(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Đô thị cổ Hội An được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới
Đô thị cổ Hội An nối với biển Đông qua Cửa Đại, phía nam giáp huyện Duy Xuyên, phía tây giáp Điện Bàn, cách Đà Nẵng 20km về phía bắc. Từ thế kỷ XVII về trước, Hội An thông thương với Đà Nẵng qua đường sông Cổ Cò. Sau này, dòng sông bị bồi lấp. Đi ngược về phía tây, cả đường sông và đường bộ là những làng mạc trù phú tiếp nối với rừng Trường Sơn giàu lâm thổ sản.
Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời. Đứng về tuổi thọ, Hội An tồn tại trong thời gian không dài. Về quy mô của một đô thị trong thời thịnh vượng của nó cũng chưa phải là to lớn. Tuy nhiên về những phương diện khác, Hội An có vị trí, vai trò đáng chú ý và mang những đặc điểm riêng, tạo nên dáng vẻ và những giá trị lịch sử - văn hóa độc đáo. Trong khi hầu hết các đô thị cổ khác, trải qua những biến thiên của lịch sử và những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên đều bị hủy hoại, hoặc được cải tạo hoàn toàn theo kiểu hiện đại, chỉ để lại trên mặt đất vài di tích rời rạc, thì Hội An được bảo tồn khá nguyên vẹn. Có thể coi đây là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng là trường hợp hiếm thấy trên thế giới.

Ảnh: Phố cổ Hội An
Chính vì những giá trị đó, mà năm 1985, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định công nhận đây là Di tích Văn hóa cấp quốc gia và khoanh vùng bảo vệ di tích phố cổ Hội An.
[…] Trong hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An trong các ngày 22, 23-3-1990, đã có 38 tham luận (trong đó có 12 tham luận của các nhà khoa học nước ngoài) đã đề cập đến nhiều vấn đề của Hội An trong lịch sử và hiện trạng. Các báo cáo cũng gợi mở nhiều vấn đề để tranh luận, đặt ra những hướng tìm tòi mới có ý nghĩa.
Đặc biệt, trong hội thảo quốc tế này, một số báo cáo đã đặt ra vấn đề nghiên cứu sâu hơn thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa. Nơi đây còn ẩn tàng dấu vết một thương cảng cổ của vương quốc Chămpa, một “Lâm Ấp Phố” bên cửa sông lớn Thu Bồn. Và Hội An một mặt kế thừa những thành quả khai phá của Chiêm cảng xưa, mặt khác được trực tiếp chuẩn bị từ thế XV, khi người Việt đến tụ cư tại đây và tạo thành một cửa ngõ giao thương của Đàng Trong Việt Nam với thế giới bên ngoài. Hội An còn là một trung tâm giao lưu văn hóa Đông - Tây, là cái nôi hình thành chữ quốc ngữ, và trung tâm truyền bá đạo Thiên Chúa, đạo Phật ở Đàng Trong.
Vẫn còn khá nguyên vẹn những di tích bến cảng, các phố cổ, các nhà liền kế, nhà thờ tộc họ, đình chùa, đền miếu, hội quán của người Hoa, lăng mộ của người Nhật, người Hoa, và độc đáo nhất cây cầu mang tên Cầu Nhật Bản. Những loại hình kiến trúc đa dạng cùng các phong tục tập quán, lễ hội đã phản ánh một chặng đường phát triển, hội nhập và giao thoa để tạo nên một sắc thái văn hóa riêng của Hội An, kết hợp hài hòa giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh.
Ngày 4-12-1999, tổ chức UNESCO đã ra quyết định công nhận phố cổ Hội An là Di tích Văn hóa thế giới. Như vậy là trên đất Quảng Nam, có hai Di tích Văn hóa thế giới là: Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn.
(Theo danang.gov.vn)
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?
Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì?
Câu 3. Phân tích cách trình bày thông tin trong câu văn: “Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời.”.
Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ nào được sử dụng trong văn bản? Hãy nêu tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ đó trong việc biểu đạt thông tin trong văn bản.
Câu 5. Mục đích và nội dung của vản bản trên là gì?
câu 1: Di tích lịch sử là những nơi lưu giữ lại dấu tích của quá khứ nó không chỉ mang lại giá trị về vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn ,những câu chuyện hào hùng của dân tộc. Thế nhưng, hiện nay rất nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của con người và môi trường. Để khắc phục tình trạng này, trước hết chúng ta cần nâng cao ý thức của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, trong việc giữ gìn và bảo vệ di sản bằng những việc như: không xả rác, không vẽ bậy hay làm hư hại các hiện vật. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư hợp lí cho việc trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, giữ nguyên giá trị vốn có. Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường quản lí, xử lí nghiêm những hành vi vi phạm để răn đe. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và quảng bá di tích cũng là giải pháp hiệu quả, giúp di sản đến gần hơn với mọi người. Là một học sinh, em nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn các di tích lịch sử, từ những hành động nhỏ như giữ vệ sinh chung khi tham quan, tìm hiểu và giới thiệu cho bạn bè về giá trị của di sản. Vì vậy chúng ta cần chung tay bảo vệ giữ gìn, mỗi người cần có ý thức, các di tích lịch sử sẽ luôn được bảo tồn và trường tồn cùng thời gian.
câu 2:
Bài thơ “Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thanh tịnh, đồng thời gợi lên chiều sâu văn hóa ,tâm linh của vùng đất thiêng Yên Tử. Bài thơ được viết theo thể thơ 7 chữ, tái hiện con đường hành hương lên Yên Tử với những dấu ấn của thời gian và con người.
" Đường vào Yên Tử có khác xưa
vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng vàng"
ở 4 câu thơ đầu này tác giả đã miêu tả con đường đi đến Yên Tử với những dấu ấn vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Câu thơ "Đường vào Yên Tử có khác xưa" gợi lên sự thay đổi theo và từ đó khiến chúng ta tò mò hơn về vẻ đẹp hiện tại. Sau đó là câu "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" gợi lên không gian Yên Tử là một nơi thiêng liêng , nơi mà có nhiều khác đến thăm quan thể hiện được sức thu hút lâu dài của Yên Tử.Hai câu tiếp theo mở rông được khung cảnh thiên nhiên với màu xanh trập trùng của rừng núi và hình ảnh " Đàn bướm tung bay trong nắng vàng" đầy sức sống, tạo nên không gian trong trẻo , tươi tắn rộn ràng mà vẫn thanh bình.
" cây rừng phủ núi thành từng lớp
muôn vạn đài sen mây đong đưa
trông như đám khói người Dao vậy
thấp thoáng trời cao những mái chùa."
ở 4 câu cuối này , vẫn là khắc hoạ vẻ đẹp của Yên Tử nhưng có gắn với tâm linh. Hình ảnh" cây rừng phủ núi thành từng lớp" tạo nên sự bao trùm dày đặc của thiên nhiên. Ở hình ảnh "muôn vạn đài sen mây đong đưa" sử dụng yếu tố tạo sự liên tưởng độc đáo , cảm giác thơ mộng và huyền ảo. Đặc biệt , có thêm hình ảnh" trông như đám khói người Dao vậy" tác giả đã đưa đời sống nhân dân vào bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh vật thêm gần gũi và chân thực. Kết thúc bài bằng " thấp thoáng trời cao những mái chùa." làm cho bài thơ gợi lên điểm đến linh thiêng. Hình ảnh chùa ẩn hiện giữa mây không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn mang ý nghĩa giá trị sâu sắc về tâm linh trong đời sống.
Bài thơ được sử dụng ngôn ngữ tinh tế giàu tính biểu cảm tạo nên không gian thơ mộng vừa thực vừa ảo , ngoài ra kết cấu thơ chặt chẽ dẫn dắt người đọc từ cảnh vật đến cảm xúc về tâm linh . Có biện pháp tu từ được sử dụng là hình ảnh ẩn dụ miêu tả sinh độnglafm nổi bật vẻ đẹp của Yên Tử và những người tu hành đến nơi đây.
"Đường vào Yên Tử" là bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự giác ngộ Phật pháp. Nghệ thuật tinh tế cùng nội dung giàu cảm xúc đã làm nên ý nghĩa giá trị của tác phẩm. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một Yên Tử linh thiêng, nơi con người tìm về bình an và giác ngộ.
Câu 1:
Hiện nay những di tích lịch sử đang dần bị suy thoái và hỏng hóc như chùa thầy (Hà Nội) bị hư hỏng do biến cố thời gian mà không được sử lí . Trước thực trạng ấy em mạnh dạng đưa ra một số giải pháp để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.Về phía nhà nước cần đầu tư xây dựng và nâng cấp những di tích lịch sử quá xuống cấp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi phá hoại di tịch lịch sử. Nhà trường cần có những buổi ngoại khóa tuyên truyền cho học sinh về việc bảo vệ các di tích lịch sử. Cuối cùng mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ và giữ gìn di tích khi tham quan không nên xả rác hay vẽ bậy làm hư hại các hiện vật quý giá. Tóm lại việc bảo vệ các di tích lịch sử là trách nhiệm của tất cả mọi người. Nên chúng ta cùng chung tay giữ gìn để các di tích sẽ luôn tồn tại
Câu 2:
Tác giả Hoàng Quang Thuận là một tác giả đa tài sự xuất sắc ấy được thế hiện một cách rõ nét qua bài thơ "Đường vào Yên Tử ". Bài thơ được sáng tác tại Thiền Viện Trúc Lâm khi ông hành hương đến viếng Phật Hoàng Trần Nhân Tông . Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú chữ đặc sắc . Tác phẩm nói lên vẻ đẹp hùng vĩ và thiêng liêng của vùng đất thiêng Yên Tử qua đó nói lên tình yêu ,sự tôn trọng thiên nhiên của tác giả .
Hai câu thơ đầu (câu đề) mở ra khung cảnh thiên nhiên của núi Yên Tử hiện lên một cách trân thực : "Đường vào Yên Tử có khác xưa; Vệt đá mòn chân lễ hội mùa " . Trước hết, con đường "có khác xưa " thể hiện sự lâu đời của Yên Tử qua bao năm tháng vẫn vẹn nguyên. Chi tiết "vệt đá mòn chân lễ hội mùa " nhằm nói lên sự đông đúc nhộn nhịp của những du khách đến với Yên Tử. Từ đó nhằm ca ngợi sự lâu đời và thiêng liêng của chốn Yên Tử .
Ở hai câu tiếp theo (câu thực) :"trập trùng núi biếc cây xanh lá ;Đàn bướm tung bay trong nắng trưa ". Hình ảnh "trập trùng núi, cây xăng, đàn bướm tung bay trong nắng " thể hiện khung cảnh thiên nhiên hiện ra một cách trân thực, tạo nên khung cảnh tươi sáng, thơ mộng.
Kế tiếp là hai câu luận :"Cây rừng phủ núi thành từng lớp; Muôn vạn đài sen mây đong đưa ". Hình ảnh "mây đong đưa ";"cây rừng phủ núi " thể hiện khung cảnh hùng vĩ ,thiêng liêng của Yên Tử khiến chúng ta có những cảm nhận trân thực về thiên nhiên Yên Tử .
Cuối cùng là hai câu kết :"Trông như đám khói người Dao vậy; Thấp thoáng trời cao những mái chùa ". Chi tiết "Đám khói người Dao " làm không gian thêm phần thiêng liêng và mờ ảo. Những mái chùa "thấp thoáng trời cao những mái chùa " càng làm nổi bật vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử nơi gắn liền với tín ngưỡng của con người .
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Hùng vĩ với vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử. Qua đó thế hiện thông điệp hãy biết trân trọng thiên nhiên gìn giữ những di tích lịch sử mà cha ông đã để lại .
Bài thơ không chỉ làm người đọc ấn tượng với nội dung mà còn làm người đọc ấn tượng với những nghệ thuật đặc sắc. Biện pháp tu từ ẩn dụ "đám khói người Dao " ẩn dụ về phong tục đốt lá cây rừng làm rẫy của người Dao từ đó nói lên sự tinh tế và hiểu biết sâu rộng của tác giả. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi giúp bài thơ thêm phần trân thực và sâu sắc .Thể thơ thất ngôn bát cú tạo âm điệu đặc sắc với luật bằng trắc đặc trưng kết hợp với vần lưng, vần chân tạo nên âm điệu trầm bổng phù hợp với không khí thiêng liêng huyền bí của Yên Tử .
Tóm lại, Đường vào Yên Tử không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp mà còn là một hành trình sâu sắc của tác giả. Qua đó, Hoàng Quang Thuận đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự trân trọng những di tích lịch sử linh thiêng