù về sau đôi mắt bị loà
   mẹ thương tôi không có đàn bà
   mẹ lo mẹ chết đi
   ai người nước nôi, cơm cháo
   căn nhà tình nghĩa này
   có đủ vững vàng mưa bão
   đèn, lửa xóm giềng
   chẳng ấm nỗi gối chăn

   tôi gắng đùa vui
   mong mẹ chút yên lòng
   mẹ yêu của con ơi
   không chỉ là mẹ của con
   mẹ đã là
   mẹ của non sông đất nước
   cháu chắt của mẹ giờ líu lo
   khắp ba miền Trung, Nam, Bắc
   anh em của con tấp nập mọi miền
   dân tộc mình
   tồn tại đến giờ
   nhờ đùm bọc, yêu thương

   móm mém mẹ cười
   khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương...

                                   1-2021

6
31 tháng 3

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng để mỗi người trưởng thành và sống ý nghĩa hơn. Khi hiểu rõ bản thân, ta biết mình là ai, điểm mạnh – điểm yếu ở đâu, từ đó có thể lựa chọn con đường phù hợp. Nhiều người trẻ thường chạy theo kỳ vọng của người khác mà quên lắng nghe chính mình, dẫn đến cảm giác mơ hồ, mất phương hướng. Thực tế, thấu hiểu bản thân không phải là điều dễ dàng, bởi nó đòi hỏi sự trung thực và dũng cảm nhìn nhận cả những thiếu sót của mình. Khi hiểu mình, ta sẽ tự tin hơn trong quyết định, biết kiểm soát cảm xúc và tránh bị cuốn theo những áp lực bên ngoài. Đồng thời, việc này còn giúp ta xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp hơn, vì khi hiểu mình, ta cũng dễ cảm thông với người khác. Tuy nhiên, thấu hiểu bản thân không có nghĩa là tự mãn hay khép kín, mà cần không ngừng học hỏi, thay đổi để hoàn thiện. Có thể nói, hiểu mình chính là chìa khóa để sống đúng với giá trị của bản thân và hướng tới một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn hơn.



Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Bài thơ Chuyện của mẹ của Nguyễn Ba là khúc ca xúc động về hình tượng người mẹ Việt Nam trong chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi đau mất mát và vẻ đẹp hi sinh cao cả.


Về nội dung, trước hết, bài thơ khắc họa số phận đầy bi kịch của người mẹ với “năm lần chia li”. Chồng và các con lần lượt ra đi, hóa thân vào đất nước: người thành “ngàn lau” nơi Tây Bắc, người hóa “con sóng nát” trên dòng Thạch Hãn, người nằm lại ở Xuân Lộc. Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, vừa mang tính biểu tượng, cho thấy sự hi sinh to lớn của cả một thế hệ trong chiến tranh. Không chỉ mất mát về người thân, người mẹ còn phải chịu đựng nỗi cô đơn, đau đớn kéo dài theo năm tháng.


Bên cạnh đó, bài thơ còn làm nổi bật tình mẫu tử sâu nặng. Dù đã trải qua quá nhiều mất mát, mẹ vẫn âm thầm yêu thương, lo lắng cho người con còn sống. Hình ảnh “đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc” hay nỗi lo “ai người nước nôi, cơm cháo” thể hiện tình thương giản dị mà thấm thía. Đó là tình cảm rất đỗi đời thường nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ.


31 tháng 3

Thấu hiểu chính mình là chìa khóa quan trọng nhất để mở ra cánh cửa của hạnh phúc và thành công. Đó là quá trình chúng ta tự quan sát, lắng nghe và nhận thức rõ ràng về những ưu điểm, khuyết điểm, đam mê cũng như những giới hạn của bản thân. Khi thấu hiểu chính mình, ta không còn bị cuốn theo những kỳ vọng của người khác hay những trào lưu nhất thời của xã hội. Ta biết mình thực sự muốn gì, từ đó xác định được mục tiêu sống đúng đắn và kiên định với con đường đã chọn. Hơn nữa, việc hiểu rõ nội tâm giúp ta dễ dàng kiểm soát cảm ứng, tự chữa lành những tổn thương và xây dựng lòng tự tin vững chắc. Nếu không hiểu mình, con người dễ rơi vào trạng thái hoang mang, lạc lối và luôn cảm thấy trống rỗng dù có đạt được những thành tựu bên ngoài. Tuy nhiên, thấu hiểu bản thân không phải là một đích đến mà là một hành trình dài đòi hỏi sự trung thực và lòng can đảm để đối diện với cả những mảng tối trong tâm hồn. Hãy dành thời gian tĩnh lặng để kết nối với chính mình, bởi lẽ "biết người là thông minh, biết mình là trí tuệ".








Trong hành trình trưởng thành đầy biến động, nếu có một hành trang quý giá nhất mà mỗi người trẻ cần mang theo, đó chắc chắn không phải là tiền bạc hay địa vị, mà chính là niềm tin vào bản thân. Giữa một thế giới phẳng với vô vàn cơ hội và cũng không ít áp lực, niềm tin vào chính mình đã trở thành "kim chỉ nam" giúp thế hệ trẻ định vị giá trị và khẳng định bản sắc cá nhân. Niềm tin vào bản thân, hay sự tự tin, không đơn thuần là cảm giác hài lòng về vẻ ngoài hay tài năng sẵn có. Đó là một thái độ sống tích cực, dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về năng lực, sở trường và cả những khiếm khuyết của chính mình. Người có niềm tin vào bản thân là người dám đặt ra mục tiêu và kiên trì theo đuổi, dù biết con đường phía trước đầy rẫy chông gai. Nhìn vào giới trẻ hiện nay, chúng ta thấy một diện mạo đầy khởi sắc của niềm tin. Khác với thế hệ đi trước thường ưu tiên sự ổn định, người trẻ ngày nay dám bứt phá khỏi "vùng an toàn". Chúng ta thấy những bạn trẻ gen Z khởi nghiệp khi còn ngồi trên ghế nhà trường, những nghệ sĩ độc lập kiên trì với dòng nhạc kén người nghe, hay những tình nguyện viên trẻ tuổi dám dấn thân vào những vùng khó khăn. Họ tin rằng mình có thể thay đổi thế giới, hoặc ít nhất là thay đổi cuộc đời mình theo cách mình muốn. Chính niềm tin ấy là nguồn năng lượng khổng lồ, biến những ý tưởng "điên rồ" trên giấy thành những dự án có sức tác động thực tế. Ý nghĩa của niềm tin vào bản thân còn nằm ở sức mạnh chữa lành và vực dậy sau thất bại. Trong thời đại mà mạng xã hội dễ khiến con người rơi vào cái bẫy so sánh "peer pressure" (áp lực đồng trang lứa), niềm tin giúp người trẻ giữ vững lập trường. Khi đứng trước một cánh cửa đóng lại, người tự tin sẽ không dành thời gian để oán trách số phận, họ sẽ tin rằng mình đủ khả năng để tìm thấy một lối đi khác hoặc tự tạo ra một cánh cửa mới cho chính mình. Tuy nhiên, cần phân định rạch ròi giữa niềm tin bản thân và sự tự phụ thái quá. Tự tin phải đi đôi với khiêm tốn và không ngừng học hỏi. Nếu niềm tin không dựa trên thực lực mà chỉ là sự ảo tưởng về sức mạnh cá nhân, nó sẽ biến thành sự kiêu ngạo, dẫn đến những quyết định sai lầm. Ngược lại, sự tự ti – kẻ thù của niềm tin – cũng là một rào cản lớn khiến nhiều bạn trẻ đánh mất cơ hội quý giá chỉ vì câu hỏi: "Liệu mình có làm được không?". Tóm lại, niềm tin vào bản thân không phải là một món quà bẩm sinh, mà là một "cơ bắp" cần được rèn luyện mỗi ngày thông qua trải nghiệm và kiến thức. Mỗi người trẻ hãy như một cái cây, bén rễ thật sâu vào lòng đất của sự hiểu biết để vươn cành thật cao giữa bầu trời của khát vọng. Đừng để tiếng ồn của những ý kiến bên ngoài lấn át tiếng nói bên trong bạn. Hãy tin vào chính mình, bởi nếu bạn không tin vào khả năng của mình, liệu có ai khác dám đặt niềm tin vào bạn?

Câu 1. (2.0 điểm) Trong cuốn Nhà giả kim, Paul Coelho có viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.”. Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.       Bảo kính cảnh giới (Bài 33) Rộng khơi ngại...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Trong cuốn Nhà giả kim, Paul Coelho có viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.”. Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

      Bảo kính cảnh giới (Bài 33)

Rộng khơi ngại vượt bể triều quan(1),

Lui tới đòi thì(2) miễn(3) phận an.

Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày lệ(4) bóng hoa tan.

Đời dùng người có tài Y, Phó(5),

Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan(6).

Kham hạ(7) hiền(8) xưa toan lẩn được,

Ngâm câu:“danh lợi bất như nhàn”

               (Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)

Chú thích:

(1) Triều quan: Quan lớn trong triều đình.

(2) Đòi thì: Từ cổ - thuận ứng với thời thế, thuận theo thời.

(3) Miễn: Chỉ cần.

(4) : Sợ ngại.

(5) Y, Phó: Tức Y Doãn và Phó Duyệt những người có tài bên Trung Quốc.

(6) Khổng, Nhan: Đạo Khổng, đạo Nho.

(7) Kham hạ: Chịu ở dưới, chịu thua, chịu ở địa vị thấp kém.

(8) Hiền: Kẻ sĩ có tài, đức. 

38
10 tháng 4

Câu 2 :

10 tháng 4

Câu 1:

Câu nói của Paul Coelho: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, bởi mỗi con người đều phải trải qua những thử thách, khó khăn trên hành trình trưởng thành. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Đứng dậy sau thất bại giúp con người rút ra bài học, tích lũy kinh nghiệm và trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, ta sẽ không bao giờ đạt được thành công. Trong thực tế, nhiều người nổi tiếng đã từng thất bại nhiều lần trước khi thành công, chính sự kiên trì đã giúp họ chạm tới ước mơ. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện ý chí, không sợ sai, không nản chí trước khó khăn. Câu nói là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải luôn vững vàng, lạc quan và không ngừng cố gắng để vươn tới mục tiêu trong cuộc sống.

Câu 2:

Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tư tưởng sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và đề cao nhân nghĩa của tác giả.

Trước hết, về nội dung, bài thơ mở đầu bằng tâm thế rời bỏ chốn quan trường:

“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,

Lui tới dời thì miễn phận an.”

Nguyễn Trãi chủ động xa lánh chốn quan trường đầy bon chen, chọn cuộc sống ẩn dật để giữ sự bình yên cho tâm hồn. Đây không phải là thái độ trốn tránh mà là sự lựa chọn của một nhân cách lớn, hiểu rõ thời cuộc.

Hai câu tiếp theo khắc họa cuộc sống giản dị mà thanh cao:

“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”

Hình ảnh thiên nhiên tinh tế, giàu chất thơ cho thấy tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên của tác giả.

Ở hai câu luận, Nguyễn Trãi bày tỏ quan niệm về cách dùng người và con đường đạo đức:

“Đời dùng người có tài Y, Phó,

Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”

Ông nhắc đến những bậc hiền tài để khẳng định giá trị của người có đức, có tài, đồng thời giữ vững đạo lý Nho gia trong mọi hoàn cảnh.

Hai câu kết thể hiện triết lí sống sâu sắc:

“Kham hạ hiền xưa toan lấn được,

Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn.”

Tác giả khẳng định danh lợi không bằng cuộc sống nhàn tĩnh, an nhiên. Đây là kết tinh của một nhân sinh quan cao đẹp, đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh giàu tính biểu tượng. Giọng điệu trầm lắng, suy tư giúp thể hiện rõ chiều sâu tư tưởng.

Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh về cuộc sống ẩn dật mà còn là lời khẳng định nhân cách cao quý của Nguyễn Trãi: sống thanh bạch, giữ vững đạo lý và coi nhẹ danh lợi. Đây là bài học ý nghĩa cho mỗi con người trong cuộc sống hôm nay.

24 tháng 5 2025

Dưới đây là lời giải chi tiết cho từng bài:


Bài 1:

Phản ứng:

\(2 A l \left(\right. s \left.\right) + \frac{3}{2} O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow A l_{2} O_{3} \left(\right. s \left.\right) \Delta H = - 1675,7 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

Khối lượng \(A l_{2} O_{3}\) cho: 10,2 gam

Bước 1: Tính số mol Al₂O₃:

  • \(M \left(\right. A l_{2} O_{3} \left.\right) = 2 \times 27 + 3 \times 16 = 102 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)
  • \(n = \frac{10,2}{102} = 0,1 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Dựa vào phản ứng, ta thấy:

  • 1 mol \(A l_{2} O_{3}\) tạo ra → tỏa ra \(1675,7 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

→ 0,1 mol sẽ tỏa ra:

\(Q = 0,1 \times 1675,7 = \boxed{167,57 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


Bài 2:

Phản ứng:

\(S O_{2} \left(\right. g \left.\right) + \frac{1}{2} O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow S O_{3} \left(\right. g \left.\right) \Delta H = - 98,5 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

Cho: \(m_{S O_{2}} = 74,6 \&\text{nbsp};\text{gam}\)

Bước 1: Tính số mol SO₂:

\(M \left(\right. S O_{2} \left.\right) = 32 + 2 \times 16 = 64 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\) \(n = \frac{74,6}{64} = 1,165625 \approx 1,166 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Tính nhiệt lượng tỏa ra:

\(Q = 1,166 \times 98,5 \approx \boxed{114,88 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


Bài 3:

Phản ứng:

\(2 S O_{2} \left(\right. g \left.\right) + O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow 2 S O_{3} \left(\right. g \left.\right) \Delta H = - 197,0 \&\text{nbsp};\text{kJ} \left(\right. \text{g} \overset{ˊ}{\hat{\text{a}}} \text{p}\&\text{nbsp};đ \hat{\text{o}} \text{i}\&\text{nbsp};\text{ph}ả\text{n}\&\text{nbsp};ứ\text{ng}\&\text{nbsp};\text{b} \overset{ˋ}{\text{a}} \text{i}\&\text{nbsp};\text{2} \left.\right)\)

Cho: \(m_{S O_{2}} = 7,68 \&\text{nbsp};\text{gam}\)

Bước 1: Tính số mol SO₂:

\(n = \frac{7,68}{64} = 0,12 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Phản ứng sinh ra bao nhiêu nhiệt?

  • Phản ứng: 2 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra 197,0 kJ
    ⇒ 1 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra \(\frac{197,0}{2} = 98,5 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

⇒ 0,12 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra:

\(Q = 0,12 \times 98,5 = \boxed{11,82 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


✅ Tóm tắt đáp án:

  • Bài 1: 167,57 kJ
  • Bài 2: 114,88 kJ
  • Bài 3: 11,82 kJ (tỏa ra)
27 tháng 1

Trong khổ thơ, biện pháp liệt kê được sử dụng qua hàng loạt hình ảnh như yếm đào, nón quai thao, tay bí tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu. Việc liệt kê những chi tiết quen thuộc trong đời sống lao động đã làm nổi bật hình ảnh người mẹ nông thôn nghèo khó, lam lũ, quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Nhờ đó, vẻ đẹp giản dị, mộc mạc và sự hi sinh thầm lặng của người mẹ được khắc họa rõ nét hơn, đồng thời gợi lên trong lòng người đọc niềm thương yêu, trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với mẹ.

27 tháng 1

Hình ảnh hoa khế trong bài thơ Hoa khế nở của Nguyễn Mỹ mang một ý nghĩa sâu sắc và gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc. Hoa khế không rực rỡ như hoa phượng, không kiêu sa như hoa hồng mà nhỏ bé, mộc mạc, mang màu tím dịu dàng. Chính sự giản dị ấy đã làm nên vẻ đẹp riêng, tượng trưng cho những con người bình thường nhưng giàu tình cảm, đặc biệt là hình ảnh người mẹ, người bà nơi làng quê Việt Nam. Hoa khế gắn liền với vườn nhà, với tuổi thơ, với những kỉ niệm thân thương và yên bình, vì thế nó trở thành biểu tượng của quê hương, của cội nguồn. Trong bài thơ, hoa khế còn gợi lên sự hi sinh thầm lặng. Hoa nở âm thầm, không phô trương nhưng vẫn tỏa hương, giống như những con người lặng lẽ cống hiến cho gia đình và đất nước mà không đòi hỏi được ghi công. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Mỹ thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị bình dị trong cuộc sống, nhắc nhở con người không nên chạy theo những điều hào nhoáng mà quên đi những gì gần gũi, bền lâu. Hình ảnh hoa khế còn mang ý nghĩa về sức sống bền bỉ. Dù trải qua nắng mưa, hoa vẫn nở đúng mùa, nhẹ nhàng mà kiên cường. Điều đó gợi cho em suy nghĩ về con người Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn giữ được tình yêu cuộc sống và niềm tin vào tương lai. Có thể nói, hoa khế trong bài thơ không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà còn là biểu tượng đẹp của quê hương, của con người và những giá trị nhân văn sâu sắc.

7 tháng 1

Hướng dấn dinh dưỡng của vi sinh vật dựa trên nguồn cacbon và nguồn năng lượng:

- Quang tự dưỡng: lấy cacbon từ CO2 và lấy năng lượng từ ánh sáng. Vi dị nhữ bao gồm tảo lam, tảo lục, vi khuẩn lục láy CO2 có diếp.

- Hóa tự dưỡng: lấy cacbon từ CO2 nhưng năng lượng lấy từ sự oxy hóa các chất vô cơ (như NH3, H2S...). Vi dụ như bao gồm vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn lẩu cầu, ...

- Quang dị dưỡng: sử dụng chất hữu cơ làm nguồn cacbon, nhưng năng lượng lấy từ ánh sáng. Ví dụ: một số vi khuẩn tím.

- Hóa dị dượng: vừa lấy cacbon vừa lấy năng lượng từ chất hữu cơ. Đa số vi khuẩn, nấm và động vật vi nhỏ thuộc nhóm này. Ta phân biệt các nhóm này dựa vào nguồn carbon (CO2 hay chất hữu cơ) và nguồn năng lượng (ánh sáng hay phản ứng hóa học).

Phần thí nghiệm trong câu hỏi mô tả quy trình nhuộm vi khuẩn Gram: sử dụng cân iốt, rượu etylic, xanh methylen để nhuộm vi khuẩn.

Kết quả nhuộm giúp phân biệt vi khuẩn Gram dương (màu tím) và Gram âm (màu hồng) dựa trên cấu trúc vách tế bào.

Quy trình này không thể hiện vi khuẩn sinh sản theo kiểu nào. Vi khuẩn thường sinh sản bằng phương thức phân đôi (đối với nhiều loại), ngoài ra còn có nẩy chồi, nẩy bào tử hoặc cải vô tính. Hình vẽ tải phần ba cho thấy tế bào 2n=4 đang ở kỳ giữa của nguyên phân (metaphase). Mỗi nhiễm sắc thể gồm hai crômatit dính nhau, xếp thành mặt phẳng xích đạo. ở kỳ giữa tế bào 2n=4 có 4 nhiễm sắc thể hay 8 crômatit. Nếu tổng cộng thu được 192 nhiễm sắc thể ở kỳ này thì số tế bào đang bị quan sát là 192 : 8 = 24 tế bào. Như vậy có 24 tế bào đang ở kỳ giữa nguyên phân.

Em hoàn toàn đồng ý Vì văn minh Đại Việt chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ nhưng đã tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo theo bản sắc riêng của dân tộc

 Trong chính trị, Đại Việt xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh, kết hợp giữa Nho giáo và tinh thần tự chủ dân tộc

 Trong văn hóa, chữ Hán được sử dụng nhưng người Việt cũng sáng tạo ra chữ Nôm để ghi chép tiếng nói dân tộc

 Các phong tục, tín ngưỡng bản địa như thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu vẫn được duy trì song song với Phật giáo, Nho giáo

Kiến trúc mang đậm dấu ấn riêng với những công trình như Hoàng thành Thăng Long, chùa Một Cột, Văn Miếu -Quốc Tử Giám

Đặc biệt, tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm đã hun đúc nên một nền văn minh kiên cường, độc lập. Những điều đó thể hiện rõ sự kế thừa tinh hoa bên ngoài nhưng vẫn phát triển theo hướng riêng, khẳng định bản sắc dân tộc Đại Việt

2 tháng 4

Câu 1.

Bài thơ "Chiếc lá đầu tiên" của Hoàng Nhuận Cầm là một bản giao hưởng đầy hoài niệm về tuổi học trò hồn nhiên và rực rỡ. Về mặt nội dung, bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người đã trưởng thành nhìn lại quá khứ, mà còn là sự trân trọng những kỷ niệm thiêng liêng: tiếng ve ngân, hoa phượng hồng, và những rung động đầu đời trong sáng. Tác giả khéo léo đan xen giữa hiện tại và quá khứ, tạo nên một nỗi buồn man mác nhưng không bi lụy. Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt như dòng chảy của ký ức. Hình ảnh ẩn dụ "chiếc lá đầu tiên" mang tính biểu tượng cao, gợi mở về sự khởi đầu của tình yêu và sự kết thúc của một thời niên thiếu. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ (như "Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu") càng làm đậm thêm sự nuối tiếc khôn nguôi về một thời "hoa đỏ" đã xa.

Câu 2.

Trong cuốn tiểu thuyết "Sáu người đi khắp thế gian", James Michener đã để lại một dòng tư duy đầy ám ảnh: "Mặc dù bọn trẻ ném đá vào lũ ếch để đùa vui, nhưng lũ ếch không chết đùa mà chết thật". Câu văn giản đơn nhưng đã bóc trần một sự thật nghiệt ngã về sự vô tâm và khoảng cách mênh mông giữa ý định của người hành động với hậu quả mà nạn nhân phải gánh chịu. ​Hình ảnh "bọn trẻ ném đá" tượng trưng cho những hành động xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, sự đùa cợt vô ý thức hoặc lối sống ích kỷ, coi niềm vui của bản thân là trên hết. Ngược lại, "lũ ếch chết thật" chính là những tổn thương hiện hữu, những nỗi đau không thể vãn hồi mà nạn nhân phải chịu đựng. Câu nói nhắc nhở chúng ta rằng: Một lời chế giễu, một hành động "vui thôi mà" của người này có thể là nhát dao chí mạng cắt sâu vào cuộc đời của người khác. ​Trong thực tế xã hội hiện đại, hiện tượng "ném đá" này không chỉ nằm ở hành động vật lý. Đó có thể là những lời bình luận ác ý trên mạng xã hội (cyberbullying), là những trò đùa dai về khiếm khuyết ngoại hình, hay việc cô lập một cá nhân trong tập thể. Người nói có thể quên ngay sau vài giây, nhưng người nghe có thể mang theo vết sẹo tâm lý suốt đời. Sự nguy hiểm nhất không phải là ác ý, mà là sự "vô can" – khi chúng ta làm hại người khác mà vẫn ngây thơ nghĩ rằng mình chỉ đang "đùa vui". ​Để không trở thành "bọn trẻ ném đá", mỗi chúng ta cần học cách thấu cảm. Thấu cảm là khả năng đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu rằng mỗi hòn đá ném đi đều mang theo sức nặng của sự hủy diệt. Trước khi định phát ngôn hay hành động nhắm vào ai đó, hãy tự hỏi: "Nếu mình là người nhận, mình có thấy vui không?". Sự tử tế không nhất thiết phải là những điều lớn lao, đôi khi nó chỉ đơn giản là việc kiềm chế một trò đùa rẻ rúng để bảo vệ lòng tự trọng của người đối diện. ​Tóm lại, thế giới sẽ bớt đi những "lũ ếch chết thật" nếu mỗi người biết tự kỷ luật cảm xúc và ý thức được trách nhiệm của mình. Đừng để sự vô tâm biến chúng ta thành những kẻ sát nhân nhân danh niềm vui, bởi nỗi đau thì luôn thật, dù cái cớ có là "đùa" đi chăng nữa.

3 tháng 4

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Bài thơ “Chiếc lá đầu tiên” thể hiện những rung động trong trẻo, tinh khôi của tuổi học trò khi đứng trước những kỉ niệm đầu đời. Nội dung bài thơ gợi nhớ về tình bạn, tình thầy trò và đặc biệt là những cảm xúc bâng khuâng của mối tình đầu. Hình ảnh “chiếc lá đầu tiên” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự khởi đầu, cho những cảm xúc non nớt nhưng chân thành và đáng nhớ. Qua đó, tác giả thể hiện sự trân trọng những kỉ niệm đẹp của tuổi trẻ – quãng thời gian mà mỗi con người đều đi qua nhưng không thể quay lại.


Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, gần gũi với đời sống học sinh. Hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng, gợi nhiều liên tưởng. Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, pha chút tiếc nuối đã góp phần làm nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Ngoài ra, việc sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh giúp tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Tất cả đã tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc, để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc.




Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Câu nói: “Mặc dù bọn trẻ ném đá vào lũ ếch để đùa vui, nhưng lũ ếch không chết đùa mà chết thật” đã gợi lên một bài học sâu sắc về hậu quả của những hành động tưởng chừng vô ý. Đối với những đứa trẻ, việc ném đá chỉ là trò chơi, là sự giải trí nhất thời. Nhưng đối với những con ếch – nạn nhân của hành động đó – thì đó lại là sự đau đớn, thậm chí là cái chết. Câu nói nhấn mạnh rằng: có những hành động ta cho là nhỏ bé, vô hại nhưng lại gây ra tổn thương nghiêm trọng cho người khác.


Trong cuộc sống, không ít người vô tình làm tổn thương người khác bằng lời nói hay hành động của mình. Một câu trêu chọc, một lời nói thiếu suy nghĩ hay một hành động bạo lực học đường có thể để lại hậu quả lâu dài về cả thể chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, trong môi trường học đường, tình trạng bắt nạt, trêu ghẹo bạn bè đôi khi bị xem nhẹ như “đùa vui”, nhưng thực chất lại gây ra những tổn thương sâu sắc cho nạn nhân.


Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong hành vi và lời nói. Trước khi làm một điều gì đó, hãy đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ: liệu hành động này có làm họ đau không? Bên cạnh đó, cần xây dựng lối sống nhân ái, biết yêu thương và tôn trọng mọi người xung quanh.


Tóm lại, câu nói trên là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải cẩn trọng trong hành động, bởi điều ta xem là trò đùa có thể là nỗi đau thật sự của người khác. Sống có ý thức và biết đồng cảm sẽ giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn.