K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén (Thạch Lam) sau:     Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén (Thạch Lam) sau:

    Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi, và những cái uốn cong của đòn gánh bây giờ nhịp với chân cô bước mau. Cô thấy chắc dạ và ấm cúng trong lòng, bỏ hẳn nỗi lo sợ từ nãy vẫn quanh quẩn trong trí khi cô qua quãng đồng rộng, trơ gốc rạ dưới gió bấc vi vút từng cơn.

     Qua cái cổng gạch cũ, cô vào hẳn trong làng. Ngõ tối hơn, đất mấp mô vì trâu bước, nhưng cô thuộc đường lối lắm. Chân cô dẫm lên lá tre khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt. Ði ngang các nhà quen, cô thấy ánh sáng đèn chiếu qua rào, và tiếng những người quen thuộc ở trong đưa ra.

    Cô Tâm lại nghĩ đến mình, mẹ già đang mong đợi và các em đang nóng ruột vì quà. Gói kẹo bỏng cô đã gói cẩn thận để ở dưới thúng, mỗi đứa sẽ được hai cái. Chắc hẳn chúng sẽ vui mừng lắm.

    [...] Tâm đã bước xa rồi, hàng tre vi vút thêm, trời lại lấm tấm mưa lạnh rơi xuống mặt. Cô đi qua nhà bà cụ Nhiêu rồi về đến ngõ. Cánh cửa gỗ chưa đóng. Cô xoay đầu đòn gánh đẩy cửa rồi bước vào. Tất cả cái tối tăm rét mướt, và cánh đồng hoang vắng cô để lại ở ngoài. Ðây là nhà rồi. Mùi phân trâu nồng ấm sặc ngay vào cổ; thoáng qua, cô nghe tiếng chân trâu đập trong chuồng. Con vá thấy động sủa lên, rồi chạy lại vấp vào chân quấn quít. Trong nhà mấy đứa em reo:

    – A, á. Chị Tâm đã về.

    Tâm mỉm cười xoa đầu em. Cô sung sướng vì thấy mẹ săn sóc, các em mến yêu. Bao nhiêu nỗi mệt nhọc cô thấy tiêu tán cả. Những lúc này khiến cô quên hết cả bao nhiêu nỗi e ngại khó khăn. Cô thấy vui vẻ và nẩy nở trong thâm tâm những ý muốn tốt đẹp cho gia đình. Bà Tú lại âu yếm giục:

     – Con ăn cơm đi, không đói. Thôi, hãy để đấy rồi bảo con sen nó cất cho có được không.

    Tâm đáp: "vâng"; nhưng cô vẫn chưa lại ngồi ăn ngay. Cô còn thu xếp hàng đã; hai cái hộp gỗ vuông đựng các thức hàng, và những gói buộc kỹ trong thúng. Tất cả vốn liếng quý báu, bởi nhờ nó, cô kiếm lời nuôi các em, giúp đỡ cha mẹ từ ngày trong nhà sút đi và ông Tú ở trên tỉnh dọn về đã ba bốn năm nay rồi. Ruộng nương chỉ còn hơn mẫu, cấy đủ thóc ăn, và căn nhà gạch cũ này là nhà thờ, chung cả họ. Ông Tú độ mắt kém cũng thôi không dạy học nữa.

    Bữa cơm ngon lành quá, Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và thương mến của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp ba ở trường làng. Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách, để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ. Buôn bán bây giờ mỗi ngày một chật vật, bởi cô vốn ít. Tất cả gánh hàng của Tâm chỉ đáng giá hai chục bạc.

    Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm.

    [...]

(Thạch Lam, Cô hàng xén, NXB Văn học, 2014, tr.171 – 187)

14

Nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén của Thạch Lam để lại ấn tượng sâu sắc bởi vẻ đẹp bình dị, giàu đức hi sinh của người phụ nữ nông thôn. Tâm hiện lên trong cảnh trở về làng quen thuộc, giữa những hình ảnh thân thương như hàng tre, mùi rạ ướt, ánh đèn nhà dân, tạo cảm giác ấm áp và bình yên. Tuy cuộc sống còn nhiều vất vả, gánh hàng nặng trĩu và buôn bán chẳng lời lãi bao nhiêu, nhưng cô luôn âm thầm chịu đựng để lo cho mẹ già và các em nhỏ. Ở Tâm toát lên tấm lòng yêu thương gia đình sâu nặng, sự đảm đang và tinh thần trách nhiệm đáng trân trọng. Niềm vui của cô rất giản dị: là được về nhà, thấy mẹ khỏe, em ngoan và cả nhà quây quần bên mâm cơm nghèo mà ấm áp. Qua nhân vật cô Tâm, Thạch Lam không tạo nên những bi kịch dữ dội mà nhẹ nhàng khắc họa vẻ đẹp thầm lặng của con người lao động nghèo, từ đó thể hiện sự cảm thông, trân trọng đối với những số phận nhỏ bé nhưng giàu tình yêu thương trong xã hội xưa.


23 tháng 1

Trong đoạn trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam đã khắc họa nhân vật Tâm với vẻ đẹp giản dị, giàu tình thương và đức hi sinh. Tâm từng được đi học, có ước mơ và tương lai, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cô sớm rời bỏ sách vở để gánh vác trách nhiệm gia đình. Hằng ngày, Tâm gánh hàng ra chợ trong giá lạnh, mưa rét, buôn bán vất vả để kiếm sống, nuôi mẹ già và các em nhỏ. Dù cuộc sống thiếu thốn, cô vẫn luôn nghĩ cho người khác, từ việc dành quà cho em đến sự quan tâm, lo lắng cho mẹ. Hình ảnh Tâm thu xếp hàng hóa, nhẫn nại chịu đựng mệt nhọc cho thấy phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Khi trở về nhà, được mẹ và các em yêu thương, Tâm cảm thấy hạnh phúc, quên đi mọi vất vả. Qua nhân vật Tâm, Thạch Lam bày tỏ niềm trân trọng đối với những con người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đồng thời gợi lên sự cảm thông sâu sắc với số phận của họ trong xã hội cũ.

Đề thi đánh giá năng lực

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng dòng sông Hương trong đoạn văn sau. [...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng dòng sông Hương trong đoạn văn sau.

[...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại. Thế kỉ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hoá của nó. “Các trung tâm lớn của chúng ta về lịch sử, văn hoá, học thuật và về chính quyền rất nhiều. Phải hiểu rằng Huế là một thành phố kết hợp tất cả những cái đó, giống như các thành phố Luân Đôn, Pa-ri và Béc-lin... Một số trong các di sản đó đã bị phá huỷ lúc Thành Nội Huế bị ném bom. Không thể so sánh sự mất mát này với sự mất mát của một viện bảo tàng hay một thư viện ở Mỹ. Sự phá huỷ những di sản này cũng có tính chất giống như sự mất mát xảy ra đối với nền văn minh châu Âu khi một số công trình của nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại bị đổ nát vì các nhà thờ bị phá hoại”. Đó là sự đánh giá đầy phẫn nộ của chính người Mỹ, Ra-pha-en Li-tao-ơ, Noóc-man U-phốp và nhóm giáo sư Đại học Coóc-nen, trong một tác phẩm khoa học đầy mùi thuốc nổ và hoá chất độc mang tên Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương.

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, NXB Thuận Hóa, Huế, 2002)

9
23 tháng 1

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa sông Hương không chỉ là một dòng sông thiên nhiên mà còn là chứng nhân lịch sử gắn bó sâu sắc với vận mệnh dân tộc. Từ thời các vua Hùng, sông Hương đã mang trong mình sứ mệnh bảo vệ biên cương đất nước, trở thành dòng sông biên thùy thiêng liêng. Qua các thời kì trung đại, cận đại và hiện đại, con sông vẫn lặng lẽ đồng hành cùng Huế, soi bóng kinh thành, chứng kiến những cuộc khởi nghĩa, những biến động dữ dội của lịch sử. Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, sông Hương gắn liền với những mất mát, đau thương khi nhiều di sản văn hóa bị tàn phá, để lại nỗi xót xa sâu sắc. Bằng lối viết giàu tri thức, kết hợp giữa cảm xúc trữ tình và suy ngẫm lịch sử, tác giả đã biến sông Hương thành biểu tượng của truyền thống, của lòng yêu nước và tinh thần kiên cường. Qua đó, hình tượng sông Hương hiện lên như linh hồn của xứ Huế, mang vẻ đẹp bền bỉ, trầm lắng và đầy tự hào dân tộc.

26 tháng 1

Trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hình tượng sông Hương hiện lên không chỉ như một dòng sông thiên nhiên mà còn là nhân chứng lịch sử gắn liền với vận mệnh dân tộc. Sông Hương đã sống cùng những thế kỉ vinh quang của đất nước, từ buổi đầu là dòng sông biên thuỳ xa xôi thời các vua Hùng, đến khi mang tên Linh Giang trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, giữ vai trò bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ Quốc. Dòng sông ấy còn soi bóng kinh thành Phú Xuân, chứng kiến hào khí của thời đại Nguyễn Huệ và những trang lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với các cuộc khởi nghĩa đẫm máu. Không dừng lại ở đó, sông Hương tiếp tục bước vào thời đại Cách mạng tháng Tám và nỗi đau mất mát trong mùa xuân Mậu Thân. Qua cái nhìn sâu sắc ,giàu tri thức và cảm xúc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương trở thành biểu tượng cho chiều sâu lịch sử, văn hoá và tinh thần bất khuất của Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:     Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:

    Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.

(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân toàn tập, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

12
23 tháng 1

Con sông Đà trong đoạn trích hiện lên vừa hung bạo vừa nên thơ, mang vẻ đẹp vừa dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc vừa trữ tình, vừa giàu chất sử thi. Nguyễn Tuân miêu tả những khúc sông thác đá bằng loạt hình ảnh mạnh mẽ: “bọt nước lềnh đênh”, “hòn đá thác xa xôi”, “đòi dập lên mặt sông” — tất cả tạo nên một không gian âm thanh, chuyển động mãnh liệt. Đồng thời, những chi tiết như “cỏ gianh đồi núi”, “mấy lá ngô non” và tiếng cá đập nước lại đem đến chiều sâu thơ mộng, chất hoang dại mà dịu dàng. Nghệ thuật hiện ra qua biện pháp nhân hóa, so sánh và liệt kê khiến con sông như một nhân vật sống động, có tâm trạng, có tính cách: lúc dữ như kẻ thù, lúc hiền như cổ tích. Giọng văn Nguyễn Tuân pha trộn giữa ngợi ca và trầm ngâm, nhịp câu linh hoạt, giàu nhạc điệu, giúp người đọc vừa sửng sốt trước vẻ hùng vĩ, vừa xao xuyến trước nét duyên của sông. Qua đó, sông Đà không chỉ là cảnh vật mà còn phản chiếu tâm hồn, thẩm mỹ và niềm say mê nghệ thuật của nhà văn, đồng thời khắc họa mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên hùng vĩ.

26 tháng 1

Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời say mê đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, và sông Đà trong Người lái đò sông Đà chính là một phát hiện rất riêng của ông. Ở đoạn trích này, con sông không hiện lên dữ dội mà mang vẻ đẹp trữ tình, êm đềm và đầy chất thơ. Con thuyền trôi chậm giữa khoảng sông " lặng tờ", gợi cảm giác thời gian như ngưng lại từ " đời Trần đời Lê ". Cảnh ven sông hoang sơ,tinh khiết với nương ngô non, cỏ xanh, sương đêm và đàn hươu hiền lành khiến bờ sông mang dáng dấp của một thế giới cổ xưa, vừa " tiền sử" vừa như cổ tích. Giữa không gian tĩnh lặng ấy, một tiếng còi tàu được mong chờ càng làm nổi bật nỗi khát khao giao hoà giữa con người và cuộc sống. Những chuyển động nhẹ như đàn cá quẫy nước ngọt, bọt nước lăn tăn khiến dòng sông thêm sống động mà vẫn dịu dàng. Sông Đà lúc này giống như một" người tình nhân chưa quen biết",kín đáo, sâu lắng,gợi nhiều thương nhớ. Trong nhịp trôi chậm rãi của con thuyền, người đọc như cảm nhận được nhịp thở êm đềm của núi rừng Tây Bắc và cả tình yêu thầm lặng mà Nguyễn Tuân dành cho dòng sông mình say mê. Sông Đà vì thế đi vào trang văn không ồn ào, không phô bày, mà ở lại rất lâu trong lòng người đọc bằng vẻ đẹp dịu dàng và sâu lắng.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:      Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,      Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,          Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.      Buổi chiến trận mạng người như rác,      Phận đã đành đạn lạc tên rơi,          Lập lòe...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:

     Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

     Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,

         Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

     Buổi chiến trận mạng người như rác,

     Phận đã đành đạn lạc tên rơi,

         Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

     Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,

     Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

         Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

     Sống đã chịu một đời phiền não,

     Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

         Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

     Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

     Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

     Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

                                  (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1))

Chú thích: 

Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812).

82
23 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh đã thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo và tinh thần nhân văn cao cả của Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh trong xã hội. Qua những câu thơ giàu sức gợi, tác giả khắc họa hình ảnh những con người nghèo khổ, bị cuốn vào chiến tranh, loạn lạc, mất mát cả mạng sống lẫn tương lai. Họ là những người lính chết nơi chiến địa, những kẻ tha hương, những phụ nữ chịu nhiều đau khổ, những con người sống trong cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa. Bằng sự cảm thông sâu sắc, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc xót thương cho những kiếp người bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biện pháp so sánh, ẩn dụ, liệt kê kết hợp với giọng điệu ai oán, thống thiết, tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Nhịp thơ chậm, buồn, góp phần thể hiện không khí tang thương, đau xót. Qua đó, tác phẩm không chỉ là lời cầu siêu cho các linh hồn mà còn là bản cáo trạng đối với xã hội phong kiến bất công, đồng thời khẳng định giá trị nhân đạo bền vững trong sáng tác của Nguyễn Du.

26 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một trong những phần thể hiện rõ nhất tấm lòng nhân đạo mà sâu sắc của nhà thơ. Qua việc nhắc đến nhiều hạng người khác nhau như kẻ bị bắt đi lính, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất lang thang đầu đường xó chợ, Nguyễn Du đã khắc họa một bức tranh đầy ám ảnh về những kiếp người sống trong đau khổ, chết trong cô đơn và tủi phận. Dù số phận mỗi người khác nhau, họ đều chung cảnh đời lầm than, bị chiến tranh áp bức, đói nghèo và xã hội tàn nhẫn xô đẩy đến bước đường cùng. Nỗi thương cảm của Nguyễn Du không dừng ở sự xót xa mà còn là nỗi trăn trở âm thầm , dai dẳng về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ với " phận đàn bà" đầy cay đắng. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi lối liệt kê liên tiếp, hình ảnh chân thực, giàu sức gợi, ngôn ngữ Nôm gần với đời sống. Giọng điệu văn tế chậm buồn, ai oán khiến nỗi đau của các linh hồn như thấm sâu vào lòng người đọc. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ viết cho người đã khuất mà còn lay động mạnh mẽ lương tri của người đang sống.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau: - Về thôi nàng ơi Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió Cô đơn giữa mây trời? - Thế để đâu những lời Ta đã hẹn với người ta thương nhớ? - Người ấy chẳng bao giờ về nữa Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao Đất nước qua trăm trận binh đao Lở bồi,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau:

- Về thôi nàng ơi
Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa
Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió
Cô đơn giữa mây trời?

- Thế để đâu những lời
Ta đã hẹn với người ta thương nhớ?

- Người ấy chẳng bao giờ về nữa
Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao
Đất nước qua trăm trận binh đao
Lở bồi, dâu bể...

- Người đời biết thân ta hoá đá
Nhưng hay đâu ta hoá đá niềm tin
Hoá đá nỗi cô đơn
Và thời gian chờ đợi!

- Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi
Ngày người ấy trở về
Chẳng ai hiểu bằng ta điều đó
Chẳng ai hiểu bằng ta nỗi khổ
Của người vợ chờ chồng...

Ta hoá đá đợi triệu lần nỗi đợi
Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong.

(Trò chuyện với nàng Vọng Phu, Vương Trọng, Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, tr.257 - 258)

86
23 tháng 1

Trong đoạn thơ, hình tượng nàng Vọng Phu hiện lên như biểu tượng cảm động cho lòng chung thủy và đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam. Nàng đứng chờ chồng giữa mưa gió, mây trời, trong cô đơn và khắc khoải, mang theo nỗi nhớ thương khôn nguôi. Thời gian trôi qua, chiến tranh, loạn lạc khiến người ra đi không bao giờ trở lại, nhưng nàng vẫn một lòng son sắt, không từ bỏ niềm tin. Sự chờ đợi bền bỉ ấy dần hóa thành bi kịch khi nàng “hóa đá”, không chỉ là hóa thân về thể xác mà còn là sự hóa thân của nỗi đau, của niềm tin và khát vọng đoàn tụ. Qua đó, tác giả khắc họa nỗi cô đơn, tủi cực và thiệt thòi của người vợ có chồng ra trận. Đồng thời, hình tượng nàng Vọng Phu còn phản ánh những mất mát to lớn do chiến tranh gây ra, để lại bao cảnh chia lìa, dang dở. Bằng giọng thơ da diết, xúc động, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và trân trọng đối với số phận, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ và hôm nay.

26 tháng 1

Hình tượng nàng Vọng Phu trong bài thơ Vọng Phu của Chế Lan Viên hiện lên đầy ám ảnh,mang vẻ đẹp bi thương mà cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong nỗi chờ đợi chiến miên. Nàng đứng " trong mưa trong gió" , cô độc giữa không gian mênh mông của trời đất, gợi lên dáng hình nhỏ bé nhưng bền bỉ trước sự khắc nghiệt của thời gian và lịch sử. Bi kịch của nàng không chỉ là người chồng " chẳng bao giờ về nữa" ,mà còn là sự tan vỡ của lời hẹn ước trước những " binh đao, dâu bể ". Đặc biệt hình ảnh nàng " hoá đá " không đơn thuần là sự hóa thân thể xác, mà là sự hóa thân của niềm tin, của nỗi cô đơn và của năm tháng chờ mong vô tận. Nàng chấp nhận hoá đá để giữ trọn lòng thuỷ chung, để gánh chịu nỗi đau thay cho bao người vợ trong suốt chiều dài lịch sử. Qua đó, Chế Lan Viên đã nâng nàng Vọng Phu từ một số phận cá nhân thành biểu tượng sâu nhân văn sâu sắc về đức hi sinh và lòng chung thuỷ bất tử của người phụ nữ.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “em” trong văn bản Chân quê của Nguyễn Bính.         CHÂN QUÊ Hôm qua em đi tỉnh về, Đợi em ở mãi con đê đầu làng. Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng. Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi! Nào đâu cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? Nói ra sợ mất...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “em” trong văn bản Chân quê của Nguyễn Bính.

        CHÂN QUÊ

Hôm qua em đi tỉnh về,
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em,
Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.
Như hôm em đi lễ chùa,
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                 (Nguyễn Bính, In trong Tổng hợp Văn học Việt Nam, tập 25, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr.257 - 458)

103

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho người con gái làng quê trước sự đổi thay của đời sống. “Em” vốn mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, gắn liền với những trang phục truyền thống như yếm lụa, áo tứ thân, khăn mỏ quạ – những nét rất “quê” nhưng đậm đà bản sắc. Thế nhưng chỉ sau một chuyến “đi tỉnh về”, “em” đã thay đổi: khăn nhung, quần lĩnh, áo khuy bấm khiến “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Sự thay đổi ấy không chỉ nằm ở cách ăn mặc mà còn gợi ra sự phai nhạt của tâm hồn quê mùa, chân chất. Qua ánh nhìn và lời trách yêu của “anh”, nhân vật “em” trở thành biểu tượng cho sự va chạm giữa truyền thống và lối sống thị thành đang len lỏi vào làng quê. Nguyễn Bính không lên án gay gắt mà thể hiện nỗi tiếc nuối, xót xa trước nguy cơ mất đi vẻ đẹp thuần khiết của con người nông thôn. Từ nhân vật “em”, nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết với quê hương và khát vọng gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống giữa dòng chảy đổi thay của cuộc sống.


23 tháng 1

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên với vẻ đẹp giản dị, hồn nhiên của người con gái làng quê, nhưng cũng đang chịu tác động của cuộc sống nơi thị thành. Khi “em đi tỉnh về”, hình ảnh cô gái với khăn nhung, áo khuy bấm, quần lĩnh rộn ràng đã khiến “anh” không khỏi băn khoăn, lo lắng. Sự thay đổi về trang phục không chỉ thể hiện vẻ ngoài mới mẻ mà còn gợi lên nguy cơ phai nhạt bản sắc quê hương. Tuy nhiên, “em” không phải là người chạy theo lối sống phù hoa, xa hoa, mà chỉ đang trong quá trình trưởng thành, khám phá bản thân. Ẩn sâu trong cô vẫn là nét đẹp mộc mạc, chân thành và thuần khiết. Qua nhân vật “em”, Nguyễn Bính thể hiện niềm trân trọng đối với vẻ đẹp truyền thống và gửi gắm mong muốn con người biết giữ gìn cốt cách quê hương giữa dòng chảy đổi thay của thời đại. Hình ảnh “em” vì thế vừa gần gũi, vừa gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc hôm nay.

28 tháng 1

hiện tượng tâm lý đám đông đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong giới trẻ hiện nay, gây ra nhiều tác hại tiêu cực. Tác hại lớn nhất là việc giới trẻ dễ dàng mất đi cá nhân, bị cuốn theo số đông mà thiếu suy xét thấu đáo. Điều này dẫn đến phát thiếu kiểm soát khi quy phạm pháp luật hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội chẳng hạn, nhiều hạn chế tham gia vào các trào lưu độc hại mạng xã hội, bắt nạt trực tiếp, tụ tập gây rối trật tự công cộng chỉ vì giống mọi người hay sợ bị cô lập hơn nữa, tâm lý đám đông còn kìm hãm sự phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo của cá nhân khi mọi người đều suy nghĩ hành động theo chung, không ai dám như vậy khác biệt, dẫn đến sự nhất nhất Muy tiêu cực và Về lâu dài, điều này , khiến họ trở nên thụ động và dễ bị dẫn dắt bởi những thông tin sai lệch hoặc những kẻ có đồ xấu. Để khắc phục tình trạng này, giới trẻ cần rèn luyện bản lĩnh, tư duy độc lập, và khả năng phân tích thông tin một cách khách quan. Giáo dục về truyền thông và tâm lý hoặc đám đông trong nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cho các ban tre

Tâm lí đám đông là hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội và đang tác động mạnh mẽ đến giới trẻ hiện nay. Trước hết, tâm lí đám đông khiến nhiều bạn trẻ hành động theo số đông mà thiếu sự suy xét đúng sai, dẫn đến việc chạy theo những trào lưu lệch chuẩn. Điều này không chỉ làm mất đi bản sắc cá nhân mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức và lối sống. Bên cạnh đó, khi bị chi phối bởi đám đông, giới trẻ dễ đánh mất chính kiến, trở nên thụ động và thiếu bản lĩnh trước những vấn đề của cuộc sống. Nguy hiểm hơn, tâm lí đám đông có thể dẫn đến các hành vi bốc đồng, vi phạm pháp luật hoặc lan truyền thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện tư duy độc lập, biết chọn lọc thông tin và giữ vững lập trường để không bị cuốn theo những ảnh hưởng tiêu cực từ đám đông.


23 tháng 1


Việc đảm bảo quyền lợi của học sinh trong trường học hiện nay giữ vai trò vô cùng quan trọng. Khi quyền lợi của học sinh được tôn trọng, các em sẽ có môi trường học tập an toàn, lành mạnh và bình đẳng. Điều này giúp học sinh yên tâm học tập, phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức và kĩ năng sống. Đảm bảo quyền lợi học sinh còn góp phần hạn chế các vấn đề tiêu cực như bạo lực học đường, phân biệt đối xử hay xâm phạm nhân phẩm. Đồng thời, khi được lắng nghe và bảo vệ, học sinh sẽ mạnh dạn bày tỏ ý kiến, phát huy tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm. Về phía nhà trường, việc bảo vệ quyền lợi học sinh giúp xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, hiện đại và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Vì vậy, đảm bảo quyền lợi của học sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là nhiệm vụ chung của gia đình và toàn xã hội.


Đảm bảo quyền lợi của học sinh trong trường học hiện nay có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục. Trước hết, khi quyền lợi của học sinh được tôn trọng và bảo vệ, các em sẽ cảm thấy an toàn, được lắng nghe và yên tâm học tập. Điều này góp phần xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, lành mạnh và nhân văn. Bên cạnh đó, việc đảm bảo quyền lợi còn giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức và kĩ năng sống, từ đó hình thành nhân cách tự tin, trách nhiệm. Ngoài ra, việc tôn trọng quyền lợi của học sinh còn hạn chế các hiện tượng tiêu cực như bạo lực học đường, phân biệt đối xử hay áp đặt không phù hợp. Quan trọng hơn, điều này giúp học sinh nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ của bản thân, chuẩn bị hành trang cần thiết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

28 tháng 1

Thời gian là tài sản vô giá của mỗi con người, nhưng không phải ai cũng biết sử dụng thời gian một cách hiệu quả. Để không lãng phí thời gian, trước hết mỗi người cần xác định rõ mục tiêu học tập và cuộc sống của bản thân. Khi có mục tiêu cụ thể, ta sẽ biết mình cần làm gì và tránh sa đà vào những việc vô bổ. Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch hằng ngày, hằng tuần sẽ giúp quản lí thời gian khoa học hơn, cân bằng giữa học tập, nghỉ ngơi và giải trí. Ngoài ra, cần hạn chế các thói quen xấu như lười biếng, trì hoãn hay sử dụng quá nhiều thời gian cho mạng xã hội. Mỗi người cũng nên rèn luyện tính kỉ luật, biết quý trọng từng phút giây đang có. Khi biết sử dụng thời gian hợp lí, con người sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc, học tập và từng bước tiến gần hơn đến thành công trong tương lai.





Thời gian là tài sản vô giá của con người, một khi đã trôi qua sẽ không thể lấy lại. Vì vậy, việc sử dụng thời gian hợp lí là yêu cầu cần thiết đối với mỗi người, đặc biệt là giới trẻ. Trước hết, mỗi người cần xác định rõ mục tiêu học tập và cuộc sống để có định hướng sử dụng thời gian phù hợp. Việc lập kế hoạch cụ thể theo ngày, theo tuần sẽ giúp tránh tình trạng sống tùy tiện, thiếu khoa học. Bên cạnh đó, cần rèn luyện tính kỉ luật, chủ động loại bỏ những thói quen gây lãng phí thời gian như nghiện mạng xã hội, trì hoãn công việc. Ngoài ra, việc tận dụng thời gian rảnh để đọc sách, rèn luyện kĩ năng và chăm sóc sức khỏe cũng góp phần nâng cao giá trị của thời gian. Khi biết trân trọng từng phút giây, con người không chỉ sống hiệu quả hơn mà còn tạo nền tảng vững chắc cho tương lai.

23 tháng 1

Lối sống ích kỉ gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng đối với giới trẻ trong xã hội hiện nay. khi chỉ biết nghĩ đến bản thân, nhiều bạn trẻ trở nên vô cảm trước khó khăn, nỗi đau của người khác, từ đó làm suy giảm những giá trị tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia và tinh thần trách nhiệm. Điều này khiến các mối quan hệ bạn bè, gia đình dễ rạn nứt, người trẻ dần bị cô lập và mất đi sự gắn kết cần thiết trong cuộc sống. Bên cạnh đó, lối sống ích kỉ còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hình thành nhân cách. Giới trẻ sống ích kỉ thường khó chấp nhận ý kiến đóng góp, thiếu tinh thần hợp tác, dẫn đến hạn chế trong học tập và công việc. Không chỉ vậy, khi quen đặt lợi ích cá nhân lên trên tập thể, họ dễ có những hành vi thiếu chuẩn mực, làm tổn hại đến uy tín và tương lai của chính mình. Về lâu dài, lối sống ích kỉ khiến người trẻ đánh mất nhiều cơ hội phát triển, khó đạt được thành công bền vững và hạnh phúc trọn vẹn. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ tác hại của lối sống ích kỉ để biết sống vị tha, trách nhiệm và góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn


23 tháng 1

Lối sống ích kỉ đang là một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ hiện nay. Sống ích kỉ khiến con người chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà thờ ơ với cảm xúc, quyền lợi của người khác. Điều này làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên lạnh nhạt, thiếu sự gắn kết và cảm thông. Đối với giới trẻ, lối sống ích kỉ còn cản trở sự phát triển nhân cách, khiến họ khó hòa nhập với tập thể, dễ bị cô lập trong học tập và cuộc sống. Hơn nữa, khi chỉ biết nhận mà không biết cho đi, con người sẽ đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia và trách nhiệm cộng đồng. Về lâu dài, lối sống ích kỉ không chỉ gây tổn hại cho xã hội mà còn khiến chính người trẻ trở nên nghèo nàn về tinh thần. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ tác hại của lối sống ích kỉ để biết sống yêu thương, quan tâm và cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng.