K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 3

Hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, mạng xã hội đang chứng kiến một bộ phận học sinh có lối sống lệch lạc thông qua việc đăng tải những hình ảnh, video ăn mặc và nhảy múa phản cảm. Không khó để bắt gặp những clip học sinh trong trang phục hở hang, thiếu kín đáo hoặc thực hiện những động tác vũ đạo mang tính chất gợi dục, hoàn toàn không phù hợp với thuần phong mỹ tục và lứa tuổi. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý muốn được nổi tiếng nhanh chóng, muốn được nhiều "like", nhiều "view" bất chấp giá trị đạo đức. Việc chạy theo những trào lưu độc hại này không chỉ làm hoen ố hình ảnh trong sáng của người học sinh mà còn khiến các em đối mặt với nguy cơ bị quấy rối, bôi nhọ trên không gian mạng. Hơn nữa, nó còn gây ra cái nhìn sai lệch về văn hóa ứng xử của thế hệ trẻ trong mắt xã hội. Để ngăn chặn tình trạng này, gia đình và nhà trường cần có sự giám sát, giáo dục kỹ năng số chặt chẽ hơn. Bản thân mỗi học sinh cần hiểu rằng, giá trị thực sự của con người nằm ở tri thức và tâm hồn, chứ không phải ở những hành động gây sốc nhất thời. Hãy để mạng xã hội là nơi lan tỏa những điều tử tế thay vì là công cụ để đánh mất chính mình.


Hiện nay, một số học sinh có biểu hiện ăn mặc và nhảy múa phản cảm trên mạng xã hội, gây nhiều ý kiến trái chiều. Theo em, đây là hành vi không phù hợp với lứa tuổi và môi trường học đường, làm ảnh hưởng đến hình ảnh của bản thân cũng như học sinh nói chung. Nguyên nhân có thể do các em muốn thu hút sự chú ý hoặc bị ảnh hưởng bởi các trào lưu thiếu lành mạnh trên mạng. Tuy nhiên, việc chạy theo những xu hướng này có thể khiến các em đánh mất giá trị của bản thân và nhận được những đánh giá tiêu cực từ xã hội. Vì vậy, mỗi học sinh cần ý thức hơn trong cách ăn mặc, hành vi và biết giữ gìn hình ảnh đúng mực, phù hợp với độ tuổi.


17 tháng 3

Trong thời đại kỷ nguyên số, mạng xã hội như Facebook, TikTok hay YouTube đã trở thành "con dao hai lưỡi" đối với thế hệ học sinh chúng ta. Một mặt, mạng xã hội là kho tàng tri thức khổng lồ giúp học sinh dễ dàng tìm kiếm tài liệu, tham gia các hội nhóm học tập và kết nối với bạn bè khắp năm châu. Nó giúp chúng ta cập nhật tin tức thế giới chỉ trong vài giây và là nơi để mỗi cá nhân tự tin thể hiện cá tính sáng tạo. Tuy nhiên, nếu không có bản lĩnh, học sinh rất dễ rơi vào những "cạm bẫy" ảo. Việc quá đắm chìm vào thế giới ảo khiến nhiều bạn xao nhãng việc học, thức khuya gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Đáng lo ngại hơn là tình trạng bạo lực ngôn từ và những trào lưu độc hại đang lan truyền chóng mặt, làm lệch lạc nhận thức của giới trẻ. Vì vậy, để mạng xã hội trở thành công cụ hữu ích thay vì là gánh nặng, mỗi học sinh cần hình thành cho mình "bộ lọc" thông tin và quản lý thời gian sử dụng hợp lý. Hãy là một "cư dân mạng" thông minh, biết dùng mạng xã hội để làm giàu tâm hồn và kiến thức thay vì để nó điều khiển cuộc sống của chính mình.


Mạng xã hội ngày nay đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của học sinh. Theo em, việc sử dụng mạng xã hội mang lại nhiều lợi ích như giúp kết nối bạn bè, cập nhật thông tin nhanh chóng và hỗ trợ học tập hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nhiều học sinh lại lạm dụng mạng xã hội, dành quá nhiều thời gian cho việc giải trí, xem video hoặc sống “ảo” mà sao nhãng việc học. Ngoài ra, việc thiếu chọn lọc thông tin còn dễ khiến các em tiếp cận với nội dung không phù hợp. Vì vậy, học sinh cần biết sử dụng mạng xã hội một cách hợp lý, có chọn lọc và kiểm soát thời gian để vừa học tập tốt vừa giải trí lành mạnh.



11 tháng 3

Bình đẳng giới là một vấn đề quan trọng trong xã hội hiện nay. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ đều có quyền và cơ hội như nhau trong học tập, công việc và cuộc sống. Trong quá khứ, phụ nữ thường bị coi nhẹ và ít có cơ hội phát triển bản thân. Tuy nhiên, ngày nay nhận thức của xã hội đã thay đổi tích cực hơn. Nhiều phụ nữ đã đạt được những thành tựu lớn trong các lĩnh vực như khoa học, giáo dục, kinh tế và chính trị. Điều đó cho thấy phụ nữ hoàn toàn có khả năng và vai trò quan trọng không kém nam giới. Mặc dù vậy, trong thực tế vẫn còn tồn tại một số định kiến như trọng nam khinh nữ hoặc sự phân biệt trong công việc và thu nhập. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, tôn trọng và tạo cơ hội công bằng cho cả nam và nữ. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục thế hệ trẻ về sự tôn trọng và công bằng giữa các giới. Khi bình đẳng giới được thực hiện tốt, xã hội sẽ trở nên công bằng, văn minh và phát triển bền vững hơn.

17 tháng 3

Bình đẳng giới là mục tiêu then chốt để xây dựng một xã hội văn minh, nơi nam giới và nữ giới đều có quyền lợi, cơ hội và trách nhiệm ngang nhau trong mọi lĩnh vực. Hiện nay, dù nhận thức đã cải thiện, tư duy "trọng nam khinh nữ" và định kiến về vai trò "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" vẫn tồn tại, tạo ra rào cản vô hình đối với sự phát triển của phụ nữ. Bình đẳng giới không phải là cào bằng, mà là tôn trọng giá trị riêng, tạo điều kiện để cả hai giới phát huy tối đa tiềm năng. Thực tế, sự bình đẳng thực sự giúp xã hội phát huy nguồn nhân lực, gia đình hạnh phúc hơn và giảm thiểu bạo lực. Để hướng tới một tương lai bình đẳng, cần thay đổi từ nhận thức đến hành động, chia sẻ trách nhiệm việc nhà, giáo dục tư tưởng bình đẳng ngay từ nhỏ và tôn trọng quyền tự quyết của mỗi người

(4 điểm) Đọc văn bản sau: AI KHÔNG DÁM QUYẾT, NGƯỜI ẤY TỰ TRÓI MÌNH      ​(1) Bạn có biết ở Phi châu người ta bắt những chú khỉ như thế nào không? Người thợ săn đặt một hòn đá cỡ bằng quả trứng gà vào một hốc cây. Chú khỉ đã sờ thấy hòn đá nọ và muốn kéo nó ra khỏi hốc. Nhưng miệng hốc cây quá bé. Tất nhiên chú khỉ có thể dễ dàng rút tay ra khỏi hốc, nếu chú bỏ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

AI KHÔNG DÁM QUYẾT, NGƯỜI ẤY TỰ TRÓI MÌNH

     ​(1) Bạn có biết ở Phi châu người ta bắt những chú khỉ như thế nào không? Người thợ săn đặt một hòn đá cỡ bằng quả trứng gà vào một hốc cây. Chú khỉ đã sờ thấy hòn đá nọ và muốn kéo nó ra khỏi hốc. Nhưng miệng hốc cây quá bé. Tất nhiên chú khỉ có thể dễ dàng rút tay ra khỏi hốc, nếu chú bỏ hòn đá ra. Nhưng chú đã không đủ bản lĩnh để làm điều đó. Và cuối cùng người thợ săn đã bắt được chú bằng cách thong thả trùm lên người chú một chiếc bao tải.

     ​​(2) Phải chăng, đôi khi chúng ta bị quá khứ giam hãm, bởi một điều gì đấy hoặc một sự yên ổn chăng? Để rồi chúng ta chịu bó tay trước việc làm cho cuộc sống của mình trở nên hạnh phúc hơn. Đây là lúc mà chúng ta phải trả lời câu hỏi rất cơ bản:“Bạn mong muốn đạt được điều gì trong cuộc sống của bạn ?”.

     ​​(3) Roosevelt một lần đã nói: “Tốt hơn là mạo hiểm làm một việc lớn, nâng cốc chúc mừng đại thắng cho dù có khi sai lầm hoặc chịu mất mát thương đau. Còn hơn là đứng vào hàng ngũ những con chiên, chất phác, giản đơn, những con người ít biết đến niềm vui lẫn nỗi đau. Bởi vì họ sống trong miền sáng tối, nơi chẳng hề có thành công và thất bại”.

​      ​(4) Người thành đạt sống thoáng, không lùi bước trước khó khăn, biết chấp nhận rủi ro. Vì họ hiểu rằng biết hi sinh cái nhỏ sẽ được cái lớn. Sự nghèo hèn đối với hầu hết người châu Âu không có nghĩa là chịu đói khát mà là phải sống những tháng ngày ngớ ngẩn, vô bổ.

     ​​(5) Thật là khác biệt khi người vào cuộc chơi chỉ nhằm không thua cuộc, với người lao vào cuộc chơi là để giành chiến thắng. Ai cố gắng để không thua cuộc, người đó chỉ tập trung chống rủi ro, tránh hiểm nguy. Người vào cuộc với ý đồ thắng cuộc, anh ta luôn tìm cơ hội để chiến thắng. Bạn nghĩ sao, trong hai con người, ai là người cảm thấy hạnh phúc hơn?

(Bodo Schaefer, Bí quyết để thành đạt, NXB Thông tấn, Hà Nội, 2002, tr.17)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Đoạn trích trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Vấn đề được bàn luận trong văn bản là gì?

Câu 3. Đoạn văn đầu tiên có vai trò gì trong văn bản?

Câu 4. Đoạn văn (5) được trình bày theo kiểu đoạn văn nào?

Câu 5. Theo em, giữa "người vào cuộc chơi chỉ nhằm không thua" với "người lao vào cuộc chơi là để giành chiến thắng", ai là người cảm thấy hạnh phúc hơn? Vì sao?

2

Câu 1:

Đoạn trích trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (hoặc văn bản thông tin có yếu tố nghị luận). Cụ thể, nó sử dụng phương thức kể chuyện (ví dụ về việc bắt khỉ ở châu Phi) để dẫn dắt và làm rõ cho luận điểm chính về việc tự giam hãm bản thân và sự cần thiết phải đưa ra quyết định, từ đó thể hiện quan điểm, suy nghĩ của tác giả.

Câu 2:

Vấn đề cốt lõi được bàn luận trong văn bản là sự tự giới hạn bản thân, sự thiếu quyết đoán và nỗi sợ hãi bám víu vào quá khứ hoặc sự ổn định quen thuộc, khiến con người không dám hành động để thay đổi và tìm kiếm hạnh phúc tốt đẹp hơn. Tác giả đặt ra câu hỏi cơ bản về mong muốn thực sự trong cuộc sống của mỗi người.

Câu 3:

Đoạn văn đầu tiên có vai trò là phần mở đầu và đưa ra dẫn chứng/ví dụ cụ thể, mang tính minh họa (exemplification). Việc kể về chú khỉ bị mắc kẹt vì không chịu buông bỏ hòn đá đóng vai trò là một hình ảnh ẩn dụ sinh động, giúp người đọc dễ dàng liên hệ và hình dung về tình trạng tự trói buộc, thiếu quyết đoán mà tác giả sắp phân tích ở các đoạn sau.

Câu 4:

Nếu đoạn văn đó trình bày nội dung tiếp nối từ câu hỏi "Ai là người cảm thấy hạnh phúc hơn?" (có trong hình ảnh thứ hai), thì đoạn đó sẽ được trình bày theo kiểu đoạn văn diễn dịch hoặc tổng – phân – hợp nhằm phân tích, so sánh hai đối tượng (người không dám chơi và người dám chơi) để đi đến kết luận cuối cùng về hạnh phúc

Câu 5;

Theo em, người cảm thấy hạnh phúc hơn là "người lao vào cuộc chơi là để giành chiến thắng". Người chỉ nhăm nhăm không thua thường hành động với tâm thế phòng thủ, sợ thất bại, bị giới hạn bởi nỗi sợ hãi và sự so sánh với tiêu chuẩn an toàn. Ngược lại, người đặt mục tiêu chiến thắng (hay tiến bộ) là người dám chấp nhận rủi ro, chủ động hành động và hướng tới kết quả tích cực, điều này thường mang lại cảm giác thành tựu và ý nghĩa cao hơn cho cuộc sống.



Câu 1.
Kiểu văn bản: Nghị luận.

Câu 2.
Vấn đề: Con người phải dám từ bỏ sự ràng buộc, chấp nhận rủi ro, sống chủ động để đạt được thành công và hạnh phúc.

Câu 3.
Vai trò đoạn (1):
Nêu dẫn chứng (câu chuyện con khỉ) để mở đầu, từ đó gợi ra vấn đề nghị luận.

Câu 4.
Đoạn (5): Diễn dịch

Câu 5.
Người “lao vào cuộc chơi để giành chiến thắng” sẽ hạnh phúc hơn, vì:
→ Họ sống chủ động, dám thử thách, tìm cơ hội, có mục tiêu rõ ràng.
→ Còn người chỉ “không muốn thua” thường sợ rủi ro, dễ bỏ lỡ cơ hội, nên khó đạt được niềm vui trọn vẹn.


(4 điểm) Đọc văn bản sau: Tổ quốc em hình gì? Đoàn Công Lê Huy    1. Nếu có một bài văn ra đề rằng: "Đất nước em hình gì?" em sẽ trả lời như thế nào?    2. Có phải là "Tổ quốc em như một con tàu, mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau" để bày tỏ khát vọng ra khơi của đất nước mấy nghìn năm neo đậu? Để bày tỏ ước mơ giao hòa thế giới bao quanh địa cầu tươi đẹp này? Để gần...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

Tổ quốc em hình gì?

Đoàn Công Lê Huy

   1. Nếu có một bài văn ra đề rằng: "Đất nước em hình gì?" em sẽ trả lời như thế nào?

   2. Có phải là "Tổ quốc em như một con tàu, mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau" để bày tỏ khát vọng ra khơi của đất nước mấy nghìn năm neo đậu? Để bày tỏ ước mơ giao hòa thế giới bao quanh địa cầu tươi đẹp này? Để gần hơn nữa với mọi quốc gia, mọi màu da trong thời kì hội nhập?

   3. Có phải hiện hình trong em là "đất nước hình bông lúa" để em xót xa nhiều một dáng mẹ, dáng cha một nắng hai sương nuôi em ăn học? Để em mang theo trong mình hồn xứ sở khi em lớn khôn đi khắp mọi miền? Để em ơn nghĩa với bà con, với đồng bào đã góp sức lực, góp dáng hình vào trong mỗi bước em đi?

   4. Có phải là "đất nước em mang hình tia chớp" để em không quên một thời đạn bom, một thời anh dũng. Để em không quên một xứ sở khó nhọc, quanh năm trông trời, trông đất, trông mây, trong mỗi giấc ngủ của ông cha cũng ám ảnh mưa nguồn chớp bể?

   5. Có phải đất nước em hình người mẹ già ngồi đan nón lưng còng để nhắc em một lịch sử lâu dài cả đất nước đói nghèo trong rơm rạ? Để nhắc em Việt Nam mình còn đang ở top nghèo?

   6. Có phải đất nước em "hình chim câu" để mơ mãi quê hương thanh bình, không có cảnh loạn lạc, không có cảnh đầu rơi máu chảy, mẹ đợi con, vợ chờ chồng trong biệt li, không hẹn ngày về? Có phải đất nước em "hình chim câu" cũng là để cho em mong đợi đất nước em có một ngày vỗ cánh?

   7. Có phải đất nước em hình tro mái tranh nghèo che nắng, che mưa, che cả dải đất nép mình bên bờ biển Đông? Để em cảm động hơn về tình người "nhiễu điều phủ lấy giá gương"? Để em tự hào hơn về thành tựu xóa đói, giảm nghèo suốt mấy năm qua? Để em thấy tin tưởng hơn khi tỉnh này chủ trương xóa mái tranh nghèo vào năm 2005, khi tỉnh nọ quyết tâm hoàn thành dứt điểm việc xóa phòng học ba ca, tranh tre nứa lá vào năm 2004?

   8. Và cứ thế, trong mỗi trái tim VIỆT có một dáng hình nước VIỆT. Nên chăng mỗi lớp học phải treo một bản đồ VIỆT NAM ở nơi cao nhất, trang trọng nhất để luôn khắc sâu trong tim mình hình chữ S này? Để nhắc nhở em chăm học, để nhắc nhở em danh dự và trách nhiệm của một công dân nước VIỆT? Bởi không phải Tổ quốc em hình gì mà điều quan trọng hơn em còn phải biết "hóa thân vào dáng hình xứ sở":

         Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
         Làm nên ĐẤT NƯỚC muôn đời

                                (Nguyễn Khoa Điềm)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Chỉ ra luận đề của văn bản.

Câu 3. Cách mở và kết của văn bản có gì đặc biệt?

Câu 4. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.

Câu 5. Phân tích tác dụng của phép lặp trong văn bản.

2

Câu 1:

Nếu nhận được đề bài "Đất nước em hình gì?", em sẽ không chỉ giới hạn câu trả lời trong một hình dạng cụ thể, mà sẽ khẳng định Tổ quốc là tổng hòa của những hình ảnh mang ý nghĩa sâu sắc về lịch sử, văn hóa và khát vọng vươn lên. Em sẽ trả lời rằng Tổ quốc là sự kết hợp hài hòa giữa những biểu tượng truyền thống như hình ảnh người mẹ tần tảo nuôi dưỡng (bông lúa), khát vọng vươn ra biển lớn (con tàu), và những dấu ấn anh hùng của quá khứ (tia chớp). Quan trọng hơn, em sẽ nhấn mạnh rằng hình hài của Tổ quốc chính là trách nhiệm và hành động của mỗi người con trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Câu 2Luận điểm cốt lõi được tác giả sử dụng trong văn bản là việc đặt câu hỏi tu từ về hình dáng của Tổ quốc để qua đó khẳng định tính đa dạng, chiều sâu lịch sử và khát vọng hiện đại của đất nước. Tác giả không đưa ra một câu trả lời duy nhất mà lần lượt đưa ra các hình ảnh ẩn dụ (con tàu, bông lúa, tia chớp) như những luận cứ để chứng minh rằng Tổ quốc không chỉ là một thực thể địa lý mà còn là một tổng thể tinh thần, bao hàm quá khứ hào hùng, hiện tại lao động cần cù và tương lai hội nhập rộng mở.

Câu 3:

Cách mở đầu văn bản rất đặc biệt vì nó sử dụng ngay câu hỏi tu từ trực tiếp và mang tính gợi mở: "Đất nước em hình gì?". Cách mở này lập tức thu hút sự chú ý của người đọc và buộc họ phải suy tư, tham gia vào quá trình tìm kiếm câu trả lời cùng tác giả. Mặc dù đoạn trích chưa thể hiện trọn vẹn phần kết, nhưng qua cách trình bày các luận cứ dưới dạng câu hỏi tu từ, ta có thể dự đoán phần kết sẽ là một lời khẳng định tổng hợp, nhấn mạnh vào vai trò và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với hình hài Tổ quốc.

Câu 4: KHÔNG BIẾT LÀM

Câu 5:

Phép lặp được sử dụng chủ yếu qua cấu trúc câu hỏi lặp lại với cụm từ "Có phải là..." (trong Câu 2, 3, 4) và việc lặp lại từ "Để" ở đầu các mệnh đề phụ. Tác dụng của phép lặp này rất lớn: thứ nhất, nó tạo ra nhịp điệu mạnh mẽ, dồn dập, như một dòng chảy liên tục của suy tư và cảm xúc; thứ hai, nó nhấn mạnh và làm nổi bật từng khía cạnh quan trọng của Tổ quốc mà tác giả muốn đề cập (khát vọng, cội nguồn, lịch sử); và thứ ba, nó duy trì được sự kết nối logic giữa các luận điểm, dẫn dắt người đọc đi sâu vào ý nghĩa biểu trưng của từng hình ảnh ẩn dụ.


Câu 1.
Phương thức biểu đạt: Nghị luận (kết hợp biểu cảm).

Câu 2.
Luận đề: Kêu gọi mỗi người “hóa thân cho dáng hình xứ sở”, sống có trách nhiệm, góp phần làm nên đất nước.

Câu 3.
Đặc biệt:

  • Mở đầu bằng câu hỏi gợi suy nghĩ, gây ấn tượng.
  • Kết thúc bằng câu thơ (trích Nguyễn Khoa Điềm) → tăng tính cảm xúc, khẳng định tư tưởng.

Câu 4.
Cách lập luận: Chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, kết hợp lí lẽ với câu hỏi tu từ và dẫn chứng (thơ).

Câu 5.
Tác dụng phép lặp:

  • Nhấn mạnh ý thức trách nhiệm, danh dự của công dân.
  • Tạo nhịp điệu, tăng sức gợi cảm, giúp lời văn sâu sắc và dễ nhớ hơn.


(4 điểm) Đọc văn bản sau: Giới trẻ với văn hóa ứng xử trên mạng xã hội Văn Phong        (1) Hiện nay, mạng xã hội (MXH) trở thành công cụ truyền thông, môi trường giải trí được nhiều người ưa thích, sử dụng hàng ngày, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực với những tiện ích vượt trội mà MXH mang lại thì việc sử dụng MXH trong giới trẻ cũng nảy sinh không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

Giới trẻ với văn hóa ứng xử trên mạng xã hội

Văn Phong

       (1) Hiện nay, mạng xã hội (MXH) trở thành công cụ truyền thông, môi trường giải trí được nhiều người ưa thích, sử dụng hàng ngày, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực với những tiện ích vượt trội mà MXH mang lại thì việc sử dụng MXH trong giới trẻ cũng nảy sinh không ít vấn đề mà dư luận lo ngại.

       (2) Theo điều tra sơ bộ của UNICEF, cứ 3 người dùng Internet thì có 1 người dưới 18 tuổi và 71% người từ 15-24 tuổi đang trực tuyến, cho thấy nhóm tuổi này được kết nối nhiều nhất trên toàn thế giới. Đại dịch COVID-19 đã đẩy nhanh tốc độ tiếp cận số hóa chưa từng có, ngay cả ở các khu vực vùng sâu, vùng xa… Thêm nữa, thống kê của Google cho thấy, hiện 97% người dùng Việt Nam tìm kiếm thông tin qua các thiết bị cầm tay như điện thoại thông minh, máy tính bảng đã khiến thị trường trực tuyến thực sự trở thành một “khoảng không gian riêng” cho các bạn trẻ thỏa sức khai thác nhu cầu thông tin của mình.

       (3) MXH là công cụ có nhiều tiện ích để kết nối mọi người, hình thành nên các nhóm và cộng đồng mạng rất phong phú, mang tính xuyên quốc gia. Những người tham gia MXH rất đa dạng, khác nhau về tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, tính cách, sở thích… Mỗi cá nhân lại có thể kết bạn, tham gia nhiều nhóm, cộng đồng mạng khác nhau, nên mặc dù có sự lựa chọn, song nguy cơ mâu thuẫn, xung đột về quan điểm giữa các thành viên trong nhóm hay giữa nhóm này với nhóm khác vẫn rất cao, có thể khiến bạn bị lôi kéo vào những chuyện vô bổ, phiền toái… không đáng có. Một thực tế đáng buồn khác hiện nay là, môi trường MXH đang bị vẩn đục bởi các hành vi giao tiếp, ứng xử chưa văn hóa; cách sử dụng MXH của một số người dùng chưa thật sự văn minh, hoặc số ít còn lợi dụng các diễn đàn để công khai đả kích, nói xấu, bôi nhọ lẫn nhau. Rất nhiều bạn trẻ còn quan niệm MXH là thế giới ảo, có thể ẩn danh nên rất dễ dãi trong ứng xử, xem MXH là công cụ để săm soi đời tư của người khác, thể hiện cái tôi cá nhân, hoặc tự cho mình cái quyền “tự do ngôn luận” núp bóng trong hành vi phỉ báng, cư xử thiếu văn hóa… làm tổn thương người khác, lây lan cách ứng xử tiêu cực cho cộng đồng.

       (4) Nên nhớ rằng, những gì chia sẻ trên MXH là sự phản ánh con người, tính cách, lối sống của bạn. Vì vậy, khi tham gia MXH, mỗi người trẻ nên là một người dùng thông minh, có văn hóa, rèn cho mình cách ứng xử, tương tác thật chuẩn mực. Giao tiếp, ứng xử, tương tác trên mạng xã hội, mỗi người cần hoàn thiện đạo đức, nhân cách của con người trong thời đại 4.0. Có như vậy mỗi bài viết, mỗi clip mới góp phần lan tỏa những quan điểm tư tưởng tiến bộ, những giá trị cao đẹp; tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng; mặt khác, góp phần đấu tranh với những tệ nạn tiêu cực, những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống. Hãy thực hiện đúng những quy tắc: nếu không nói được những điều lạc quan thì nên giữ im lặng, tế nhị, tôn trọng người khác… Có như thế thì người dùng sẽ không sa vào những vấn đề tiêu cực, hệ lụy xấu từ MXH.

       (5) Khi tham gia mạng xã hội, mỗi người cần có ý thức, rằng mình phải là người có trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng; biết tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền lợi của người khác; và nhất là biết tôn trọng danh dự bản thân thì mới có trách nhiệm với mỗi bài viết, mỗi hình ảnh, mỗi comment khi đăng lên mạng xã hội. Với những kẻ cố tình sử dụng mạng xã hội để bịa đặt, xuyên tạc sự thật, làm hại người khác cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

(Theo Thừa Thiên Huế Online, 14/11/2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn (2).

Câu 3. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.

Câu 4. Ở đoạn (3), để làm sáng tỏ cho lí lẽ: Mạng xã hội bên cạnh những lợi ích vượt trội, vẫn còn tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, xung đột, tác giả đã đưa ra những bằng chứng nào?

Câu 5. Vấn đề mà tác giả đưa ra trong bài viết còn có ý nghĩa với cuộc sống của chúng ta ngày nay hay không? Vì sao?

5

Câu 1:

Luận đề của văn bản được tác giả xác định rõ ràng ngay từ tiêu đề và phần mở đầu, đó là "Giới trẻ với văn hóa ứng xử trên mạng xã hội" và vấn đề nổi bật kèm theo. Cụ thể, đoạn (1) đã nêu bật luận đề này: mạng xã hội (MXH) là công cụ truyền thông, giải trí được giới trẻ ưa chuộng, nhưng bên cạnh những lợi ích tích cực, việc sử dụng MXH trong giới trẻ cũng "nảy sinh không ít vấn đề mà dư luận lo ngại." Như vậy, luận đề bao quát là sự phân tích hai mặt (lợi ích và vấn đề) của việc giới trẻ tham gia vào không gian mạng xã hội

Câu 2:

Thao tác lập luận chính được sử dụng xuyên suốt đoạn (2) là đưa ra dẫn chứng và số liệu thống kê nhằm chứng minh cho thực trạng và tầm quan trọng của vấn đề. Đoạn văn này tập trung vào việc cung cấp các bằng chứng cụ thể như: số liệu của UNICEF (cứ 3 người dùng Internet thì có 1 người dưới 18 tuổi và 71% người từ 15-24 tuổi đang trực tuyến); sự thúc đẩy của đại dịch COVID-19; và thống kê của Google về thói quen tìm kiếm thông tin của người Việt Nam. Các số liệu này có tác dụng làm tăng tính xác thực và thuyết phục cho luận điểm rằng giới trẻ là đối tượng sử dụng MXH đông đảo và tích cực nhất.

Câu 3:

Cách lập luận của tác giả trong đoạn trích này được đánh giá là khoa học và khách quan, đặc biệt là trong hai đoạn đầu. Tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận hai mặt của vấn đề (mặt tích cực và mặt tiêu cực) ngay từ đầu. Hơn nữa, việc sử dụng các số liệu thống kê cụ thể từ các tổ chức uy tín (UNICEF, Google) cho thấy tác giả không chỉ dừng lại ở nhận định cảm tính mà dựa trên dữ liệu thực tế để chứng minh mức độ phổ biến và sự gắn bó sâu sắc của giới trẻ với MXH. Cách lập luận này giúp người đọc dễ dàng chấp nhận và tin tưởng vào tính xác thực của vấn đề đang được đề cập.

Câu 4:

Dựa trên cấu trúc thường thấy của bài nghị luận, nếu đoạn (3) nhằm làm sáng tỏ mặt tiêu cực ("mâu thuẫn, xung đột") sau khi đã trình bày mặt tích cực và sự phổ biến (đoạn 1 & 2), tác giả có thể đã đưa ra các bằng chứng như: hiện tượng bắt nạt trực tuyến (cyberbullying), lan truyền tin giả (fake news), hoặc hành vi ứng xử thiếu văn hóa, thô tục của một bộ phận người dùng. Những bằng chứng này thường được dùng để minh họa cho việc MXH bị lợi dụng để gây tổn thương hoặc chia rẽ cộng đồng, trái ngược với vai trò là môi trường giải trí lành mạnh.

Câu 5:

Vấn đề "Giới trẻ với văn hóa ứng xử trên mạng xã hội" có ý nghĩa vô cùng lớn đối với cuộc sống của chúng ta ngày nay. Điều này là do mạng xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống cá nhân, xã hội và toàn cầu, nhất là với giới trẻ – lực lượng tương lai của đất nước. Việc thảo luận về văn hóa ứng xử trên MXH giúp chúng ta nhận thức rõ về trách nhiệm khi tham gia không gian ảo, từ đó giảm thiểu các rủi ro tiêu cực như thông tin sai lệch, bạo lực mạng. Nếu không ý thức được, văn hóa ứng xử kém sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách của giới trẻ và gây bất ổn xã hội.


29 tháng 4

C1. Luận đề : việc sử dụng mạng xã hội ngày nay

(4 điểm) Đọc văn bản sau:      Như mọi công dân chân chính khác, trong cái "Vất vả và gian lao" đằng đẵng của đất nước, tác giả cũng có phần đóng góp công sức nhỏ bé của mình, đó là phần đóng góp tự nguyện như một lẽ sống: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến. Cái "tôi" của nhà thơ như một dòng suối nhỏ khiêm nhường, đã hòa vào...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

     Như mọi công dân chân chính khác, trong cái "Vất vả và gian lao" đằng đẵng của đất nước, tác giả cũng có phần đóng góp công sức nhỏ bé của mình, đó là phần đóng góp tự nguyện như một lẽ sống:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến.

Cái "tôi" của nhà thơ như một dòng suối nhỏ khiêm nhường, đã hòa vào cái "ta" của "dòng sông xanh" trên quê hương, đất nước mình. Từ vị thế của cái "ta", "chúng ta", tức là vị thế của người trong cuộc, nhà thơ đã chân thành tâm sự với bạn bè, đồng chí của mình về một lẽ sống thật giản dị.

     Bài thơ ra đời vào tháng 11 năm 1980, đó là một năm trong thập kỉ (1976 - 1986) khi đất nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn đặc biệt gay gắt. Làm sao Thanh Hải lại không buồn về những điều đó? Nếu Nguyễn Duy "giật mình" trước "đột ngột vầng trăng tròn" thì Thanh Hải chắc cũng giật mình khi chợt nghe một tiếng chim hót, khi chợt thấy một bông hoa? Mùa xuân, vầng trăng, tiếng chim hót, bông hoa nở... thì đã, đang và sẽ mãi mãi mãi tồn tại; đó là những giá trị vĩnh cửu; đó là cái đẹp vĩnh cửu... Thế còn cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người? Trong quan hệ giữa cái "tôi" với cái "ta"? Liệu có vĩnh cửu không? Thanh Hải không trả lời trực tiếp câu hỏi này mà thay vào đó bằng một lời nhắn nhủ. Ông đã nhắn nhủ điều gì? "Ta làm con chim hót/ Ta làm một cành hoa/ Ta nhập vào hòa ca/ Một nốt trầm xao xuyến.". Làm con chim thì phải có tiếng hót riêng. Làm bông hoa thì phải có hương sắc riêng. Nhưng những cái riêng ấy chỉ được xác lập giá trị trong quan hệ với cái chung, tức là với những cá thể cùng loài xung quanh. Không thể và cũng không nên so sánh giữa tiếng hót của con chim với hương sắc của bông hoa, cái nào có ích hơn, cái nào quan trọng hơn? ... Mỗi người cũng vậy, có một giá trị riêng không thể so sánh. Vì thế trong bản "hòa ca" đoàn kết, nên có người ở vị trí khiêm tốn như một "nốt trầm". Nhưng "nốt trầm" ấy vẫn phải có bản sắc riêng của mình như tiếng hót riêng của mỗi con chim và hương sắc riêng của mỗi bông hoa bởi đó là bản "hòa ca" có "nhạc luật" chứ đâu phải là "hòa tan": một cách vô vị, nhạt nhẽo?

(Trích Mùa xuân nho nhỏ, lời giãi bày chân thành, giản dị, Hoàng Dân, in trong Văn học và Tuổi trẻ, số 1 (323), năm 2015)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định câu văn mang luận điểm của đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, người viết đã lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh nào của khổ thơ để phân tích?

Câu 3. Việc người viết dẫn ra hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Duy được thể hiện trong bài Ánh trăng có ý nghĩa gì?

Câu 4. Phân tích hiệu quả của việc kết hợp sử dụng nhiều biện pháp tu từ trong câu văn sau: Mùa xuân, vầng trăng, tiếng chim hót, bông hoa nở... thì đã, đang và sẽ mãi mãi mãi tồn tại; đó là những giá trị vĩnh cửu; đó là cái đẹp vĩnh cửu...

Câu 5. Đọc kĩ đoạn văn được in đậm và cho biết người dẫn đã đưa ra kiến giải cá nhân nào về việc tiếp nhận khổ thơ thứ tư trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải? Em có đồng tình với quan điểm của nhà thơ không? Vì sao?

2

Câu 1:

Luận điểm chính của đoạn trích được thể hiện rõ ràng qua câu: "Việc người viết dẫn ra hoàn cảnh ra đời của bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" và tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Duy được thể hiện trong bài "Ánh trăng" có ý nghĩa gì?" Câu văn này đặt ra câu hỏi trung tâm, định hướng cho toàn bộ phần phân tích tiếp theo, cho thấy mục đích làm rõ ý nghĩa của sự liên hệ giữa hai tác phẩm và tâm trạng của hai nhà thơ

Câu 2:

Để làm rõ luận điểm của mình, người viết đã tập trung vào những hình ảnh đắt giá và mang tính biểu tượng từ khổ thơ cuối của "Mùa xuân nho nhỏ". Các từ ngữ và hình ảnh nổi bật được lựa chọn để phân tích bao gồm: "mùa xuân, vầng trăng, tiếng chim hót, bông hoa nở". Những hình ảnh này không chỉ gợi tả vẻ đẹp thiên nhiên mà còn mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc về sự sống và khát vọng.

Câu 3:

Việc người viết liên hệ hoàn cảnh ra đời của "Mùa xuân nho nhỏ" với tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Duy trong "Ánh trăng" mang ý nghĩa làm nổi bật sự tương đồng trong khát vọng vĩnh cửu về vẻ đẹp và giá trị sống. Thông qua việc này, người viết muốn cho thấy dù hoàn cảnh sáng tác có khác biệt, nhưng ở cả hai nhà thơ đều có sự chiêm nghiệm sâu sắc về những gì thực sự có giá trị và trường tồn, vượt lên trên những biến đổi của cuộc sống cá nhân.

Câu 4:


Câu 1.
→ Câu văn mang luận điểm:
Khẳng định vẻ đẹp và ý nghĩa của khổ thơ (đặc biệt khổ 4) trong bài Mùa xuân nho nhỏ với giá trị bền vững, sâu sắc.
Câu 2.
→ Những từ ngữ, hình ảnh được phân tích:
“mùa xuân”, “tiếng chim hót”, “bông hoa”, “vầng trăng”
→ Đây là các hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng cho cái đẹp và sự sống.

Câu 3.
→ Ý nghĩa:

  • Giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác, từ đó cảm nhận sâu sắc hơn giá trị tác phẩm.
  • Làm nổi bật tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ.
  • Tăng tính thuyết phục và chiều sâu cho lập luận.

Câu 4.
→ Câu văn sử dụng liệt kê, điệp từ (“vĩnh cửu”), kết hợp nhịp điệu tăng tiến.
→ Tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự trường tồn của cái đẹp và thiên nhiên.
  • Tạo giọng điệu trang trọng, giàu cảm xúc.
  • Làm cho lập luận thêm sâu sắc, thuyết phục.

Câu 5.
→ Kiến giải cá nhân:
Người viết cho rằng khổ thơ thứ tư không chỉ nói về thiên nhiên mà còn thể hiện khát vọng sống, cống hiến và hòa nhập của con người vào cuộc đời.

→ Ý kiến của em: Đồng tình, vì khổ thơ không chỉ miêu tả vẻ đẹp mà còn gửi gắm lí tưởng sống đẹp, sống có ích


(4 điểm) Đọc văn bản sau: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Bi kịch về cái đẹp bị bức tử Đoàn Minh Tâm      (1) Trong các nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là tác giả có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử. Các tác phẩm của ông về đề tài này tái hiện những cột mốc lịch sử quan trọng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tiểu thuyết "Đêm hội Long Trì"...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Bi kịch về cái đẹp bị bức tử

Đoàn Minh Tâm

     (1) Trong các nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là tác giả có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử. Các tác phẩm của ông về đề tài này tái hiện những cột mốc lịch sử quan trọng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tiểu thuyết "Đêm hội Long Trì" viết về những ngày đất nước chìm trong đêm tối đau thương bởi sự hèn yếu và nhiễu nhương bởi tay một người đàn bà có nhan sắc khuynh thành làm chúa Trịnh mê đắm đến mụ mị và đứa em trời đánh của mình: Tuyên phi Đặng Thị Huệ cùng “cậu trời” Đặng Mậu Lân. Tác phẩm "Lá cờ thêu sáu chữ vàng" đưa các bạn đọc (nhất là các em thiếu nhi) ngược dòng thời gian về với triều đại nhà Trần, với người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản hiên ngang, tay bóp nát quả cam, tay phất cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” xin đức thượng hoàng cho cầm quân đánh giặc. Tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô lại là khúc tráng ca ngợi ca người Hà Nội quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh trong ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vào mùa đông năm 1946. Còn với vở bi kịch "Vũ Như Tô", nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lại khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm quằn quại dưới sự bạo tàn của Lê Tương Dực thông qua hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữa cõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô. Thông qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và bi kịch của họ, bi kịch cái đẹp bị lợi dụng. Bi kịch ấy được tập trung cao nhất trong hồi V - hồi kết của vở kịch: "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài".

     (2) Xuyên xuốt vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài như một hiện thân của cái đẹp. Người nghệ sĩ mong muốn tạo tác nên một tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửu nhằm “tô điểm cho đất nước, đem hết tài ra xây cho giống nòi một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công”. Đó là cái đẹp thuần khiết của nghệ thuật, nhằm phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước, có giá trị tôn vinh người Việt. Nhưng đáng tiếc, cái đẹp mà Vũ Như Tô mong muốn ấy đã bị lợi dụng và hoen ố bởi những dục vọng thấp hèn và toan tính chính trị của người đời. Trong các hồi trước, chúng ta thấy cái đẹp đã lần lượt phải chịu những oan khuất như bị tha hóa (Lê Tương Dực chỉ coi Cửu Trùng Đài là chốn an chơi hưởng lạc chứ không phải là công trình nghệ thuật để lại cho muôn đời sau như mong muốn của Vũ Như Tô), hiểu lầm (Nhân dân coi Cửu Trùng Đài là cội nguồn gây nên đau khổ của họ chứ không phải là chính sách hà khắc của triều đình phong kiến đương thời) và lợi dụng (Trịnh Duy Sản dùng Cửu Trùng Đài như công cụ thỗi bùng lên những uất ức trong lòng dân chúng, tạo nên một thời thế hỗn loạn để thuận tiện cho âm mưu giết vua đoạt quyền của mình). Đến hồi kết Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, khi tất cả những bức xúc, những mâu thuẫn không thể điều hòa được ấy được dồn nén và bung ra một cách mạnh mẽ nhất, tất yếu cái đẹp phải gánh chịu số phận nghiệt ngã đó là sự bức tử. Chỉ trong hồi cuối này, chúng ta thấy thông qua hàng loạt những thủ pháp kịch độc đáo, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã dụng công lột tả năm lần cái đẹp bị bức tử một cách đầy cay đắng.

     (3) Thứ nhất, bức tử về quan niệm. Cửu Trùng Đài trong con mắt quân khởi loạn không phải là công trình thế kỷ, trường tồn cùng hóa công và Vũ Như Tô không phải là “nguyên khí của quốc gia” để phải trân trọng, kính phục. Với bọn chúng và tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động, Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô chỉ là những thứ, những kẻ làm “hao hụt công khố, để dân gian lầm than”, khiến cho “mấy nghìn người chết... mẹ mất con, vợ mất chồng”. Sự bức tử về quan niệm này là kết quả của sự tích tụ, dồn nén những oan khuất mà cái đẹp phải chịu trong các hồi trước như chúng tôi đã đề cập ở trên. Và khi tất cả những quá trình ấy được đẩy lên đến ranh giới cuối cùng thì việc cái đẹp bị bức tử cũng là điều tất yếu. Cái chết của cái đẹp đã giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nêu bật lên tầm quan trọng của việc điều hòa giữa việc phục vụ đời sống dân sinh và khát vọng vươn lên chiếm giữ đỉnh cao bằng mọi giá của nghệ thuật. Nếu thiên về dân sinh, nghệ thuật sẽ không còn là chính mình. Nhưng nếu chỉ biết đến bản thân mình, nghệ thuật rất có thể lại là hóa thân của cái ác.

     (4) Thứ hai, bức tử về sự thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ. Tấm lòng biệt nhãn liên tài mà Đan Thiềm dành cho Vũ Như Tô đã bị các cung nữ, Kim Phượng và quân khởi loạn vu khống gán ghép cho tội “tư thông” - một tội danh xúc phạm nặng nề đến nhân cách con người. Hành động cầu xin tha mạng cho Vũ Như Tô vì “Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm" của Đan Thiềm bị coi là lời xin của con “dâm phụ” cho kẻ “gian phu”. Thật đau đớn và chua xót cho một tấm lòng “vì thiên hạ” mà chịu nỗi oan tày đình như thế. Nếu Đan Thiềm - trong giây phút tính mạng bản thân gặp nguy hiểm - mà “trở mặt” hùa về phe cung nữ và Kim Phượng thì chắc nàng đã không bị vu khống cho tội danh ghê gớm như vậy. Rõ ràng ở đây mọi sự chia sẻ, cảm thông và thấu hiểu với cái đẹp đã bị loại trừ một cách tàn bạo, không chút thương tiếc.

     (5) Thứ ba, bức tử về sự thanh minh. Cho đến tận phút giây nguy nan nhất, Vũ Như Tô vẫn muốn đến gặp An Hòa Hầu để “phân trần, để giảng giải” về tầm quan trọng của Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô tin tưởng rằng Nguyễn Hoằng Dụ thấu hiểu và cho mình hoàn thành nốt “Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở”. Nhưng đáp lại những lời đề nghị tha thiết, đầy chân thành ấy là những tràng cười ầm lên, là những lời xỉ vả và những cái tát vào miệng Vũ Như Tô của quân khởi loạn. Ở đây, cái đẹp đã bị tước đi quyền thanh minh cho bản thân mình.

     (6) Thứ tư, bức tử về vật chất. Cửu Trùng Đài, hiện thân của cái đẹp sau cùng đã thành đống tro tàn trước mệnh lệnh phóng hỏa của An Hòa Hầu. Công trình hứa hẹn là kì công của con người đã thành tro bụi trước sự bạo tàn trong vui vẻ đáng ngạc nhiên của con người. Sự sụp đổ của Cửu Trùng Đài là sự biến mất vĩnh viễn sự hiện hữu của cái đẹp. Cửu Trùng Đài giờ chỉ được lưu giữ trong ký ức, trong nỗi hoài niệm của những con người nhận ra được giá trị đích thực của cái đẹp.

     (7) Thứ năm, bức tử về con người nghệ sĩ. Bị hiểu lầm về mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài, người tri âm tri kỷ cũng mất, không có cơ hội thanh minh, và quan trọng nhất là công trình thể hiện ước mơ, hoài bão của cả đời người bị thiêu rụi... sau tất cả những sự chà đạp, những tổn thương ấy, việc người nghệ sĩ Vũ Như Tô bị hay mong muốn đưa ra pháp trường cũng là điều dễ hiểu. Cái chết của Vũ Như Tô là nỗi đau cuối cùng và lớn nhất về cái đẹp bị bức tử một cách toàn diện.

     (8) "Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.". Lời đề tựa của vở kịch giúp chúng ta thấy ấm lòng. Hóa ra, cái đẹp dẫu phải chịu sự bức tử ghê gớm đến nhường nào thì vẫn mãi trường tồn. Người đương thời không hiểu thì hậu thế sẽ hiểu. Lê Tương Dực, An Hòa Hầu và người dân Thăng Long không hiểu Vũ Như Tô thì Nguyễn Huy Tưởng và thế hệ ngày nay hiểu ông, trân trọng tài năng và tâm huyết của ông đối với sự nghiệp điểm tô non sông nước nhà. Dẫu thế nào đi chăng nữa, cái đẹp cuối cùng sẽ hoàn thành sứ mệnh cao cả “cứu rỗi thế giới” như lời văn hào Dostoevsky. Đây có lẽ mới là thông điệp chính của vở bi kịch "Vũ Như Tô".

(Đăng trên tạp chí Tao Đàn, ngày 26/04/2020)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Mục đích của người viết qua văn bản này là gì?

Câu 3. Nhận xét về hệ thống luận điểm của văn bản.

Câu 4. Dẫn ra một chi tiết thể hiện cách trình bày khách quan và một chi tiết thể hiện cách trình bày chủ quan trong đoạn văn (4). Nêu tác dụng của hai cách trình bày đó trong văn bản.

Câu 5. Theo em, Vũ Như Tô đáng thương hay đáng trách? Vì sao?

2

Câu 1. Luận đề chính của đoạn văn bản này tập trung vào việc khẳng định giá trị và vai trò của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt là qua việc ông thiên về đề tài lịch sử và cách ông khắc họa những bi kịch lớn của dân tộc, điển hình là vở kịch "Vĩnh biệt Cửu trùng đài". Văn bản giới thiệu Nguyễn Huy Tưởng là tác giả lớn có những tác phẩm đồ sộ về đề tài lịch sử, nơi ông tái hiện những cột mốc quan trọng và những đau thương, mâu thuẫn sâu sắc của quá khứ dân tộc, từ đó làm nổi bật tính thời đại và tư tưởng nghệ thuật của ông.

Câu 2:

Mục đích cốt lõi của người viết đoạn văn này là giới thiệu và đánh giá khái quát về phong cách sáng tác và di sản văn học của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời dẫn dắt người đọc đến với bi kịch trung tâm của vở kịch "Vĩnh biệt Cửu trùng đài", qua đó thu hút sự chú ý và khơi gợi sự quan tâm tìm hiểu về tác phẩm này. Bằng cách liệt kê các tác phẩm tiêu biểu và đoạn trích kịch tính, tác giả muốn nhấn mạnh sự uyên bác, cái nhìn sâu sắc và tấm lòng trăn trở của Nguyễn Huy Tưởng đối với vận mệnh dân tộc.

Câu 3:

Hệ thống luận điểm trong đoạn văn được xây dựng một cách rành mạch và logic. Luận điểm bao quát mở đầu là việc định danh Nguyễn Huy Tưởng là tác giả lớn chuyên viết về lịch sử. Tiếp theo, các luận điểm chi tiết được đưa ra để minh chứng: thứ nhất là các tác phẩm lớn như "Đêm hội Long Trì" phản ánh sự suy vong của đất nước; thứ hai là việc phân tích sâu vào "Vĩnh biệt Cửu trùng đài" với hình tượng trung tâm là Vũ Như Tô. Sự kết hợp giữa khái quát và cụ thể này giúp người đọc nhanh chóng nắm bắt được định hướng tư tưởng và chủ đề chính mà tác giả muốn truyền tải qua văn bản giới thiệu này.

Câu 4

Chi tiết thể hiện cách trình bày khách quan là: "Tiểu thuyết 'Đêm hội Long Trì' viết về những ngày đất nước chìm trong đêm tối đau thương bởi sự hèn yếu và nhiều nhường bởi tay một người đàn bà có nhan sắc khuynh thành làm chúa Trịnh mê đắm đến mụ mị...". Đây là lời giới thiệu về nội dung tác phẩm mang tính thông tin. Ngược lại, chi tiết thể hiện cách trình bày chủ quan là: "...với người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản hiên ngang, tay bóp nát quả cam, tay phất cao lá cờ 'Phá cường địch, bảo hoàng ân' xin được thưa chuyện...". Việc thêm vào các tính từ cảm thán như "anh hùng hiên ngang" thể hiện sự ngưỡng mộ và đánh giá tích cực của người viết về nhân vật. Tác dụng của hai cách trình bày này là tạo nên sự cân bằng: khách quan giúp người đọc tin tưởng vào tính xác thực của thông tin, còn chủ quan (thông qua việc nhấn mạnh cái đẹp, cái anh hùng) giúp khơi gợi cảm xúc và sự đồng cảm sâu sắc với đề tài lịch sử mà tác giả đang đề cập.

Câu 5:

Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch kinh điển, vì vậy anh ta vừa đáng thương lại vừa đáng trách. Anh ta đáng thương vì là một thiên tài nghệ thuật ("câu trời", "lá cờ thêu sáu chữ vàng") nhưng lại khao khát cái đẹp phi thực tế, không nhận ra hoàn cảnh đất nước đang lâm nguy, dẫn đến việc bị vua Lê Tương Dực lợi dụng và cuối cùng bị nhân dân căm ghét, xử tử. Anh ta đáng trách vì sự ngây thơ về chính trị và cái tôi nghệ thuật quá lớn đã khiến ông xa rời thực tế, không thể dung hòa giữa cái đẹp tuyệt mỹ (Cửu Trùng Đài) và thực tại khốc liệt của nhân dân. Sự xung đột giữa lý tưởng cá nhân và vận mệnh dân tộc đã đẩy Vũ Như Tô vào bi kịch không lối thoát, nhưng sai lầm của ông xuất phát từ sự say mê cái đẹp chứ không phải ác ý, khiến nhân vật trở nên ám ảnh và đáng suy ngẫm.



Câu 1.
→ Luận đề của văn bản:
Đánh giá nhân vật Vũ Như Tô và bi kịch của ông trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.

Câu 2.
→ Mục đích của người viết:

  • Làm rõ giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
  • Bày tỏ quan điểm về nhân vật Vũ Như Tô (đáng thương hay đáng trách).
  • Gợi cho người đọc suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái đẹp và cuộc sống con người.

Câu 3.
→ Hệ thống luận điểm:

  • Rõ ràng, logic, chặt chẽ.
  • Các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí: từ giới thiệu vấn đề → phân tích → đánh giá.
  • Có sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng, giúp tăng tính thuyết phục.

Câu 4.

  • Chi tiết khách quan: Ví dụ: các sự kiện trong tác phẩm như việc Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài, bị nhân dân phản đối.
  • Chi tiết chủ quan: Nhận định của người viết về tính cách, bi kịch của Vũ Như Tô.

→ Tác dụng:

  • Cách trình bày khách quan giúp cung cấp cơ sở thực tế, tạo độ tin cậy.
  • Cách trình bày chủ quan giúp bộc lộ quan điểm, cảm xúc, làm bài viết sâu sắc hơn.
    → Hai cách kết hợp giúp lập luận chặt chẽ và thuyết phục.

Câu 5.
→ Theo em, Vũ Như Tô vừa đáng thương vừa đáng trách.

  • Đáng thương vì ông có tài năng, khát vọng sáng tạo nghệ thuật lớn lao nhưng không được thấu hiểu, cuối cùng rơi vào bi kịch.
  • Đáng trách vì ông quá say mê cái đẹp, không quan tâm đến đời sống khổ cực của nhân dân, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
    → Qua đó cho thấy bài học: nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống con người.


(4 điểm) Đọc văn bản sau: Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương ThS Đinh Văn Thiện      (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

ThS Đinh Văn Thiện

     (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra sẽ rất hạnh phúc. Hành động ghen tuông của người chồng đã đẩy người vợ đến chỗ uất ức quá phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng tỏ sự trong trắng thuỷ chung của mình. Từ góc độ đề tài, truyện không có gì mới mẻ. Tuy nhiên truyện vẫn rất hấp dẫn bởi đã xây dựng được một tình huống rất độc đáo. Đó là tình huống, sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải theo lệnh của triều đình, người chồng may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con của mình trong tình cha con đằm thắm, nào ngờ chính đứa con lại nói: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít”. Đứa con còn kể tiếp: “Trước đây thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người vợ nói thế nào người chồng cũng không tin. Hàng xóm phân giải mọi điều về sự hiếu thảo, thuỷ chung của người vợ ở nhà, người chồng cũng chỉ cho là người vợ do khéo mồm khéo miệng mà được hàng xóm bao che. Tình huống ấy buộc người đọc phải theo dõi câu chuyện đến tận cùng xem kết cục là vì sao lại như vậy. Vì chuyện ghen tuông xưa nay vẫn có đến một ngàn lẻ một cách lí giải khác nhau, làm sao cắt nghĩa hết được! Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta nói: “Cha Đản đấy”.

     (2) Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ. Trò chơi này hết sức thú vị, vì từ hai bàn tay người chơi có thể tạo ra bao nhiêu hình thù vừa quen thuộc vừa kì lạ khác nhau, dựa vào tài khéo léo, óc tưởng tượng của cả người chơi và người xem. Trong trò chơi này ai cũng là người chơi, ai cũng là người xem nên có cái vui nhộn của không khí dân chủ và bình đẳng. Người vợ, vì chồng vắng nhà dằng dặc như thế, tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy. Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con. Gia đình, vì thế, lúc nào cũng cảm thấy sum vầy đông đủ, sự trống trải đã được khỏa lấp bằng hình ảnh của cái bóng êm đềm.

     (3) Từ một trò chơi dân dã, hết sức phổ biến, người kể chuyện đã đẩy lên thành một cái cớ để xây dựng thành một tình huống truyện độc đáo. Đó chính là sự tài hoa, sâu sắc của người kể chuyện. Cái bóng chỉ là cái cớ để xây dựng tình huống, là một chi tiết nghệ thuật, sao chúng ta lại gọi nó là “cái bóng oan khiên"? Đừng gán cho nó cái giá trị tư tưởng vốn không phải của nó mà quên mất cái đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của người xưa. Trò chơi ấy cũng còn cho thấy tấm lòng của người vợ nhớ chồng da diết nhường nào, thương con đến nhường nào. Người vợ làm sao có thể nghĩ tới việc sau này đứa con sẽ nói với người cha của nó những câu như ta đã thấy để tránh né câu chuyện vui đùa mà tình nghĩa và xúc động kia. Vì thế làm sao ta lại có thể phán xét rằng chính người vợ cũng có lỗi về cái chết của nàng một khi biết tính chồng hay đa nghi lại còn đùa với con như vậy. Lỗi và tội ở đây là cái sự ghen tuông đến mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.

     (4) Cũng chính vì mục đích sâu xa là lên án một cách gay gắt, quyết liệt thói ghen tuông (chứ không phải để lên án chiến tranh phong kiến loạn lạc, như một số nhận xét thường thấy) mà Nguyễn Dữ đã viết thêm đoạn kết (không có trong văn bản truyện cổ dân gian) có tính chất “thần kỳ”. Đoạn kết ấy không phải chỉ để câu chuyện thêm hấp dẫn! Đó là một kết thúc “mở” có ý nghĩa trả lại cho Vũ Nương sự trong sạch của một tấm lòng thuỷ chung, trong sáng, đồng thời thể hiện một thái độ bao dung đối với sai lầm của người chồng và của chính nàng mà thôi.

     (5) Truyện đã không để Vũ Nương về với chồng con. Điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học mà truyện đặt ra. Người bị oan, cuộc đời có thể giải oan giúp họ. Còn hậu quả của những sai lầm do chính con người gây ra thì khôn lường và không phải bao giờ cũng khắc phục được. Đoạn kết của truyện đã xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa bởi cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi, chỉ do thói ghen tuông của người cha...

(Văn học và Tuổi trẻ, số 7 (190), năm 2009)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản.

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

2

Câu 1. Luận đề của văn bản là làm rõ sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật của truyện Chuyện người con gái Nam Xương, đặc biệt ở cách xây dựng tình huống truyện và chi tiết “cái bóng”. Câu 2. Theo người viết, truyện hấp dẫn ở tình huống người chồng sau nhiều năm đi lính trở về, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa con về một “người cha khác” mà sinh nghi ngờ, ghen tuông, đẩy người vợ đến bi kịch. Đến cuối cùng, sự thật được làm sáng tỏ khi đứa trẻ chỉ vào cái bóng và nhận đó là cha. Câu 3. Việc nhắc đến tình huống truyện ngay ở phần mở đầu nhằm giới thiệu yếu tố then chốt tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời định hướng nội dung phân tích và thu hút sự chú ý của người đọc. Câu 4. Một chi tiết được trình bày khách quan là việc người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết trong truyện. Một chi tiết được trình bày chủ quan là những nhận xét như “hết sức tự nhiên”, “lấy từ chính đời sống thường ngày”. Hai cách trình bày này có mối quan hệ bổ sung cho nhau, trong đó cách trình bày khách quan giúp thông tin rõ ràng, còn cách trình bày chủ quan giúp bộc lộ quan điểm, làm nổi bật giá trị nghệ thuật. Câu 5. Chi tiết “cái bóng” được coi là đặc sắc vì vừa gần gũi với đời sống vừa giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên tình huống truyện. Nó là nguyên nhân dẫn đến hiểu lầm và bi kịch, đồng thời cũng là yếu tố giúp giải tỏa oan khuất. Qua đó thể hiện tài năng xây dựng tình huống và sáng tạo nghệ thuật của tác giả.

Câu 1.
→ Luận đề của văn bản:
Giá trị đặc sắc của tình huống truyện và chi tiết “cái bóng” trong Chuyện người con gái Nam Xương.

Câu 2.
→ Tình huống truyện độc đáo:
Hiểu lầm của Trương Sinh về “cái bóng” dẫn đến việc nghi oan cho Vũ Nương, đẩy câu chuyện đến bi kịch.

Câu 3.
→ Mục đích:

  • Giới thiệu và dẫn dắt vấn đề nghị luận.
  • Tạo sự chú ý, làm nổi bật vai trò của tình huống truyện trong việc thể hiện giá trị tác phẩm.

Câu 4.

  • Chi tiết khách quan: Ví dụ: việc Trương Sinh nghe con nói về “người đàn ông đêm nào cũng đến”.
  • Chi tiết chủ quan: Nhận định của người viết về sự vô lí, oan khuất của Vũ Nương.

→ Nhận xét:
Cách trình bày khách quan và chủ quan kết hợp chặt chẽ, trong đó chi tiết khách quan làm cơ sở thực tế, còn ý kiến chủ quan giúp phân tích, đánh giá và làm rõ vấn đề, tăng sức thuyết phục.

Câu 5.
→ Chi tiết “cái bóng” được xem là đặc sắc vì:

  • nguyên nhân trực tiếp tạo nên xung đột và bi kịch của truyện.
  • Góp phần khắc họa số phận oan khuất của Vũ Nương.
  • Tạo tình huống bất ngờ, giàu kịch tính.
  • Mang ý nghĩa biểu tượng, làm nổi bật giá trị nhân đạo và nghệ thuật của tác phẩm.


(4 điểm) Đọc văn bản sau: Lớp VIII Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến. LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào. (Nội giám ra.) TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế. LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc. TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng, quả có thế. LÊ TƯƠNG DỰC -...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

Lớp VIII

Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến.

LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào.

(Nội giám ra.)

TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc.

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng, quả có thế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã phó mặc việc nhớn việc nhỏ cho triều đình, ngươi chắc cũng đã biết. Trẫm còn bận việc Cửu Trùng Đài...

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng làm vua một nước, phải để ý đến mọi việc, phó thác làm sao cho triều đình được. Hoàng thượng không nên quá tin ở các quan. Họ nói rằng thiên hạ thái bình, thực ra phải nói: thiên hạ sắp loạn.

LÊ TƯƠNG DỰC - Vì cớ sao?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên bãi ngay việc xây Cửu Trùng Đài.

KIM PHƯỢNG - Bãi Cửu Trùng Đài!

TRỊNH DUY SẢN - Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn loạn lạc. Hoàng thượng là bậc thanh minh, xin nghĩ lại.

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi hãy lui ra, trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai nữa, lui ra.

TRỊNH DUY SẢN (nói to) - Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!

LÊ TƯƠNG DỰC - Lại mấy đám giặc cỏ chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng không biết rõ. Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã sai tướng đi đánh dẹp.

TRỊNH DUY SẢN - Còn một đám giặc nữa, dân chúng theo có hàng vạn người, thanh thế lừng lẫy...

LÊ TƯƠNG DỰC - Lũ Trần Cao chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng chính vậy. Trần Cao thấy sấm nổi ở phương đông có thiên tử khí, cùng đồ đảng đánh lấy đất Thụy Dương, Đông Triều, tự xưng là Đế Thích giáng sinh, nghiễm nhiên lập một triều đình riêng trong đất Việt... Hiện đã kéo quân đến Đế đô, chực hãm kinh thành.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm phải đợi đến ngươi tâu bầy, thì dễ lũ sương cuồng Trần Cao đã làm cỏ kinh thành. Ngươi cứ yên tâm. Trẫm đã sai An Hòa hầu Nguyễn Hoàng Du sang đóng quân ở Bồ Đề chống giữ, giặc đã chạy về Châu Sơn. Kinh thành này vững như bàn thạch.

TRỊNH DUY SẢN - Đã đủ đâu, còn các nơi?

LÊ TƯƠNG DỰC - Dẹp xong cả.

TRỊNH DUY SẢN - Cũng không hết. Dẹp bọn này, bọn khác lại nổi như đầu Phạm Nhan, bệnh nặng phải trừ từ rễ. Giặc giã nổi lên vì dân gian oán triều đình. Chính sự đổ nát...

KIM PHƯỢNG - Nguyên Quận công ăn nói lạ lùng!

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi không nể mặt trẫm sao? Người trung thần không ai nói thế. Trẫm rộng lượng, vua khác thì ngươi đã không toàn tính mệnh.

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên xét cho lòng thành thực của hạ thần. Chính sự đổ nát lắm rồi. Muốn cho nước yên thì phải thể lòng dân, mà dân bây giờ ai cũng oán Vũ Như Tô, mấy lũ... cung nữ.

KIM PHƯỢNG (quỳ xuống) - Trời ơi! Thần thiếp có tội gì? (Nắm vạt áo long bào khóc).

LÊ TƯƠNG DỰC - Ái khanh đứng dậy. Ái khanh không có tội gì. (Nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ). Ngươi lui ra, ngươi lui ra. Cung nữ là phận liễu bồ không hề bước chân ra khỏi Tử cấm thành, hỏi họ có tội gì? Có ai dọa làm tội thê thiếp ngươi không, Trịnh Duy Sản?

TRỊNH DUY SẢN - Chính họ đưa Hoàng thượng vào con đường tửu sắc, con đường xa xỉ. Chính vì muốn đẹp lòng họ mà Hoàng thượng cho xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là ý trẫm. Ngươi không được nói nữa.

TRỊNH DUY SẢN - Còn như Vũ Như Tô nữa. Nó đã bày vẽ ra Cửu Trùng Đài, hao tiền tốn của vì nó, sưu cao thuế nặng vì nó, triều đình đổ nát, giặc giã như ong là vì nó. Kiệt Trụ mất nước chỉ vì cái bệnh xây cung điện. Xin Hoàng thượng mau mau tỉnh ngộ, tu tỉnh thân mình, xa gái đẹp, đuổi Vũ Như Tô, học thói thanh liêm, thương dân như con kẻo họa đến thân.

LÊ TƯƠNG DỰC - Duy Sản, ngươi bước ngay. Kẻo cái công hãn mã của ngươi trẫm không kể nữa. Trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?

TRỊNH DUY SẢN - Xin Hoàng thượng nghe lời hạ thần đuổi cung nữ, chém Vũ Như Tô... (nắm lấy áo vua).

LÊ TƯƠNG DỰC - Lão ương gàn, quân hủ nho... (rút kiếm) Bước!

TRỊNH DUY SẢN - Hạ thần xin chết về tay Hoàng thượng còn hơn là trông thấy ngày nhà Lê mất nghiệp (quỳ xuống vươn cổ).

(Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Tóm tắt: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm 5 hồi, viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vở kịch xoay quanh cuộc đời nhân vật chính - Vũ Như Tô - một kiến trúc sư tài năng. Lê Tương Dực là một hôn quân, suốt ngày say mê tửu sắc, ăn chơi sa đọa, bỏ bê việc nước. Hắn muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi cùng đám cung nữ. Vũ Như Tô vì quan niệm nghệ thuật thuần khiết, thanh cao đã đưa gia đình đi chốn nhưng vẫn không thể thoát khỏi tay sai của Lê Tương Dực. Khi bị giải vào cung, ông được cung nữ Đam Thiềm thuyết phục và đồng ý xây Cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí vào việc xây dựng cho đất nước một công trình kì vĩ, “tranh tinh xảo với hóa công”, để nước ta không hề thua kém với các nước láng giềng. Thế nhưng, ông đã vô tình gây ra biết bao tai họa cho người dân: Thuế khóa nặng nề, thợ giỏi bị bắt vào cung xây đài, tróc nã, hành hạ những người chống đối, biết bao người chết vì xây Cửu Trùng Đài khiến lòng dân oán hận. Quận công Trịnh Duy Sản đã nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng Lê Tương Dực vẫn chấp mê bất ngộ. Nhân lúc tình hình rối ren, ông đã cầm đầu phe đối lập trong triều, dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài.

Câu 1. Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc nào?

Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích trên.

Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

Câu 5. Từ đoạn trích, em có nhận xét gì về bối cảnh xã hội lúc bấy giờ?

1
11 tháng 2

Câu 1
Đoạn trích tái hiện lại cuộc đối thoại gay gắt giữa Trịnh Duy Sản và vua Lê Tương Dực khi Trịnh Duy Sản vào cung can gián, yêu cầu bãi bỏ việc xây dựng Cửu Trùng Đài, chém Vũ Như Tô và đuổi cung nữ vì lo ngại đất nước rơi vào loạn lạc.

Câu 2
Một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích là lời của Lê Tương Dực: Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp?

Câu 3
Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực như cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm đã góp phần khắc họa rõ nét tính cách của nhà vua. Qua đó, nhân vật hiện lên là một hôn quân nóng nảy, độc đoán, tự cao, không chịu lắng nghe lời can gián và sẵn sàng dùng bạo lực để trấn áp. Các chỉ dẫn này làm tăng kịch tính cho tình huống và giúp người đọc, người xem hình dung rõ hơn diễn biến tâm lí nhân vật.

Câu 4
Đoạn văn sử dụng biện pháp liệt kê qua hàng loạt địa danh và tên các cuộc nổi loạn như Kinh Bắc, Sơn Tây, Tam Đảo cùng những hành động như giết, hãm hiếp, đốt phá. Biện pháp này làm nổi bật tình trạng giặc giã lan rộng khắp nơi, mức độ nghiêm trọng và hỗn loạn của xã hội. Đồng thời, việc liệt kê các hậu quả như ruộng nương bỏ hoang, dân không an cư lạc nghiệp, tiếng oán thán nổi lên đầy trời đã nhấn mạnh nỗi khổ của nhân dân, tạo sức thuyết phục mạnh mẽ cho lời can gián của Trịnh Duy Sản.

Câu 5
Từ đoạn trích có thể thấy bối cảnh xã hội lúc bấy giờ vô cùng rối ren, loạn lạc. Triều đình mục nát, vua sa đọa, mải mê xây dựng công trình xa xỉ, bỏ bê chính sự. Nhân dân chịu sưu cao thuế nặng, đời sống khổ cực, oán thán khắp nơi. Giặc giã nổi lên liên tiếp, nguy cơ mất nước cận kề. Đó là một xã hội khủng hoảng toàn diện cả về chính trị lẫn đời sống dân sinh.