K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TIẾC THƯƠNG SINH THÁI   Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TIẾC THƯƠNG SINH THÁI

   Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).

   Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.

   [...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]

   Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.

(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?

Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?

Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?

Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?

182
9 tháng 3

Câu 1.
Theo bài viết, “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy giảm hoặc biến mất của môi trường tự nhiên và hệ sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra.

Câu 2.
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự: nêu hiện tượng → giải thích khái niệm → đưa ra dẫn chứng thực tế → cung cấp số liệu khảo sát để mở rộng và làm rõ vấn đề.

Câu 3.
Tác giả sử dụng các bằng chứng như: ý kiến và nghiên cứu của các nhà khoa học; dẫn chứng thực tế về các cộng đồng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (người Inuit ở Canada, nông dân ở Australia, các tộc người bản địa ở Brazil); và số liệu khảo sát về cảm xúc của trẻ em, thanh thiếu niên ở nhiều quốc gia.

Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc nhìn tâm lí và đời sống tinh thần của con người, cho thấy biến đổi khí hậu không chỉ gây tổn hại môi trường mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc và sức khỏe tinh thần của con người.

Câu 5.
Thông điệp sâu sắc nhất là biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường mà còn tác động mạnh đến đời sống tinh thần của con người. Vì vậy mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và có trách nhiệm hơn với Trái Đất.

Câu 1:
Theo bài viết, hiện tượng tiếc thương sinh thái là trạng thái cảm xúc buồn bã, lo lắng hoặc đau buồn của con người khi nhận thấy môi trường tự nhiên bị suy thoái, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và hệ sinh thái bị tổn hại.

Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự từ việc nêu thực trạng, sau đó đưa ra dẫn chứng và số liệu cụ thể. Tác giả trước hết đề cập đến hiện tượng tiếc thương sinh thái do biến đổi khí hậu, rồi dẫn kết quả khảo sát để làm rõ mức độ ảnh hưởng của vấn đề này đối với giới trẻ.

Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng như kết quả khảo sát, số liệu thống kê và dẫn chứng khoa học (Cuộc thăm dò của Caroline Hickman và cộng sự với 1.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở 10 quốc gia).

Câu 4:
Cách tiếp cận vấn đề của tác giả mang tính khách quan và khoa học. Tác giả không chỉ nêu hiện tượng mà còn đưa ra số liệu khảo sát cụ thể, giúp người đọc hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cảm xúc và đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ.

Câu 5:
Từ bài viết trên thông điệp sâu sắc nhất đối với em là: Con người cần nhận thức về những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với thiên nhiên và đời sống. Thông điệp này có ý nghĩa với em vì biến đổi khí hậu không chỉ gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý và cuộc sống của con người. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và chung tay hành động để giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Tóm lại thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà còn đối với tất cả mọi người.

Đề thi đánh giá năng lực

Step 1: Tính số mol của  238U238𝐔và  206Pb206𝐏𝐛 Khối lượng mol nguyên tử của  238U238Ulà  AU=238g/mol𝐴𝑈=238g/molvà của  206Pb206Pblà  APb=206g/mol𝐴𝑃𝑏=206g/mol.
Số mol của urani hiện tại là  nU=mUAU=46.97×10-3238≈1.97378×10-4mol𝑛𝑈=𝑚𝑈𝐴𝑈=46.97×10−3238≈1.97378×10−4mol.
Số mol của chì hiện tại là  nPb=mPbAPb=23.15×10-3206≈1.12378×10-4mol𝑛𝑃𝑏=𝑚𝑃𝑏𝐴𝑃𝑏=23.15×10−3206≈1.12378×10−4mol.
Step 2: Tính số mol urani ban đầu  Do tất cả chì đều là sản phẩm phân rã của urani, số mol urani đã phân rã bằng số mol chì tạo thành. 
Số mol urani ban đầu là  n0=nU+nPb≈1.97378×10-4+1.12378×10-4≈3.09756×10-4mol𝑛0=𝑛𝑈+𝑛𝑃𝑏≈1.97378×10−4+1.12378×10−4≈3.09756×10−4mol.
Step 3: Áp dụng công thức tính tuổi của khối đá  Sử dụng công thức định luật phân rã phóng xạ  N=N0e−λt𝑁=𝑁0𝑒−𝜆𝑡, hay  N0N=eλt𝑁0𝑁=𝑒𝜆𝑡.
Với  λ=ln(2)T𝜆=ln(2)𝑇, ta có  eln(2)Tt=n0nU𝑒ln(2)𝑇𝑡=𝑛0𝑛𝑈.
Lấy logarit tự nhiên hai vế:  ln(2)Tt=ln(n0nU)ln(2)𝑇𝑡=ln𝑛0𝑛𝑈.
Tuổi của khối đá là  t=Tln(2)ln(n0nU)𝑡=𝑇ln(2)ln𝑛0𝑛𝑈.
Thay số:  t=4.47×109ln(2)ln(3.09756×10-41.97378×10-4)≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm𝑡=4.47×109ln(2)ln3.09756×10−41.97378×10−4≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm
11 tháng 3
Step 1: Tính số mol của  238U238𝐔và  206Pb206𝐏𝐛 Khối lượng mol nguyên tử của  238U238Ulà  AU=238g/mol𝐴𝑈=238g/molvà của  206Pb206Pblà  APb=206g/mol𝐴𝑃𝑏=206g/mol.
Số mol của urani hiện tại là  nU=mUAU=46.97×10-3238≈1.97378×10-4mol𝑛𝑈=𝑚𝑈𝐴𝑈=46.97×10−3238≈1.97378×10−4mol.
Số mol của chì hiện tại là  nPb=mPbAPb=23.15×10-3206≈1.12378×10-4mol𝑛𝑃𝑏=𝑚𝑃𝑏𝐴𝑃𝑏=23.15×10−3206≈1.12378×10−4mol.
Step 2: Tính số mol urani ban đầu  Do tất cả chì đều là sản phẩm phân rã của urani, số mol urani đã phân rã bằng số mol chì tạo thành. 
Số mol urani ban đầu là  n0=nU+nPb≈1.97378×10-4+1.12378×10-4≈3.09756×10-4mol𝑛0=𝑛𝑈+𝑛𝑃𝑏≈1.97378×10−4+1.12378×10−4≈3.09756×10−4mol.
Step 3: Áp dụng công thức tính tuổi của khối đá  Sử dụng công thức định luật phân rã phóng xạ  N=N0e−λt𝑁=𝑁0𝑒−𝜆𝑡, hay  N0N=eλt𝑁0𝑁=𝑒𝜆𝑡.
Với  λ=ln(2)T𝜆=ln(2)𝑇, ta có  eln(2)Tt=n0nU𝑒ln(2)𝑇𝑡=𝑛0𝑛𝑈.
Lấy logarit tự nhiên hai vế:  ln(2)Tt=ln(n0nU)ln(2)𝑇𝑡=ln𝑛0𝑛𝑈.
Tuổi của khối đá là  t=Tln(2)ln(n0nU)𝑡=𝑇ln(2)ln𝑛0𝑛𝑈.
Thay số:  t=4.47×109ln(2)ln(3.09756×10-41.97378×10-4)≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm𝑡=4.47×109ln(2)ln3.09756×10−41.97378×10−4≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm
Tính thể tích máu của người đó  Step 1: Tính độ phóng xạ còn lại sau 7,5 giờ  Độ phóng xạ giảm theo công thức:  H=H0⋅2−tT𝐻=𝐻0⋅2−𝑡𝑇.
Với  H0=2μCi𝐻0=2𝜇Ci, T=15gi𝑇=15gi, t=7,5gi𝑡=7,5gi
H=2⋅2−7,515=2⋅2-0,5=2⋅12=2μCi𝐻=2⋅2−7,515=2⋅2−0,5=2⋅12√=2√𝜇Ci Step 2: Chuyển đổi đơn vị độ phóng xạ  Độ phóng xạ ban đầu  H0=2μCi=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq𝐻0=2𝜇Ci=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq(phân rã/giây). 
Độ phóng xạ sau 7,5 giờ:  H=2μCi≈1,414μCi𝐻=2√𝜇Ci≈1,414𝜇Ci.
Độ phóng xạ của mẫu máu lấy ra:  H′=502phân rã/phút=50260Bq𝐻′=502phânrã/phút=50260Bq(phân rã/giây). 
Step 3: Tính thể tích máu  Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu  V𝑉.
Độ phóng xạ  H′𝐻′đo được từ thể tích mẫu  V′=1cm3𝑉′=1cm3phải tương ứng với độ phóng xạ  H𝐻trong toàn bộ thể tích  V𝑉.
Ta có tỉ lệ:  HV=H′V′𝐻𝑉=𝐻′𝑉′ 
V=H⋅V′H′=2μCi⋅1cm3502phân rã/phút𝑉=𝐻⋅𝑉′𝐻′=2√𝜇Ci⋅1cm3502phânrã/phút Để tính toán, sử dụng đơn vị Bq cho độ phóng xạ:  V=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3𝑉=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3 Hoặc sử dụng đơn vị  μCi𝜇Cicho độ phóng xạ:  H′=502phân rã/phút=50260⋅3,7⋅104μCi≈0,000226μCi𝐻′=502phânrã/phút=50260⋅3,7⋅104𝜇Ci≈0,000226𝜇Ci
11 tháng 3
Step 1: Tính độ phóng xạ ban đầu của mẫu máu sau 7,5 giờ  Độ phóng xạ ban đầu của dung dịch tiêm vào là  H0=2μCi=2×3,7×104Bq=7,4×104𝐻0=2𝜇Ci=2×3,7×104Bq=7,4×104phân rã/giây.  Đổi đơn vị độ phóng xạ về phân rã/phút: 
H0=7,4×104×60=4,44×106𝐻0=7,4×104×60=4,44×106phân rã/phút. 
Step 2: Tính độ phóng xạ còn lại của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ  Sử dụng công thức độ phóng xạ:  H=H0×2−tT𝐻=𝐻0×2−𝑡𝑇.
Với  H0=4,44×106𝐻0=4,44×106phân rã/phút,  t=7,5𝑡=7,5giờ,  T=15𝑇=15giờ: 
H=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2-0,5=4,44×1062≈3,1397×106𝐻=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2−0,5=4,44×1062√≈3,1397×106phân rã/phút. 
Step 3: Tính thể tích máu của người đó  Độ phóng xạ của  1cm31cm3máu sau 7,5 giờ là  h=502ℎ=502phân rã/phút. 
Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu  V𝑉.
Ta có tỉ lệ: 
HV=h1cm3𝐻𝑉=ℎ1cm3 V=Hh×1cm3𝑉=𝐻ℎ×1cm3 V=3,1397×106502≈6254,4cm3𝑉=3,1397×106502≈6254,4cm3 V≈6,25L𝑉≈6,25L

Câu 1 Hình tượn người phụ nữ trong bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" của nguyễn quan thiều  hiện lên đầy ám ảnh với vẻ đẹp lam lũ, vất vả nhưng vô cùng kiên cường. Qua những chi tiết tả thực như "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái", tác giả khắc họa sâu sắc sự nhọc nhằn của những người phụ nữ lao động nghèo. Đôi chân ấy không chỉ gánh nước mà còn gánh cả gánh nặng cuộc đời, thời gian "năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm". Vẻ đẹp của họ không nằm ở sự kiều diễm mà ở sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, thầm lặng cống hiến sức mình cho cuộc sống. Hình ảnh hoán dụ "gánh nước sông" vừa nhấn mạnh công việc vất vả, vừa gợi lên thân phận trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Đoạn thơ không chỉ thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước những kiếp người "đàn bà gánh nước" mà còn ngợi ca phẩm chất chịu đựng, sức sống tiềm tàng và tình yêu thương gia đình cao quý của họ. Tóm lại, hình tượng người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó. 

Câu 2 Hội chứng "burnout" (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng báo động trong giới trẻ hiện nay, không chỉ ở môi trường làm việc mà còn cả học tập. Đó là trạng thái kiệt quệ về thể chất, tâm lý và cảm xúc, dẫn đến mất động lực, giảm năng suất và cảm giác tách biệt. Nguyên nhân sâu xa đến từ áp lực thành tích, sự kỳ vọng của xã hội và áp lực đồng trang lứa, khiến người trẻ không ngừng chạy đua trong xã hội hiện đại. Burnout không chỉ là mệt mỏi thông thường mà là sự "cháy sạch" năng lượng bên trong. Biểu hiện dễ thấy là việc người trẻ mất hứng thú với những đam mê trước đây, luôn trong trạng thái căng thẳng, lo âu, hay quên, giảm khả năng tập trung và thường xuyên muốn tách biệt khỏi xã hội. Nhiều bạn trẻ cảm thấy mình phải "hoàn hảo", luôn phải bận rộn để chứng tỏ giá trị bản thân, dẫn đến tình trạng làm việc quá sức.Nguyên nhân của hội chứng này phần lớn đến từ môi trường xã hội cạnh tranh khốc liệt. Sự phát triển của mạng xã hội tạo ra "áp lực đồng trang lứa", khi thấy người khác thành công sớm, giới trẻ cảm thấy tự ti và ép buộc mình phải chạy nhanh hơn. Ngoài ra, việc thiếu cân bằng giữa thời gian học tập/làm việc và nghỉ ngơi cũng là yếu tố chính.Hậu quả của burnout là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ gây ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, công việc mà còn dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm về tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu và suy giảm thể chất nghiêm trọngĐể vượt qua burnout, giới trẻ cần học cách lắng nghe cơ thể và tâm trí mình. Cần dám sống chậm lại, thiết lập ranh giới rõ ràng giữa công việc và cuộc sống, dành thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục và tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình hoặc chuyên gia tâm lý. Hãy nhớ rằng: "Sức khỏe tinh thần là nền tảng của mọi thành công".

Tóm lại, burnout là một căn bệnh thời đại của giới trẻ. Chúng ta cần thay đổi tư duy về thành công, trân trọng sức khỏe bản thân và dũng cảm đối mặt với áp lực để có thể sống một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc hơn\(\)

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:             Những người đàn bà gánh nước sôngNhững ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà máiĐã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấyNhững người đàn bà xuống gánh nước sôngNhững bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướtMột bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

             Những người đàn bà gánh nước sông

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bám vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

                                                                1992

                                                  - Nguyễn Quang Thiều -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

136

Câu1 thể thơ tự do

Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông

Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải

Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.

  • Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:                      YêuYêu, là chết ở trong lòng một ít,Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!- Yêu, là chết ở trong lòng một...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

                      Yêu

Yêu, là chết ở trong lòng một ít,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
- Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt,
Những người si theo dõi dấu chân yêu;
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu.
Và tình ái là sợi dây vấn vít
Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

                                - Xuân Diệu -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.

Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?

89

câu 1.

bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.


câu 2.

nhịp thơ trong bài khá linh hoạt, chủ yếu ngắt theo nhịp 3/5 hoặc 4/4, tạo cảm giác dồn nén, day dứt. điệp khúc “yêu, là chết ở trong lòng một ít” được lặp lại nhiều lần, tạo âm hưởng ám ảnh, xoáy sâu vào cảm xúc đau đớn của nhân vật trữ tình.


câu 3.


  • đề tài: tình yêu.
  • chủ đề: bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của xuân diệu – yêu là sự hi sinh, là nỗi đau, là cảm giác mất mát và cô đơn khi tình cảm không được đáp lại trọn vẹn. qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm, mãnh liệt và đầy khát khao yêu thương của nhà thơ.



câu 4.

hình ảnh “cảnh đời là sa mạc cô liêu” là một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng mạnh. “sa mạc” gợi sự khô cằn, rộng lớn nhưng trống trải, thiếu sức sống. kết hợp với “cô liêu” càng nhấn mạnh cảm giác lạc lõng, bơ vơ của con người khi yêu mà không được đáp lại. hình ảnh này cho thấy tình yêu có thể khiến con người rơi vào trạng thái cô đơn tột cùng, giữa cuộc đời mênh mông nhưng không tìm được sự đồng điệu.


câu 5.

bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về tình yêu. yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn có thể mang đến đau khổ và tổn thương. tuy vậy, con người vẫn luôn khao khát được yêu và được sống hết mình với cảm xúc. điều đó cho thấy tình yêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, giúp con người trưởng thành hơn, dù đôi khi phải đánh đổi bằng những “cái chết ở trong lòng”.


Câu 1:

Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:

Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.

Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.

Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.

Câu 3:

Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.

Chủ đề:

Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.

Câu 4:


Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.

Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.

Câu 5:

Qua bài thơ Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:                      YêuYêu, là chết ở trong lòng một ít,Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!- Yêu, là chết ở trong lòng một...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

                      Yêu

Yêu, là chết ở trong lòng một ít,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
- Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt,
Những người si theo dõi dấu chân yêu;
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu.
Và tình ái là sợi dây vấn vít
Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

                                - Xuân Diệu -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.

Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?

145

câu 1.

bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.


câu 2.

nhịp thơ trong bài khá linh hoạt, chủ yếu ngắt theo nhịp 3/5 hoặc 4/4, tạo cảm giác dồn nén, day dứt. điệp khúc “yêu, là chết ở trong lòng một ít” được lặp lại nhiều lần, tạo âm hưởng ám ảnh, xoáy sâu vào cảm xúc đau đớn của nhân vật trữ tình.


câu 3.


  • đề tài: tình yêu.
  • chủ đề: bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của xuân diệu – yêu là sự hi sinh, là nỗi đau, là cảm giác mất mát và cô đơn khi tình cảm không được đáp lại trọn vẹn. qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm, mãnh liệt và đầy khát khao yêu thương của nhà thơ.



câu 4.

hình ảnh “cảnh đời là sa mạc cô liêu” là một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng mạnh. “sa mạc” gợi sự khô cằn, rộng lớn nhưng trống trải, thiếu sức sống. kết hợp với “cô liêu” càng nhấn mạnh cảm giác lạc lõng, bơ vơ của con người khi yêu mà không được đáp lại. hình ảnh này cho thấy tình yêu có thể khiến con người rơi vào trạng thái cô đơn tột cùng, giữa cuộc đời mênh mông nhưng không tìm được sự đồng điệu.


câu 5.

bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về tình yêu. yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn có thể mang đến đau khổ và tổn thương. tuy vậy, con người vẫn luôn khao khát được yêu và được sống hết mình với cảm xúc. điều đó cho thấy tình yêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, giúp con người trưởng thành hơn, dù đôi khi phải đánh đổi bằng những “cái chết ở trong lòng”.


Câu 1:

Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:

Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.

Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.

Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.

Câu 3:

Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.

Chủ đề:

Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.

Câu 4:


Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.

Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.

Câu 5:

Qua bài thơ Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.






Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc hiện nay.Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.      ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN                                             Nguyễn Trọng Tạo có cánh rừng chết vẫn...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc hiện nay.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

      ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN
                                             Nguyễn Trọng Tạo
 có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
 có con người sống mà như qua đời

 có câu trả lời biến thành câu hỏi
 có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

 có cha có mẹ có trẻ mồ côi
 có ông trăng tròn nào phải mâm xôi

 có cả đất trời mà không nhà cửa
 có vui nho nhỏ có buồn mênh mông

 mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
 mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

 có thương có nhớ có khóc có cười
 có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.

                                             1992

                               (Theo nhavanhanoi.vn)

126

trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. di tích lịch sử không chỉ là những công trình kiến trúc cổ kính mà còn là chứng nhân của thời gian, lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia. đó có thể là những địa danh như văn miếu quốc tử giám hay cố đô huế – nơi ghi dấu bao thăng trầm của lịch sử dân tộc. tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thời tiết, chiến tranh trước đây và đặc biệt là ý thức chưa cao của một bộ phận người dân. vì vậy, bảo tồn di tích không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân. mỗi người cần nâng cao ý thức giữ gìn, không xâm hại, không vẽ bậy, không phá hoại cảnh quan di tích. đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng giá trị lịch sử. bảo tồn di tích chính là gìn giữ cội nguồn, để quá khứ tiếp tục soi sáng cho hiện tại và tương lai.


Câu 1

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những công trình như Hoàng Thành Thăng Long, Cố Đô Huế hay Tràng An không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là niềm tự hào, bản sắc văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp do thời gian, thiên tai và đặc biệt là sự thiếu ý thức của con người. Vì vậy, mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản, không xâm hại, vẽ bậy, hay làm hư hỏng các công trình. Bên cạnh đó, chúng ta nên tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các hoạt động tuyên truyền, bảo vệ và quảng bá di sản văn hóa. Nhà nước cũng cần có chính sách bảo tồn, tu bổ hợp lí, kết hợp phát triển du lịch bền vững. Khi mỗi người đều có trách nhiệm gìn giữ, những di tích lịch sử sẽ được bảo vệ lâu dài, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và giúp văn hóa dân tộc được lan tỏa trong thời đại hội nhập.


(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Những sự thật về Vạn Lý Trường Thành, “bức tường” bí ẩn nhất nhân loại      Được xây dựng bởi hàng triệu nhân công cũng như chứng kiến hàng trăm trận chiến, Vạn Lý Trường Thành vẫn ở đó, sừng sững cho tới ngày nay và xứng đáng là một trong những kỳ quan vĩ đại nhất của thế giới.      Mặc dù,...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Những sự thật về Vạn Lý Trường Thành, “bức tường” bí ẩn nhất nhân loại

      Được xây dựng bởi hàng triệu nhân công cũng như chứng kiến hàng trăm trận chiến, Vạn Lý Trường Thành vẫn ở đó, sừng sững cho tới ngày nay và xứng đáng là một trong những kỳ quan vĩ đại nhất của thế giới.

      Mặc dù, thu hút rất nhiều du khách tới tham quan mỗi năm, nhưng cho tới nay, nguồn gốc và lý do ra đời thực sự của Vạn Lý Trường Thành vẫn còn đó những nghi hoặc. Bằng cách đi ngược lại lịch sử, nghiên cứu những cấu tạo và tìm kiếm các bằng chứng, ghi chép, các nhà khoa học đã và đang cố gắng giải đáp những bí ẩn xung quanh công trình kỳ vĩ này.

      Trong bài viết dưới đây, hãy cùng điểm lại những điều mà không phải ai cũng biết về Vạn Lý Trường Thành.

      1. Xây Trường Thành là hình phạt cho phạm nhân

      Trong thời nhà Tần, việc xây dựng, bảo trì, giám sát các hoạt động ở Vạn Lý Trường Thành là hình phạt thường xuyên của tù nhân bị kết án. Thời điểm đó không có máy móc nên toàn bộ việc thi công đều phải dùng đến sức người.

      Với các tội danh như trốn thuế có thể bị trừng phạt bằng việc xây tường và khuôn vác nguyên vật liệu vô cùng gian khổ cũng như nguy hiểm. Cùng với những tù nhân phạm tôi, Vạn Lý Trường Thành còn được xây dựng bởi các binh lính và dân thường.

      2. Vạn Lý Trường Thành đang dần "biến mất"

      So với nhiều công trình trên thế giới, quy mô của Vạn Lý Trường Thành là vô cùng ấn tượng. Tuy nhiên, sự kiên cố của công trình này đang gặp phải nhiều mối đe dọa. Theo Travel China Guide, Vạn Lý Trường Thành đang "biến mất dần theo năm tháng". Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất. Nguyên nhân chính được cho là do những tác động của tự nhiên, thời tiết cũng như sự xói mòn do con người. Tuy nhiên, vẫn có những phần của công trình này được bảo tồn và duy tu tốt.

      3. Vạn Lý Trường Thành được xây dựng qua hàng nghìn năm

      Vạn Lý Trường Thành không phải công trình được xây dựng dứt điểm trong một lần mà trải qua rất nhiều năm để có được cấu trúc như chúng ta thấy ngày nay. Bức tường thành kiên cố này được xây dựng qua nhiều triều đại của phong kiến Trung Quốc trong suốt hơn 22 thế kỷ. Phần di tích còn lại cho tới ngày nay chủ yếu được xây dựng dưới thời nhà Minh. Triều đại này đã xây dựng và tu sửa công trình kỳ vĩ này trong suốt hơn 200 năm.

OLM, Ngữ văn 12, Đọc hiểu văn bản thông tin 

Ảnh: Vạn Lý Trường Thành

      4. Vạn Lý Trường Thành có tuổi đời hơn 2.300 năm

      Được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên dưới thời Tần Thủy Hoàng, cho tới nay, công trình kỳ vĩ nhất Trung Quốc này đã có tuổi đời hơn 2.300 năm.

      5. Số lượng du khách có thể lên tới 30.000 người mỗi ngày

      Trước thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát, tại những khu vực phổ biến trên Vạn Lý Trường Thành có thể đón tới 30.000 du khách tới tham quan mỗi ngày và hơn 10 triệu lượt khách mỗi năm.

      Bát Đạt Lĩnh là nơi có đoạn Trường Thành được du khách tới tham quan nhiều nhất, nằm cách trung tâm đô thị của Bắc Kinh 50 dặm về phía tây bắc. Nơi này thuộc địa giới của huyện Diên Khánh, Bắc Kinh.

      6. Vạn Lý Trường Thành là một cấu trúc gián đoạn

      Điều này có thể sẽ gây bất ngờ với nhiều người nhưng theo Travel China Guide giải thích: "Vạn Lý Trường Thành là một mạng lưới phòng thủ bao gồm nhiều bức tường và pháo đài được xây dựng trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, với một số phân đoạn nằm rải rác trong khi một số khác chạy song song. Ở một số nơi, bức tường thành này có thể cao gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba lần so với các khu vực khác".

      7. Thơ cổ tiên đoán về việc xây dựng Trường Thành

      Trong “Kinh Thi”, tập thơ cổ được viết từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 7 trước Công nguyên, đã đưa ra tiên đoán về một công trình kiến trúc vĩ đại nhất trên thế giới được xây dựng ở quốc gia này. Các bài thơ trong “Kinh Thi” đề cập tới nhu cầu phòng vệ của Trung Quốc trước những kẻ xâm lược bằng cấu trúc tường vây che chắn. Đây cũng là tập thơ cổ nhất được tìm thấy ở quốc gia tỷ dân này.

      8. Vẫn còn đó dấu tích của những vết đạn pháo

      Nhìn vào lịch sử trường kỳ của Vạn Lý Trường Thành không khó để nhận ra công trình này vẫn in hằn những dấu tích của quá khứ. Phần Trường Thành qua Gubeikou nằm ở quận Miyun, cách Bắc Kinh khoảng 140 km là nơi mà du khách có thể tận mắt chứng kiến những bức tường thủng lỗ chỗ đạn pháo. Đây là nơi diễn ra những trận chiến ác liệt giữa quân đội Trung Quốc và Nhật Bản vào những năm 1930.

      9. Vạn Lý Trường Thành là công trình kiến trúc dài nhất mà con người từng xây dựng

      Vạn Lý Trường Thành là công trình kiến ​​trúc dài nhất mà con người từng xây dựng. Trên thực tế, theo Daily mail, tổng chiều dài của Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, được xây dựng trong các triều đại khác nhau là 21.196,18 km.

      10. Gạo nếp được dùng làm vữa

      Phần lớn Vạn Lý Trường Thành được tạo ra từ những vật liệu xây dựng không có gì nổi bật như đất đá. Tuy nhiên, gạo nếp được đưa vào công thức làm vữa nhờ sự kết dính ưu việt. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hợp chất amylopectin (hợp chất tạo sự kết dính) có trong gạo nếp giúp tường thành vững chắc và bền bỉ hơn.

      […]

(Theo Đỗ An (tổng hợp), vietnamnet.vn, 5-3-2022)

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì? 

Câu 3. Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Chỉ ra một ví dụ để chứng minh.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản.

Câu 5. Văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về đối tượng thông tin?

151

câu 1.

văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh).


câu 2.

đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là vạn lý trường thành – công trình kiến trúc nổi tiếng của trung quốc.


câu 3.

những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp, vì được tổng hợp từ các nguồn khác.


ví dụ:


  • “theo unesco cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất.”
  • “theo daily mail, tổng chiều dài của vạn lý trường thành là 21.196,18 km.”



→ các thông tin này được trích dẫn từ tổ chức, báo chí nên là dữ liệu thứ cấp.


câu 4.

phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là:


  • cách trình bày theo mục, đánh số từ 1 đến 10.
  • in đậm, đặt tiêu đề từng mục.



tác dụng:


  • giúp người đọc dễ theo dõi nội dung.
  • làm nổi bật từng thông tin quan trọng.
  • tạo bố cục rõ ràng, mạch lạc và khoa học.



câu 5.

văn bản giúp em hiểu rõ hơn về vạn lý trường thành – không chỉ là một công trình kiến trúc vĩ đại mà còn là biểu tượng của lịch sử, văn hóa và sức lao động của con người. qua đó, em cảm thấy khâm phục sự sáng tạo và ý chí bền bỉ của con người xưa, đồng thời ý thức hơn về việc bảo tồn các di sản văn hóa của nhân loại.


Câu 1:

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin 

Câu 2:

Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Vạn Lý Trường Thành.

Câu 3:

Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp.

Ví dụ để chứng minh:

Trong văn bản : “Theo thống kê của UNESCO, gần một phần ba công trình này đã biến mất.”

Đây là số liệu được lấy từ UNECCO nên là dữ liệu thứ cấp.

Câu 4:

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh minh họa về Vạn Lý Trường Thành

Tác dụng:

Giúp người đọc hình dung rõ hơn, trực quan hơn về công trình được nhắc đến.

Làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn, tăng sức thu hút đối với người đọc.

Tăng độ tin cậy và thuyết phục của thông tin vì có hình ảnh minh chứng.

Hỗ trợ người đọc hiểu sâu và ghi nhớ nội dung tốt hơn.

Câu 5

Văn bản gợi cho em nhiều suy nghĩ về giá trị to lớn của Vạn Lý Trường Thành đối với lịch sử và nhân loại. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc vĩ đại mà còn là minh chứng cho sức lao động bền bỉ, trí tuệ và ý chí kiên cường của con người qua hàng nghìn năm. Đồng thời, việc công trình đang dần bị hư hại khiến em nhận thức rõ hơn về trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa. Vì vậy, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức trân trọng, giữ gìn và bảo vệ những giá trị lịch sử quý báu của nhân loại.





28 tháng 1

Dưới đây là cách xây dựng trường nghĩa theo 4 dạng biểu tượng, biểu niệm, liên tưởng, tuyến tính với chủ đề Đất nước, trình bày rõ ràng để bạn dễ học và chép bài.


Trước hết là trường nghĩa biểu niệm

Đây là những từ ngữ nêu khái niệm trực tiếp về đất nước

đất nước

tổ quốc

quê hương

giang sơn

non sông

xứ sở


Tiếp theo là trường nghĩa biểu tượng

Những hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho đất nước

lá cờ

bản đồ hình chữ S

con rồng cháu tiên

tre làng

trống đồng

áo dài


Tiếp theo là trường nghĩa liên tưởng

Những từ gợi cảm xúc suy nghĩ khi nhắc đến đất nước

tự hào

thiêng liêng

bất khuất

anh hùng

yêu thương

gắn bó


Cuối cùng là trường nghĩa tuyến tính

Những từ sắp xếp theo trình tự lịch sử hoặc quá trình phát triển của đất nước

dựng nước

giữ nước

đấu tranh

giải phóng

xây dựng

phát triển