K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?- Cháu tên là Ngoan.- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!Mặt cậu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ

 Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:

- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?

- Cháu tên là Ngoan.

- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!

Mặt cậu bé rạng lên. Cậu nói:

- Cảm ơn cây.

- Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không? – Cây hỏi.

Cậu bé rùng mình, lắc đầu:

- Đau lắm, cháu chịu thôi!

- Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn?

Câu 1) Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm truyện

Câu 2) Từ văn bản và thực tế đời sống em hãy viết đoạn văn 200 chữ để bày tỏ suy nghĩ của em về cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống

2
11 tháng 2

Câu 1


Truyện Cậu bé và cây si già là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách ứng xử và lòng trắc ẩn. Tác phẩm xây dựng tình huống đơn giản, một cậu bé khắc tên mình lên thân cây si già, hành động tưởng như vô hại nhưng lại gây đau đớn cho cây. Thông qua lời thoại giữa cây và cậu bé, ý nghĩa câu chuyện dần được bộc lộ.


Hình ảnh cây si già được nhân hóa, biết đau, biết nói, biết hỏi han nhẹ nhàng. Khi bị khắc lên thân mình, cây không trách móc gay gắt mà dùng lời lẽ ôn tồn để trò chuyện. Cách hỏi của cây vừa khéo léo vừa thấm thía, đặc biệt là câu hỏi vì sao cậu không khắc tên lên người mình. Chính câu hỏi ấy khiến cậu bé nhận ra sự vô lí trong hành động của mình.


Nhân vật cậu bé đại diện cho sự vô tư, thiếu suy nghĩ của con người khi gây tổn hại cho người khác hay cho thiên nhiên. Khi nghe cây hỏi, cậu rùng mình vì biết đau và sợ đau, từ đó hiểu ra rằng cây cũng có cảm giác như mình.


Truyện gửi gắm thông điệp hãy biết đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Đừng làm điều mình không muốn người khác làm với mình. Qua cách kể giản dị, đối thoại ngắn gọn, tác phẩm để lại bài học đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng nhân ái và sự tôn trọng.

11 tháng 2

Câu 2


Trong cuộc sống, cách ứng xử giữa người với người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ câu chuyện về cậu bé và cây si già, ta nhận ra rằng trước khi làm điều gì, mỗi người cần biết đặt mình vào vị trí của người khác. Khi ta không muốn bị tổn thương, bị xúc phạm hay bị đối xử thiếu tôn trọng thì cũng không nên làm điều đó với người khác.


Thực tế cho thấy có những lời nói vô tình có thể làm người khác buồn rất lâu, có những hành động thiếu suy nghĩ có thể gây ra tổn thương khó bù đắp. Nếu ai cũng biết suy nghĩ thấu đáo, biết lắng nghe và cảm thông, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng, chân thành và lòng nhân ái chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh.


Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách ứng xử đúng mực, biết yêu thương, chia sẻ và cư xử có trách nhiệm. Khi ta trao đi sự tử tế, ta cũng sẽ nhận lại sự tử tế, đó là quy luật giản dị nhưng bền vững của cuộc sống.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh TrìLan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1
16 giờ trước (19:09)

Trong "Chuyện tình ở Thanh Trì" tác giả đã khéo léo vẽ lên một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người trong xã hội Việt Nam trước cách mạng, với những mâu thuẫn sâu sắc và bi kịch con người bị xã hội phong kiến kìm hãm. Câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật chính không chỉ là một cuộc đấu tranh tình cảm mà còn là sựu phản ánh chân thực về những định kiến, bất công và sự phân biệt giai cấp trong xã hội đương thời. Tình yêu của họ bị ràng buộc bởi những quy tắc khắt khe của gia đình, dòng tộc và xã hội, khiến họ không thê tự do sống thật với bản thân. Hình ảnh những con người trong tác phẩm, dù đầy khát vọng và ước mơ, lại phải gánh chịu những đớn đau khi tình yêu chân thành của họ không thể vượt qua được các chuẩn mực xã hội. Qua đó, ông tái hiện một xã hội đầy bất công, nơi mỗi cá nhân đều phải đánh đổi hạnh phúc cá nhân vì trách nhiệm và những quy ước phong kiến. Câu chuyện không chỉ là một bi kịch tình yêu mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ về một xã hội mà ở đó con người không thể lựa chọn hạnh phúc cho mình.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1
16 giờ trước (19:07)

Đoạn trích "Chuyện tình ở Thanh Trì" trích "Lan trì kiến văn lục" đã nói lên sự vượt lên rào cản số phận của tình yêu đôi lứa ở xã hội xưa. Tuy vậy, em lại đặc biệt ấn tượng sâu sắc khi tìm hiểu về nhân vật chàng trai trong truyện - Nguyễn Sinh. Có thể thấy rõ trong văn bản, chàng là một người có dung mạo đẹp, tư chất vốn đã thông minh, đã thế giọng hát lại trong trẻo, ngọt ngào nhưng hoàn cảnh của chàng lại rất éo le, khốn khó. Bởi Nguyễn Sinh từ nhỏ đã mồ côi cha, phải tạm gác lại việc học, tìm một công việc tạm bợ mà sinh sống qua ngày - chèo đò. Thế nhưng, khi cô con gái nhà giàu họ Trần đem lòng cảm mến chàng, nhờ người manh mối thì cha của nàng lại phá vỡ tình cảm giữa họ. Chính sự việc này khiến chàng khổ tâm, đau lòng, dằn vặt bản thân, phẫn chí mà bỏ đi xa để lập nghiệp, tự nhủ với lòng rằng sẽ tìm đủ tiền để cưới xin được nàng. Nhưng số phận lại lần nữa trêu đùa chàng trai tội nghiệp, khi mà đã rạng danh trở về, ao ước được thấy nụ cười của người mình yêu, chàng lại hay tin rằng cô gái vì quá buồn lòng mà đã ra đi mãi mãi. Từ hành động sắm sửa lễ vật đến điếu nàng cho đến sự việc nhận lấy món quà cuối cùng mà người thương để lại, có thể thấy Nguyễn Sinh là người chung thủy, tấm lòng son sắc, không phụ bạc người mình yêu và cái chết cũng không thể chia lìa được tình cảm thiêng liêng, to lớn ấy của họ. Qua hình tượng Nguyễn Sinh, nhà văn Vũ Trinh muốn nói lên khát vọng được bày tỏ của tình cảm đôi lứa, tình cảm thuần khiết, trong trẻo, đáng quý nhất và phê phán những lối hủ tục thời phong kiến của xã hội xưa.


(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền. Bài đọc: TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG     Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.     Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền.

Bài đọc:

TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG

    Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.

    Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.

    Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối thì thiền sư nói:

    - Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!

    Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng. Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương rồi khảng khái thốt lên:

    - Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.

    Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.

    Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng tử tế đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:

    - Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.

(Lâm Thanh Huyền, Truyện cực ngắn, NXB Quân Đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.7-8)

Chú thích: Tác giả Lâm Thanh Huyền (1953 - 2019). Ông là nhà văn, nhà thơ có nhiều giải thưởng văn học. Đặc điểm trong văn của ông là sự dung hợp, lĩnh hội giữa tôn giáo và văn học. Ngôn ngữ trong sáng, giàu đẹp, kinh nghiệm sống phong phú, thấm nhuần tinh thần Phật Giáo với những triết lí nhân sinh sâu sắc.

1
16 giờ trước (19:06)

Truyện ngắn "Tặng một vầng trăng sáng" của Lâm Thanh Huyền gây ấn tượng sâu sắc bởi những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo. *Thứ nhất, tác phẩm xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà giàu chất thiền*. Tình huống thiền sư bắt gặp kẻ trộm trong am tranh của mình vốn đã éo le, nhưng cách ứng xử của ngài lại càng bất ngờ: không tức giận, không hô hoán mà chủ động đứng đợi, cởi áo tặng. Chính sự "ngược đời" ấy đã đẩy kịch tính lên cao và làm nổi bật tư tưởng của truyện. *Thứ hai, nghệ thuật xây dựng nhân vật tương phản làm nổi bật chủ đề*. Một bên là kẻ trộm lén lút, lo sợ, nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần. Một bên là thiền sư ung dung, tự tại, giàu lòng từ bi. Sự đối lập này khiến hành động "tặng áo" của thiền sư càng trở nên cao đẹp, cảm hóa được cái ác. *Thứ ba, ngôn ngữ truyện ngắn gọn, hàm súc nhưng giàu hình ảnh và chất thơ*. Hình ảnh "vầng trăng sáng" vừa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho lòng từ bi, trí tuệ, cho vẻ đẹp của tâm hồn đã giác ngộ. Lời văn nhẹ nhàng mà thấm thía, không triết lý khô khan nhưng vẫn khiến người đọc phải suy ngẫm. *Cuối cùng, kết cấu truyện mở* với hình ảnh vầng trăng đã "tặng" cho kẻ trộm đã khép lại tác phẩm nhưng mở ra sự thức tỉnh trong tâm hồn nhân vật và cả người đọc. Chính những đặc sắc nghệ thuật ấy đã làm nên sức hấp dẫn và giá trị nhân văn sâu sắc cho truyện ngắn.

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền. Bài đọc: ​THẰNG GÙ      Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền.

Bài đọc:

THẰNG GÙ

     Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng. Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài.

     Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi.”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ.” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy. Bọn trẻ cười ré khi thấy cái hình gấp khúc đó cứ như lăn về phía trước. Chao ôi, thằng Gù...

     [...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng. Đây quả là cả một sự kiện đối với cái làng đang mê mệt, thiếp lặng đi sau những trận mưa ròng rã này. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng, Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù.

     Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế...”. Nghe tiếng hô, thằng gù đỏ căng mặt mày, lên gân tì cái lưng gù xuống đất cố duỗi thẳng đôi chân. Phải trồng cây chuối nhiều lần nên trán nó ướt nhầy mồ hôi. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi.” vẫn thúc giục không ngớt.

     Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi.”. Tôi nín thở nhìn theo nó. Nó chen vào làm gì, cho tiền những người hát rong chăng? Tiếng ghi ta điện vẫn bập bùng, rấm rứt. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét:

     - Thế mà cười được à? Đồ độc ác!

     Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần. Tất cả bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng cúi gằm mặt xuống. Tiếng sấm ì ùng từ dãy núi dội đến. Hình như trời lại sắp mưa.

(Theo Hạ Huyền, Con gái người lính đảo, NXB Giáo dục, 2003)

1
16 giờ trước (19:00)

Trong truyện ngắn Thằng Gù của Hạ Huyền, nhân vật Đức hiện lên là một cậu bé bất hạnh nhưng giàu nghị lực và khát khao được học tập. Đức bị tật nguyền, lưng gù nên thường bị mọi người gọi bằng cái tên đầy mặc cảm là “thằng Gù”. Dù đã hơn mười tuổi, em vẫn chưa được đến trường như bao bạn bè cùng trang lứa. Hình ảnh Đức chăn trâu ngoài đồng, lặng lẽ hướng mắt về phía trường học giữa tiếng đọc bài vang lên đã gợi lên niềm khao khát tri thức tha thiết và nỗi buồn tủi của một đứa trẻ thiệt thòi. Ngoại hình “gấp khúc”, chiếc lưng gù khiến Đức trở nên nhỏ bé, cô đơn nhưng bên trong em vẫn là một tâm hồn trong sáng, ham học và giàu ước mơ. Qua nhân vật Đức, tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với những số phận bất hạnh trong cuộc sống, đồng thời nhắc nhở mọi người cần biết yêu thương, tôn trọng và sẻ chia với những người khuyết tật. Truyện còn gửi gắm thông điệp ý nghĩa về quyền được học tập và được đối xử công bằng của mỗi con người.


(2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích sau. Bài đọc: ​       Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. ​       Rằng: “Sao trong tiết thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” ​       Vương Quan mới dẫn gần xa: “Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1). ​       Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa,...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích sau.

Bài đọc:

​       Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
​       Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
​       Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
​       Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
​       Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
​       Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
​       Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.
​       Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
​       Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
​       Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
​       Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.
​       Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
​       Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):
​       "Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."

                       (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Chú thích:

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân - một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

1
16 giờ trước (19:00)

Trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhân vật Đạm Tiên hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho số phận bạc mệnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Qua lời kể của Vương Quan, Đạm Tiên từng là một ca nhi nổi tiếng, “nổi danh tài sắc một thì”, được nhiều người ngưỡng mộ và say mê. Tuy nhiên, dù có tài năng và nhan sắc, nàng vẫn không thoát khỏi quy luật nghiệt ngã “hồng nhan bạc mệnh”. Câu thơ “Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương” gợi sự ra đi đột ngột, đầy đau xót của một kiếp người tài hoa nhưng ngắn ngủi. Sau khi mất, Đạm Tiên bị lãng quên trong cô đơn, chỉ còn nấm mồ hoang lạnh giữa tiết thanh minh. Hình ảnh ấy khiến Thúy Kiều xúc động, thương cảm sâu sắc cho số phận của nàng. Bằng bút pháp ước lệ, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và giọng điệu xót thương, Nguyễn Du đã thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đối với những con người tài sắc nhưng bất hạnh. Đồng thời, nhân vật Đạm Tiên còn góp phần dự báo trước số phận truân chuyên của Thúy Kiều sau này

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng bà má Hậu Giang trong văn bản trên. Bài đọc:      ​Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô      Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...   Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?   Má già run, trán toát mồ hôi      ​Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi! Gót giày đâu đã...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng bà má Hậu Giang trong văn bản trên.

Bài đọc:

     ​Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
     Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
  Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
  Má già run, trán toát mồ hôi
     ​Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
  Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
  Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
     ​Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

  Hắn rướn cổ, giương mi, trợn mắt
  Như hổ mang chợt bắt được mồi
     ​Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
  Hắn rống hét: “Con bò cái chết!
  Một mình mày ăn hết này sao?
     ​Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
     ​Khai mau, tao chém mất đầu!”
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
  Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
  Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
     ​Má già nhắm mắt, rưng rưng
“Các con ơi, ở trong rừng U Minh
  Má có chết, một mình má chết
  Cho các con trừ hết quân Tây!”
     ​Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: “Mẹ mày, nói không?”
     ​Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
“Các con ơi! Má quyết không khai nào!”
     ​Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
  Má hét lớn: “Tụi bay đồ chó!
  Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
     ​Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
     ​Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
     ​Thân tao chết, dạ chẳng sờn!”
Thương ôi! Lời má lưỡi gươm cắt rồi!

     ​Một dòng máu đỏ lên trời
Má ơi, con đã nghe lời má kêu!
     ​Nước non muôn quỷ ngàn yêu
Còn in bóng má sớm chiều Hậu Giang.

(Bà má Hậu Giang, Tố Hữu)

3

Trong bài thơ "Bà má Hậu Giang", Tố Hữu đã xây dựng thành công hình tượng người mẹ miền Nam anh hùng, bất khuất, tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của dân tộc. Giữa không gian tăm tối của cuộc càn quét, hình ảnh má già hiện lên đơn độc nhưng lại mang sức mạnh phi thường. Đối mặt với tên giặc "mắt xanh mũi lõ" hung hãn đang kề gươm vào cổ, dù ban đầu có những run rẩy bản năng của một cơ thể già yếu "lẩy bẩy như tàu chuối khô", nhưng vượt lên trên nỗi sợ cái chết là lòng yêu nước nồng nàn và ý chí bảo vệ cách mạng. Lời khẳng định "Má quyết không khai nào!" và tiếng chửi thẳng mặt kẻ thù "Tụi bay đồ chó!" thể hiện thái độ hiên ngang, lẫm liệt. Má không chỉ bảo vệ "đàn con" du kích mà còn khẳng định niềm tự hào về một thế hệ anh hùng "như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm". Sự hy sinh của má với "dòng máu đỏ lên trời" không phải là dấu chấm hết, mà là sự hóa thân vào hồn thiêng sông núi, để lại bóng hình bất tử bên dòng Hậu Giang. Qua nghệ thuật tương phản và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, Tố Hữu đã tạc nên một tượng đài về người mẹ Việt Nam: bình dị trong đời thường nhưng vĩ đại trong bão táp chiến tranh.

23 tháng 4

Hình tượng bà má Hậu Giang trong đoạn thơ hiện lên là một người mẹ nông dân Nam Bộ nghèo khó nhưng giàu tình thương và mang nỗi đau sâu sắc trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Trước hết, má hiện lên với cuộc sống đơn sơ, lam lũ: một mình trong túp lều tranh, lặng lẽ nấu nồi cơm to bên bếp lửa, gợi sự tần tảo, chịu thương chịu khó. Niềm vui giản dị của má khi “cơm vừa chín tới” nhanh chóng bị thay thế bởi nỗi sợ hãi tột cùng khi giặc ập đến. Những chi tiết như “má già run”, “trán toát mồ hôi”, “chạy đâu?” đã khắc họa rõ sự hoảng loạn, bất lực của một người mẹ già yếu trước bạo lực. Đặc biệt, bi kịch được đẩy lên cao khi tên giặc tra hỏi, đe dọa, khiến má ngã xuống bên bếp lửa. Qua đó, hình ảnh bà má không chỉ gợi thương mà còn tố cáo tội ác tàn bạo của kẻ thù. Đồng thời, bà má còn là biểu tượng cho biết bao người mẹ miền Nam trong kháng chiến: nghèo khó, hiền lành nhưng phải gánh chịu mất mát, đau thương. Nghệ thuật miêu tả chân thực, ngôn ngữ giàu cảm xúc đã góp phần làm nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của hình tượng này.


(2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bài thơ Biết ơn cha mẹ của Hoàng Mai. Bài đọc:                   BIẾT ƠN CHA MẸ      Ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt     Chạnh lòng con sướt mướt canh thâu          Mẹ cha giờ khuất nơi đâu Dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn      Đêm trở gió bàng hoàng tỉnh giấc      Nhớ công ớn chất ngất lòng đau          Mẹ...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bài thơ Biết ơn cha mẹ của Hoàng Mai.

Bài đọc:

                  BIẾT ƠN CHA MẸ

     Ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt
    Chạnh lòng con sướt mướt canh thâu
         Mẹ cha giờ khuất nơi đâu
Dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn
     Đêm trở gió bàng hoàng tỉnh giấc
     Nhớ công ớn chất ngất lòng đau
         Mẹ cha khuất bóng đã lâu
Con chưa đền đáp ơn sâu cửu trùng

     Nhớ cái thuở bần cùng cạn kiệt
     Cha đảm đương mải miết vườn rau
         Cơm canh khoai sắn bên nhau
Chắt chiu ngày tháng mong cầu vươn lên

     Thời gian vững lòng bền cha bước
     Lên tỉnh thành sau trước lo toan
         Đàn con sâm sấp hiền ngoan
Mẹ thay cha dạy bảo ban con khờ

     Rồi đến lúc con thơ đã lớn
     Bỏ mẹ cha về chốn phồn hoa
         Đứa an phận đứa bôn ba
Xót xa con trẻ lệ nhòa đêm thâu

     Khi con đã bắt đầu ổn định
     Thì mẹ cha thân tịnh bất an
         Mẹ đi về chốn mây ngàn
Cha thương nhớ mẹ võ vàng theo sau

     Con chưa kịp ơn sâu đền đáp
     Chỉ mong sao Phật Pháp nhiệm màu
         Mẹ cha thoát kiếp khổ đau...
Luân hồi sanh tử nguyện cầu vãng sanh.

(Hoàng Mai)

5

Bài thơ "Biết ơn cha mẹ" của Hoàng Mai là một tác phẩm văn học giàu cảm xúc, tập trung khai thác chủ đề sâu sắc về tình cảm gia đình và sự hi sinh vô điều kiện của bậc sinh thành. Mặc dù không có văn bản cụ thể của bài thơ, nhan đề đã gợi mở rõ ràng về thông điệp nhân văn mà tác giả muốn truyền tải: lòng hiếu thảo và sự trân trọng công ơn dưỡng dục. Đoạn văn phân tích khoảng 200 chữ (tương đương khoảng 20-25 dòng giấy thi) có thể đi sâu vào việc làm rõ các luận điểm chính. Thứ nhất, bài thơ nhiều khả năng sử dụng những hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống để nói về công lao trời biển, sự vất vả, lo toan không ngừng nghỉ của cha mẹ, ví như hình ảnh "những đêm thức trắng", "những giọt mồ hôi", hay "những nếp nhăn in hằn dấu thời gian". Thứ hai, từ những hình ảnh cảm động đó, tác giả bộc lộ trực tiếp hoặc gián tiếp lòng biết ơn sâu sắc, sự kính trọng vô biên đối với đấng sinh thành. Cuối cùng, tác phẩm đọng lại trong lòng người đọc một thông điệp mạnh mẽ, hướng mỗi người đến việc thể hiện lòng biết ơn đó bằng những hành động, cử chỉ thiết thực trong cuộc sống hàng ngày: sự vâng lời, thái độ chăm ngoan học tập, phụ giúp việc nhà, và đặc biệt là dành thời gian, tình yêu thương chân thành cho cha mẹ khi còn có thể.

Bài thơ "Biết ơn cha mẹ" của Hoàng Mai là một bản nhạc buồn da diết về lòng hiếu thảo và nỗi ân hận muộn màng của người con. Tác giả đã khéo léo sử dụng những hình ảnh đối lập để khơi gợi cảm xúc: một bên là sự hy sinh tận tụy của cha mẹ trong quá khứ "bần cùng cạn kiệt", "mải miết vườn rau" với cơm canh khoai sắn; một bên là sự hờ hững của đàn con khi trưởng thành mải mê nơi "phồn hoa", "bôn ba" xứ người. Những từ láy như “lướt thướt”, “sướt mướt”, “bàng hoàng” không chỉ tả cảnh mà còn tả tình, khắc họa nỗi đau thắt lòng khi nhận ra cha mẹ đã khuất bóng. Hình ảnh cha mẹ cả đời "chắt chiu", "lo toan" cho đàn con hiền ngoan đã chạm đến trái tim người đọc, làm nổi bật lên công ơn "sâu cửu trùng". Bài thơ khép lại bằng lời nguyện cầu thành kính và nỗi xót xa vì "con chưa kịp ơn sâu đền đáp". Qua đó, Hoàng Mai gửi gắm thông điệp thức tỉnh đầy nhân văn: đừng để sự ổn định của bản thân đánh đổi bằng sự ra đi của cha mẹ; hãy yêu thương và báo hiếu khi đấng sinh thành còn ở bên ta.

11 tháng 2

ĐÊM MƯA Ở NGÕ NHỎ


Cơn mưa đêm trút xuống con ngõ nhỏ khiến mọi thứ trở nên nhòe nhoẹt dưới ánh đèn vàng. Đúng lúc ấy, tiếng hét vang lên từ căn nhà số 17. Ông Lâm, một nhà sưu tầm cổ vật nổi tiếng, được phát hiện nằm bất động trong phòng làm việc. Chiếc tủ kính bị mở toang, bức tượng ngọc quý giá nhất đã biến mất.


Thanh tra Minh có mặt ngay sau đó. Anh quan sát căn phòng không có dấu hiệu bị cạy cửa. Cửa sổ đóng kín, chỉ có một vệt bùn nhỏ in trên sàn gỗ. Người đầu tiên bị nghi ngờ là Tuấn, người cháu họ sống cùng nhà. Tuấn khai rằng cả tối anh ở trong phòng xem bóng đá, không hề nghe tiếng động lạ.


Minh không vội kết luận. Anh chú ý đến đôi giày của Tuấn đặt ngoài hiên, đế giày dính bùn giống hệt vệt trong phòng. Tuy nhiên, cơn mưa lớn có thể khiến bất cứ ai cũng dính bùn. Điều khiến Minh băn khoăn là chiếc đồng hồ cổ trên tường. Kim đồng hồ dừng lại ở 9 giờ 15 phút do hết pin, nhưng tách trà trên bàn vẫn còn ấm khi cảnh sát tới lúc 10 giờ.


Minh kiểm tra camera an ninh trước ngõ. Hình ảnh cho thấy vào khoảng 9 giờ 40 phút, một người mặc áo mưa đen rời khỏi nhà bằng cửa sau. Người đó có dáng đi khập khiễng. Minh nhớ lại, ông Lâm từng bị đau chân, còn Tuấn thì đi lại bình thường.


Anh quay lại căn nhà và kiểm tra phòng ông Lâm lần nữa. Sau giá sách, Minh phát hiện một cánh cửa nhỏ thông xuống tầng hầm. Dưới đó, ông Lâm đang ngồi co ro, chân bị trật khớp. Hóa ra ông tự dựng hiện trường giả để thử lòng người cháu, vì gần đây ông nghi Tuấn có ý định bán trộm cổ vật.


Người mặc áo mưa rời khỏi nhà không phải Tuấn mà là bà Hoa, người giúp việc, bà hoảng sợ khi thấy ông Lâm ngã nên bỏ đi vì sợ bị liên lụy. Bức tượng ngọc được tìm thấy trong két sắt tầng hầm.


Khi mọi việc sáng tỏ, Tuấn lặng người vì xấu hổ. Ông Lâm nhìn cháu trai, giọng trầm xuống. Ông nói ông muốn tin tưởng cháu hơn là thử thách cháu. Cơn mưa ngoài trời vẫn rơi, nhưng trong căn nhà nhỏ, một bí mật đã được giải đáp, và một bài học về lòng tin vừa được phơi bày.

11 tháng 2

Tây Tiến của Quang Dũng là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện sâu sắc vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính, đồng thời khắc họa bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật chủ đề ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu và vẻ đẹp lãng mạn của thế hệ thanh niên thời kháng chiến.


Trước hết, bài thơ khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ. Những chặng đường hành quân hiện lên với “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, “heo hút cồn mây súng ngửi trời”, gợi sự hiểm trở, cheo leo của núi rừng Tây Bắc. Thiên nhiên không chỉ hùng vĩ mà còn khắc nghiệt, thử thách ý chí con người. Trong hoàn cảnh ấy, người lính hiện lên với những hi sinh thầm lặng: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cách nói giảm, nói tránh khiến cái chết trở nên nhẹ nhàng, thanh thản, làm nổi bật tinh thần coi thường gian khổ, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.


Bên cạnh vẻ đẹp bi tráng, người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Họ phần lớn là những thanh niên trí thức Hà Nội, nên giữa gian khổ vẫn giữ tâm hồn mơ mộng: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Hình ảnh ấy cho thấy nỗi nhớ quê hương và tình yêu cuộc sống vẫn cháy bỏng trong lòng họ. Đặc biệt, chân dung người lính “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” vừa hiện thực vừa mang vẻ đẹp kiêu hùng. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã khẳng định lí tưởng cao đẹp và tinh thần xả thân vì đất nước của thế hệ trẻ.


Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, nhiều từ ngữ tạo hình mạnh mẽ, táo bạo. Thể thơ bảy chữ với nhịp điệu linh hoạt, khi dồn dập, khi lắng đọng, góp phần thể hiện rõ cung bậc cảm xúc. Bút pháp tương phản giữa dữ dội và thơ mộng, giữa bi thương và hào hùng tạo nên sắc thái bi tráng đặc sắc. Ngôn ngữ giàu tính nhạc, nhiều từ Hán Việt trang trọng như “biên cương”, “viễn xứ”, “áo bào” góp phần nâng tầm hình tượng người lính.


Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, Tây Tiến tạo nên hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc. Người đọc không chỉ cảm nhận được nỗi gian khổ, hi sinh mà còn xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn và lí tưởng cao cả của người lính. Bài thơ vì thế trở thành khúc tráng ca về một thời kháng chiến oanh liệt, để lại ấn tượng bền vững trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.