K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đề thi đánh giá năng lực

4 tháng 2 2025

tk ạ

Văn bản "Thuế máu" của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một tác phẩm tố cáo đanh thép chế độ thực dân Pháp và những chính sách áp bức, bóc lột của chúng đối với người dân thuộc địa. Qua văn bản này, chúng ta có thể học tập được nhiều điều từ tấm gương Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đặc biệt là: 1. Tinh thần yêu nước nồng nàn và lòng căm phẫn giặc cao độ: Ngòi bút của Nguyễn Ái Quốc tràn đầy lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Người đã phơi bày bộ mặt thật của chế độ thực dân, lột trần những hành động tàn bạo, bất nhân của chúng đối với người dân thuộc địa. Tác phẩm thể hiện rõ lòng căm phẫn giặc cao độ của tác giả trước những đau khổ, mất mát mà người dân phải gánh chịu dưới ách thống trị của thực dân. 2. Ý chí đấu tranh kiên cường và lòng dũng cảm phi thường: Dù sống và hoạt động trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nguy hiểm, Nguyễn Ái Quốc vẫn không hề nao núng. Người luôn giữ vững ý chí đấu tranh kiên cường, không khoan nhượng trước kẻ thù. Tác phẩm "Thuế máu" là minh chứng cho lòng dũng cảm phi thường của Nguyễn Ái Quốc. Người đã không ngại nguy hiểm, đứng lên vạch trần sự thật, thức tỉnh đồng bào và kêu gọi mọi người cùng tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. 3. Tinh thần tự học, sáng tạo và tầm nhìn xa trông rộng: Nguyễn Ái Quốc là tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự nghiên cứu. Người đã không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức để nâng cao trình độ lý luận, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Tác phẩm "Thuế máu" thể hiện rõ tầm nhìn xa trông rộng của Nguyễn Ái Quốc. Người đã sớm nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc, dự đoán đúng hướng đi của cách mạng Việt Nam và thế giới. 4. Phong cách viết văn sắc sảo, độc đáo và đầy sức thuyết phục: Văn phong của Nguyễn Ái Quốc rất sắc sảo, độc đáo, giàu hình ảnh và sức biểu cảm. Người đã sử dụng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu để truyền tải những nội dung sâu sắc, ý nghĩa. Tác phẩm "Thuế máu" có sức thuyết phục mạnh mẽ, lay động trái tim của hàng triệu người đọc, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí đấu tranh của họ. 5. Tấm lòng nhân ái bao la và tinh thần quốc tế cao cả: Nguyễn Ái Quốc là người có tấm lòng nhân ái bao la, luôn quan tâm đến số phận của những người nghèo khổ, bị áp bức trên khắp thế giới. Tác phẩm "Thuế máu" thể hiện tinh thần quốc tế cao cả của Nguyễn Ái Quốc. Người đã kêu gọi các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại, cùng nhau đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Tóm lại, văn bản "Thuế máu" là một tác phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa to lớn. Qua tác phẩm này, chúng ta có thể học tập được rất nhiều điều từ tấm gương Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh kiên cường, tinh thần tự học, sáng tạo, tầm nhìn xa trông rộng, phong cách viết văn sắc sảo, độc đáo và tấm lòng nhân ái bao la.

12 tháng 2

Câu 1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

Câu 2 Đoạn thơ thể hiện khát vọng sống đẹp, sống có ích và sẵn sàng hi sinh vì quê hương, đất nước

Câu 3 Biện pháp tu từ điệp ngữ ở cụm từ Nếu là và tôi sẽ, có tác dụng nhấn mạnh ước nguyện tha thiết, lí tưởng cao đẹp và tinh thần tự nguyện cống hiến của tác giả

Câu 4 Qua đoạn thơ, em rút ra bài học rằng mỗi người cần sống có lí tưởng, biết yêu quê hương, sẵn sàng cống hiến sức mình cho đất nước và sống một cuộc đời có ý nghĩa

Bạc là kim loại đứng sau đồng và nhôm trong dãy hoạt động hóa học, nên nhôm và đồng sẽ khử ion bạc trong dung dịch. Phương trình hóa học:  3AgNO3+Al→Al(NO3)3+3Ag3𝐴𝑔𝑁𝑂3+𝐴𝑙→𝐴𝑙(𝑁𝑂3)3+3𝐴𝑔

Phương pháp hóa học là hòa tan hỗn hợp bột vào dung dịch bạc nitrat (AgNO3)dư, sau đó lọc lấy phần chất rắn không tan thu được bạc tinh khiết.

30 tháng 1 2025

Nguyên liệu của gang và thép là quặng sắt (thường là quặng hematite) và carbon. Với gang còn một số nguyên tố là Mn, Si,... . Thép có một số nguyên tố khác là khí Oxygen, C, P, Si, Mn,... .

Gang có hàm lượng carbon là 2-5%, Thép có hàm lượng carbon là \(\ge\) 2%

24 tháng 1

Nguyên liệu của gang và thép là quặng sắt (thường là quặng hematite) và carbon. Với gang còn một số nguyên tố là Mn, Si,... . Thép có một số nguyên tố khác là khí Oxygen, C, P, Si, Mn,... . Gang có hàm lượng carbon là 2-5%, Thép có hàm lượng carbon là ≥ 2%

**Đề thi Ngữ Văn lớp 12** ### **Phần I: Đọc hiểu (3 điểm)** Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: *"Khi con người biết sống chân thành và yêu thương, họ sẽ tìm thấy ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng, mà đo bằng cách ta lan tỏa yêu thương, bằng những giá trị tốt đẹp mà ta để lại cho người khác."* **Câu 1 (0,5 điểm):**...
Đọc tiếp

**Đề thi Ngữ Văn lớp 12** ### **Phần I: Đọc hiểu (3 điểm)** Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: *"Khi con người biết sống chân thành và yêu thương, họ sẽ tìm thấy ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng, mà đo bằng cách ta lan tỏa yêu thương, bằng những giá trị tốt đẹp mà ta để lại cho người khác."* **Câu 1 (0,5 điểm):** Đoạn văn trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? **Câu 2 (0,5 điểm):** Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu: "Cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng, mà đo bằng cách ta lan tỏa yêu thương." **Câu 3 (1 điểm):** Theo đoạn văn, ý nghĩa của cuộc sống được thể hiện qua điều gì? **Câu 4 (1 điểm):** Anh/chị có đồng tình với quan điểm "Cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng"? Vì sao? --- ### **Phần II: Làm văn (7 điểm)** **Câu 1 (2 điểm):** Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc lan tỏa yêu thương trong cuộc sống. **Câu 2 (5 điểm):** Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm *Vợ nhặt* (Kim Lân), qua đó làm rõ tấm lòng nhân ái và niềm tin vào con người của nhà văn. --- **Hướng dẫn:** Đề thi tập trung kiểm tra khả năng đọc hiểu, tư duy phản biện, và khả năng viết bài nghị luận của học sinh, đồng thời tích hợp kiến thức văn học trong chương trình lớp 12.

1
22 tháng 1 2025

Phần I:

Câu 1: PTBĐ chính của đoạn văn là nghị luận.

Câu 2: BPTT ẩn dụ "đo"

Câu 3: Ý nghĩa của cuộc sống theo đoạn văn có nghĩa là khi con người ta biết sống chân thành và yêu thương, không quá màng quan trọng tiền bạc mà thay vào đó là tình yêu thương lan toả đến mọi người xung quanh.

Câu 4:

Em không đồng tình với quan điểm: "Cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng".

Vì ở đời, thước đo của tất cả giá trị vật chất xung quanh mình đều có thể đong đếm bằng tiền bạc, gần như quyết định mọi thứ trong xã hội ngày càng phát triển hiện tại. Nếu nói cuộc đời không đo bằng tiền bạc, hay danh vọng, thì người ta sẽ không bao giờ có những đạo lý về vật chất và giá trị của con người xây dựng. Trước hết, kể cả tình yêu thương, khi muốn lan toả một cách thực sự ý nghĩa có giá trị con người ta cần có cho mình giá trị tiền bạc, không chỉ đơn thuần là tình cảm. Tình cảm có thể đong đếm dựa trên giá trị của tiền bạc, và danh vọng cũng vậy. Cuộc đời chính là thước đo của tiền bạc, đích đến trong đời của con người ta là thành công, và thành công chính là một cuộc sống sum vầy hạnh phúc, đạt được ước mơ. Mà cuộc sống viên mãn, không bao giờ thiếu đi giá trị tiền bạc hay danh vọng. Vì vậy, cuộc đời không đo bằng tiền bạc hay danh vọng là một quan điểm không hoàn toàn đúng theo ý kiến của em.

 

Câu 1 (2.0 điểm):           Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.  Câu 2 (4.0 điểm):           Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.                        BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG                      ...
Đọc tiếp

Câu 1 (2.0 điểm):

          Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật. 

Câu 2 (4.0 điểm):

          Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.

                       BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

                       Bên kia sông Đuống

                       Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

                       Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

                       Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

                       Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

                       Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

                       Ruộng ta khô

                       Nhà ta cháy

                       Chó ngộ một đàn

                       Lưỡi dài lê sắc máu

                       Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

                       Mẹ con đàn lợn âm dương

                       Chia lìa trăm ngả

                       Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

                       Bây giờ tan tác về đâu?

(Hoàng Cầm)

 

95
15 tháng 3 2025


Câu 1 ; trong cuộc sống này chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta biết yêu thương vạn vật . Yêu thương vạn vật là yêu những điều nhỏ nhặt bên cạnh chính mình , ta không nên vì nó nhỏ bé mà ghét bỏ nó cũng không nên vì nó to lớn mà sợ hãi nó . Yêu thương vạn vật sẽ dạy cho ta trân trong những gì ta có từ đó chân trọng cuộc sống này giống như hoa hậu nguyễn thúc thùy tiên một người thành công khi còn rất trẻ ở cô chúng ta học được một trong những yếu tố thành công chính là lòng yêu thương từ những điều nhỏ nhất

câu 2 Bên này – bên kia, một dòng sông chia cách hai khoảng trời, chia cách đôi bờ Kinh Bắc một bên là vùng tự do, một bên đã bị giặc chiếm đóng. Cấu trúc “sao nhớ tiếc” “sao xót xa” ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ “sao” như xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hoá như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. “Như rụng bàn tay – một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Bằng những câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và hương vị. Lời giới thiệu “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” hết sức mộc mạc, nó như một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hoá tinh hoa của con người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen... chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ “sáng bừng” được dùng khá độc đáo, nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. “Màu dân tộc” trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng Cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim khói lửa, nhà thơ đã diễn tả nồi đau xót căm hờn xen lẫn sự tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu

Câu thơ đầu giống như câu thơ bản lề làm chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc xâm chiến là những ngày “khủng khiếp” cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gọi tả sự khốc liệt này, hình ảnh “lửa hung tàn” gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thòi là tiếng nói tố cáo phê phán gay gắt chiến tranh. Nếu ở khổ thơ phía trên nhịp thơ đều đặn dàn trải ổn định thì đến khổ thơ này những câu thơ ngôn ngắt nhịp mạnh dồn dập liên tiếp chỉ tội ác chồng chất của kẻ thù cùng với niềm căm thù ngút tròi và nổi đau tột cùng của con người Từ láy “ngùn ngụt” không chi là từ gợi hình chi ngọn lửa mà chính là lòng căm thù của con người bị đốt cháy – những câu thơ của Hoàng Cầm rất giàu sắc thái biểu cảm, bao trùm lên không gian là sự hoang tàn, vắng lạnh, xơ xác, không còn cái vẻ thanh bình, cái nét trù phú tươi tắn. Tất cả chi là một cảnh tượng chia li chết chóc. Chữ kiệt cùng được dùng rất hay – không gian càng trở nên sâu thẳm, nỗi đau được biểu hiện tột cùng. Điều đặc biệt là tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về cuộc sống chia li hoang tàn vẫn được biểu hiện rõ, ông đã mượn hình ảnh nhũng con vật vô tri trong bức tranh Đông Hồ để nói về nỗi đau của con người, đây là một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà thơ Hoàng Cầm. Đằng sau nỗi đau là hình ảnh quê hương Kinh Bắc với những phong tục tập quán, những hội hè, đình đám, được gợi nhắc lại hết sức sống động:

Chỉ bằng vài nét phác hoạ, Hoàng Cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống, những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những nỗi ám ảnh trong Hoàng Cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc. Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Chữ “Có nhớ” đặt ở đầu câu thơ là lời gợi nhắc đầy ám ảnh, hình ảnh “khuôn mặt búp sen” gợi tả khuôn mặt người con gái vừa đoan trang, trong trắng, phúc hậu vừa dịu dàng, và đây cũng là nét vẽ điển hình nhất của người con gái Kinh Bắc nói riêng và của người con gái Việt Nam nói chung. Và gắn liền với hình ảnh “cô hàng xén ràng đen”, đây lại là một phong tục tập quán cổ truyền, một nét vẽ truyền thống người con gái Kinh Bắc. Cái hay nhất của đoạn thơ trên là biện pháp tu từ so sánh giữa nụ cười thiếu nữ Kinh Bắc với ánh nắng mùa thu. Dường như ở đây có một sự giao hoà giữa vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất trời. Nét rạng ngời tươi tắn trong nụ cười cô gái cũng giống với nét rạng ngời tươi tắn của nắng mùa thu chứ không phải cái nắng nóng bỏng gay gắt của mùa hè hay yếu ớt ảm đạm của mùa đông, nắng thu như toả trong nó một sức sống mạnh mẽ. Đến đây người đọc như không còn thấy dấu tích của chiến tranh, bởi vậy câu thơ ẩn chứa một niềm tin tưởng lạc quan của con người. Một không gian Kinh Bắc nhộn nhịp, tấp nập được gợi tả qua một loạt những câu thơ tiếp, hình ảnh người người đông đúc trong một không khí tưng bừng náo nức đã khẳng định một sức sống mạnh mẽ của quê hương Kinh Bắc. Tình yêu quê hương Kinh Bắc tràn đầy trong những vần thơ. Trong hoài niệm của Hoàng Cầm về con người Kinh Bắc có hình ảnh người mẹ:

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm

Những câu thơ đậm màu sắc tả thực. Từ láy “còm cõi” đã diễn tả rất tinh tế vóc dáng khổ hạnh của người mẹ đồng thời chỉ rõ những vất vả, nhọc nhằn, lo toan mà người mẹ phải chịu đựng, trong lòng người đọc như dâng lên sự cảm thương sâu sắc. Gian hàng của người mẹ chẳng có gì, dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy đã hoen vàng. Các từ “dăm”, “vài” là các từ chỉ số nhiều nhưng trong cảm nhận của người đọc, người ta ngỡ như chỉ những thứ hàng hoá ít ỏi, sơ sài của người mẹ, chữ “hoen” được sử dụng rất hay, “hoen” không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo

Tác giả gọi kẻ thù là “lũ quỷ mắt xanh” – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và dã man của kẻ thù, từ láy “trừng trợn” không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, doạ dẫm của kẻ thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc. Không những thế, chữ “chợt” chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu cảm cao “khua” “đạp”, “xì xồ”, “tan”, “gầy teo” diễn tả những hành động dã man liên tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát đầy xúc động:

Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vét máu loang chiều mùa đông

Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu lá đa lác đác trước lều” gợi âm điệu buồn tẻ, rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ “vài ba”, loang được sử dụng rất đắt giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đan...

29 tháng 1

Câu 1 (khoảng 200 chữ) Suy nghĩ về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.



Trong cuộc sống, con người không tồn tại một cách đơn lẻ mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, muôn loài và môi trường xung quanh. Vì thế, yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà còn là trách nhiệm của mỗi con người. Khi biết yêu thương cây cỏ, động vật và thiên nhiên, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và hài hòa hơn với thế giới. Yêu thương vạn vật giúp con người trân trọng sự sống, hiểu rằng mỗi sinh linh đều có giá trị riêng. Một hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, bảo vệ động vật hay tiết kiệm tài nguyên cũng thể hiện tình yêu với vạn vật. Ngược lại, nếu con người sống ích kỉ, tàn phá thiên nhiên, ngược đãi động vật thì cuối cùng chính con người sẽ phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm môi trường, thiên tai hay dịch bệnh. Trong xã hội hiện đại, việc giáo dục ý thức yêu thương vạn vật càng trở nên cần thiết. Khi con người biết sống chan hòa với thiên nhiên, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bền vững hơn. Yêu thương vạn vật cũng chính là yêu thương cuộc sống và tương lai của chính mình.





Câu 2 (khoảng 600 chữ) Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.



Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là khúc bi ca thấm đẫm nỗi đau và tình yêu quê hương da diết. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đầy xót xa của quê hương Kinh Bắc từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang cảnh điêu tàn, đổ nát bởi chiến tranh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước và nỗi căm thù giặc cháy bỏng của nhà thơ.


Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh lúa nếp không chỉ gợi sự no đủ, ấm êm mà còn mang hương vị thân thương của làng quê Bắc Bộ. Cùng với đó, “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” đã gợi lên một không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, nơi nghệ thuật dân gian gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân. Những “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sắc màu của tranh vẽ mà còn là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho vẻ đẹp thuần khiết, lạc quan của con người Kinh Bắc. Quê hương trong ký ức nhà thơ là một miền đất đẹp đẽ, yên vui, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ trọn vẹn những giá trị văn hóa lâu đời.


Thế nhưng, chiến tranh đã tàn nhẫn phá vỡ tất cả. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” – hai câu thơ như một nhát cắt dữ dội, đánh dấu bước ngoặt bi thương của số phận quê hương. Hàng loạt hình ảnh đau xót hiện ra: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện thực tang thương mà còn cho thấy sự hủy diệt toàn diện của chiến tranh: từ con người đến cảnh vật, từ sự sống đến niềm vui đều bị vùi dập không thương tiếc. Giọng thơ dồn dập, từ ngữ mạnh mẽ đã khắc họa rõ nét bộ mặt tàn bạo của kẻ thù và nỗi đau tột cùng của quê hương bị giày xéo.

Đau đớn hơn cả là chiến tranh không chỉ cướp đi cuộc sống yên bình mà còn làm tan vỡ những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc như tranh Đông Hồ, “đám cưới chuột” – biểu tượng cho đời sống vui tươi, no đủ – giờ đây chỉ còn là hoài niệm. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa khôn nguôi của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp nổi của quê hương.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện chân thực hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm đau thương và lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác phẩm đồng thời thức tỉnh trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình, gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước – bởi đó là những điều thiêng liêng không gì có thể thay thế.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NÊN BỊ GAI ĐÂM          (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.          (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NÊN BỊ GAI ĐÂM

         (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.

         (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng vườn. Nắng chói đâu hay mình làm đau những giọt sương đậu hờ trên mép lá. Bụi bay đâu hay mình làm đau những làn hương. Con ong đâu hay tiếng đập cánh vụng về làm giật mình nụ hoa út ít. Lá rơi nào hay mình làm tổn thương giấc mơ của cánh chuồn kim thiêm thiếp sau ngọn cỏ góc ao.

         (3) Tiếng chuông rền làm tổn thương hoàng hôn. Bước chân mau làm tổn thương những con đường. Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ. Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió. Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ẩm ướt bên thềm.

         (4) Ngòi bút sắc làm đau trang giấy. Nét mực hoen làm đau con chữ gầy. Câu thơ suông làm tổn thương ánh đèn tri kỉ. Giọng ca trơn làm tổn thương điệu nhạc say đắm. Ngón tay bấm bâng quơ làm tổn thương bao âm giai ẩn trong mỗi phím đàn.

         (5) Lần lỗi hẹn làm đau điểm hẹn. Cái bắt tay ơ hờ làm đau nhịp tim sâu. Nụ cười tắt mau làm tổn thương những thắc thỏm mong cầu. Tiếng thở dài làm tổn thương ánh nhìn ngân ngấn. Thoáng chau mày làm đau giọt mồ hôi lau vội lúc cuối ngày.

         (6) Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh…

        (7) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa…

         (8) Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.

(Chu Văn Sơn)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung của văn bản trên.

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn (7).

Câu 4 (1.0 điểm): Trong câu văn: “Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.” Vì sao tác giả lại nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? 

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản là gì?

104
26 tháng 1

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm




Câu 2:

Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.



Câu 3:

Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.



Câu 4:

Vì sao tác giả nói: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.



Câu 5:

Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2:

Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.

Câu 3:

Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”…

→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.

→ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.

Câu 4:

Hình ảnh ẩn dụ “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn.

→ Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.

Câu 5:

Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

4 tháng 2


Câu 1

Bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng của Nguyễn Đức Hạnh đã khắc họa cảm động số phận những người phụ nữ lao động nghèo giữa phố thị. Hình ảnh họ hiện lên với “những nhem nhuốc bên ngoài che giấu / bao ngọt lành, nóng hổi bên trong”, cho thấy vẻ lam lũ bề ngoài đối lập với tấm lòng giàu yêu thương. Tác giả đặc biệt xót xa trước thái độ “thờ ơ”, “rẻ rúng” của người qua đường, qua đó phê phán sự vô cảm của xã hội. Câu thơ “người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” là ẩn dụ giàu sức gợi, diễn tả sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Bài thơ sử dụng thể tự do, giọng điệu trữ tình, nhiều hình ảnh gần gũi như hạt ngô, mùi thơm bếp lửa, bờ vai cha… tạo nên không gian ấm áp mà day dứt. Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ và ngôn ngữ giản dị giúp người đọc thấu hiểu hơn những mảnh đời nhỏ bé. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng, cảm thông với những người lao động bình dị quanh ta.

Câu 2

Nghị luận về câu nói của Vivian Greene

“Cuộc sống không phải là để chờ đợi cơn bão đi qua, cuộc sống là để học được cách khiêu vũ trong mưa.” Câu nói của Vivian Greene gửi đến mỗi người thông điệp sâu sắc về thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Cuộc đời không phải lúc nào cũng êm đềm; khó khăn, thử thách giống như những cơn mưa bất chợt. Nếu chỉ đứng yên chờ bão tan, ta sẽ lãng phí thời gian và cơ hội. Điều quan trọng là dám bước vào “cơn mưa” ấy với bản lĩnh và niềm tin.

“Khiêu vũ trong mưa” là hình ảnh ẩn dụ cho việc chủ động thích nghi, biến nghịch cảnh thành trải nghiệm có ý nghĩa. Người biết sống tích cực sẽ không gục ngã trước thất bại mà xem đó là bài học để trưởng thành. Lịch sử và thực tế đã chứng minh nhiều con người thành công nhờ dám đối diện thử thách: những vận động viên vượt chấn thương để chạm tới huy chương, những học sinh nghèo nỗ lực học tập để đổi thay số phận. Chính tinh thần lạc quan giúp họ mạnh mẽ hơn sau mỗi lần vấp ngã.

Ngược lại, nếu chỉ than thân trách phận, con người dễ rơi vào bi quan, bỏ lỡ cơ hội hoàn thiện mình. Cuộc sống hiện đại đầy biến động: áp lực học tập, công việc, dịch bệnh, thiên tai… Tất cả đều là “những cơn bão” không thể tránh. Thái độ đúng đắn không phải trốn chạy mà là rèn luyện kĩ năng, ý chí để vượt qua. Biết tìm niềm vui trong gian khó, ta sẽ giữ được cân bằng và khám phá nhiều giá trị mới.

Tuy nhiên, “khiêu vũ trong mưa” không có nghĩa là liều lĩnh bất chấp, mà cần đi cùng sự tỉnh táo và chuẩn bị. Mỗi người phải trang bị tri thức, sức khỏe, kĩ năng sống và sự sẻ chia với cộng đồng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường để thế hệ trẻ học cách đối diện thử thách một cách nhân văn.

Là học sinh, em nhận thấy mình phải tập sống chủ động: không nản chí khi điểm số chưa như ý, không né tránh khó khăn mà cố gắng từng ngày. Em sẽ rèn luyện ý chí, nuôi dưỡng ước mơ và lan tỏa năng lượng tích cực tới bạn bè. Bởi chỉ khi dám “khiêu vũ trong mưa”, ta mới cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc sống.

Câu nói của Vivian Greene nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở hoàn cảnh thuận lợi mà ở cách con người đối diện hoàn cảnh. Hãy sống bản lĩnh, lạc quan để biến mỗi cơn mưa cuộc đời thành điệu nhảy của niềm tin và hi vọng.


Câu 1:

Bài thơ "Những người đàn bà bán ngô nướng" của Nguyễn Đức Hạnh là một tiếng lòng xót xa và trân trọng đối với những thân phận lao động nghèo. Về nội dung, tác phẩm khắc họa hình ảnh người phụ nữ lam lũ, "nhem nhuốc" bên lề đường, nhưng ẩn sâu bên trong là cả một tấm lòng hy sinh cao cả: "bán dần từng mảnh đời mình nuôi con". Bài thơ không chỉ tả thực cái nghèo mà còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn — những giá trị "ngọt lành, nóng hổi" bền bỉ như hương vị của bắp ngô nướng dù trải qua "cháy" vẫn "còn thơm". Về nghệ thuật, thể thơ tự do giúp mạch cảm xúc tuôn trào tự nhiên. Tác giả sử dụng thành công thủ pháp đối lập giữa cái nhìn "thờ ơ" của người đời với sự tận hiến của người mẹ, cùng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như "mảnh đời", "hạt ngô - giọt lệ". Qua đó, bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc niềm thấu cảm sâu sắc và bài học về thái độ trân trọng đối với những giá trị bình dị mà thiêng liêng trong cuộc sống.




1 tháng 2

Câu 1:

Bài thơ “Tự miễn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu chiều sâu tư tưởng, thể hiện rõ phong cách sống giản dị, khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm cao cả của Người. Qua bài thơ, Bác bày tỏ thái độ tự giác từ chối những sự ưu đãi, chăm sóc đặc biệt dành cho cá nhân mình, bởi trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều gian khổ, nhân dân còn chịu nhiều thiếu thốn, Người không cho phép bản thân hưởng thụ hơn đồng bào. “Tự miễn” không phải là sự khắc khổ cực đoan, mà là biểu hiện của lối sống vì dân, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Giọng thơ nhẹ nhàng, mộc mạc nhưng chứa đựng sức thuyết phục lớn, toát lên vẻ đẹp nhân cách cao quý của một vị lãnh tụ luôn tự soi xét bản thân, luôn giữ mình trong khuôn khổ đạo đức cách mạng. Qua đó, bài thơ không chỉ phản ánh tâm hồn thanh cao của Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm bài học sâu sắc cho mỗi người: sống giản dị, biết tự điều chỉnh bản thân, không sa vào đặc quyền, đặc lợi, luôn đồng cảm và sẻ chia với nhân dân. Chính những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại làm nên tầm vóc lớn lao của Bác trong lòng dân tộc.

Câu 2:

Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Không ai sinh ra đã bước đi trên con đường bằng phẳng, cũng không có thành công nào đến mà không phải trả giá bằng khó khăn và nỗ lực. Thử thách có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: là biến cố lớn của dân tộc, là những gian nan của thời đại, hoặc chỉ là những trở ngại nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày. Dù ở hình thức nào, thử thách cũng mang trong mình một ý nghĩa quan trọng: tôi luyện ý chí, giúp con người trưởng thành và nhận ra giá trị thật sự của bản thân. Chính trong nghịch cảnh, con người mới hiểu mình là ai và có thể đi xa đến đâu.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng thử thách chính là phép thử khắc nghiệt nhưng cần thiết để làm nên những bước ngoặt lớn lao. Trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dân tộc ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: ách thống trị tàn bạo của thực dân phong kiến, nạn đói khủng khiếp năm 1945 cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, lực lượng cách mạng còn non trẻ, thiếu thốn đủ bề. Nhưng chính trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta đã được hun đúc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thử thách không quật ngã được dân tộc, mà trái lại, đã làm bùng lên khát vọng độc lập, tự do, dẫn tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám. Trong đời sống cá nhân, thử thách cũng hiện diện ở những điều tưởng như rất nhỏ: áp lực học tập, những lần thất bại, những kỳ thi quan trọng như kỳ thi đại học. Có người từng chùn bước trước điểm số không như mong muốn, từng hoang mang trước tương lai mờ mịt, nhưng chính những khó khăn ấy buộc con người phải nỗ lực hơn, kỷ luật hơn và trưởng thành hơn. Không ít người đã vấp ngã trong lần thi đầu tiên, để rồi đứng dậy mạnh mẽ hơn và chạm tay tới ước mơ bằng chính nghị lực của mình.

Như vậy, thử thách trong cuộc sống không phải là điều để sợ hãi, mà là cơ hội để con người rèn luyện bản thân và khẳng định giá trị sống. Nếu không có thử thách, con người sẽ dễ bằng lòng với hiện tại, thiếu bản lĩnh trước sóng gió. Điều quan trọng không phải là tránh né khó khăn, mà là học cách đối diện, vượt qua và bước tiếp với niềm tin vững vàng. Khi hiểu đúng ý nghĩa của thử thách, ta sẽ nhận ra rằng mỗi gian nan đi qua đều để lại một bài học quý giá, giúp con người sống sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn tới thành công.



Câu 1:

Bài thơ "tự khuyên mình "(tự miễn) Của Hồ Chí Minh một làm bản lĩnh thép, Thể hiện tinh thần lạc quan và ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù tày. Mở đầu bài thơ, tác giả mượn quy luật của thiên nhiên: "ví không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân "để dẫn dắt một chân lý cuộc đời. Hình ảnh ấn dụ đông tàn đại diện cho những gian khổ ,khắc nghiệt ,còn "ngày xuân" chính là biểu tượng của thành công và tương lai tươi sáng. Qua đó bác khẳng định gian truân không phải là giao cảm mà là tiền đề tất yếu để ý tới vinh quang. Đến hai câu cuối, ý thơ chuyển từ quy luật khách quan sang tự rèn luyện chủ quan: "nghĩ mình trong bước gian truân /tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao".Đối với người, khó khăn không chỉ là thử thách mà còn là "trường học "để tôi luyện ý chí. Điệp từ và cấu trúc đối lập đã làm nổi bật triết lý khổ tận cam lai hết khổ sự sẽ đến lúc vui sướng. Bài thơ không chỉ là lời động viên bản thân trong chốn lao tù mà còn là bài học sâu sắc cho chúng ta về thái độ sống: cần giữ vững niềm tin và bản lĩnh để biến nghịch cảnh thành động lực vươn lên với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc tự khuyên mình mãi là bài ca về tinh thần lạc quan cách mạng.

Câu 2:

Trong cuộc sống của mỗi người, con đường đi tới thành công chưa bao giờ là một đường thẳng trải đầy hoa hồng. Để chạm tới đỉnh vinh quang hay đơn giản là sự trưởng thành, chúng ta đều phải bước qua những khúc quanh đầy xỏi đá . Đó chính là những thử thách phân tích yếu và mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của con người.

Trước hết, thử thách chính là "thước đo "chính xác nhất cho năng lực và bản lĩnh của mỗi cá nhân. Nếu cuộc sống cứ mãi bình lặng , chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giới hạn của bản thân mình ở đâu. Giống như viên kim cương chỉ có thể toả sáng sau quá trình chịu áp lực cực lớn, con người cũng chỉ thực sự bộc lộ những tổ chất tiềm ẩn khi rơi vào nghịch cảnh. Khi đối mặt với khó khăn, chúng ta buộc phải suy nghĩ, sáng tạo và vận động hết công suất để tìm ra lối thoát. Chính là quá trình giúp ta rèn luyện sự kiên trì, lòng dũng cảm và tích lũy được những kinh nghiệm quý báo mà không trường lớp nào có thể giảng dạy được. Bên cạnh đó thủ thách còn giúp chúng ta nhìn nhận cuộc sống 1 cách sâu sắc hơn. Như Bác hồ đã từng viết trong bài thơ tự miễn: "vì không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân". Những gian nan chính là trình để cho sự thành công. Nếu không có những ngày đông giá rét, chúng ta sẽ chẳng thể cảm nhận được cái ấm áp và rực rỡ của mùa xuân. Tương tự, nếu không trải qua thất bại, ta sẽ không biết quý trọng hương vị của chiến thắng. Thử thách dạy ta biết khiêm tốn, biết trân trọng những gì mình đang có và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn đối với những người cũng đang gặp khó khăn xung quanh mình. Hơn thế nữa, thử thách là môi trường để rèn luyện tinh thần lạc quan và niềm tin một người có bản lĩnh không phải là người chưa từng thất bại, mà là người dám đứng lên từ chính những đổ nát của thử thách. Thay vì coi khó khăn là một tảng đá ngán đường, những người thành công thường coi đó là những nấc thang để bước cao hơn. Khi vượt qua một thử thách , Niềm tin vào bản thân sẽ được cũng cố, tạo ra một nguồn năng lượng nội tại mạnh mẽ để ta sẵn sàng Đối mặt với những cơn bão lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn không ít người chọn cách trốn tránh hoặc dễ dàng gục ngã trước thử thách. Thái độ bi quan, chán nản chỉ khiến con người trở nên yếu đuối và dần bị tụt lại phía sau. Chúng ta cần hiểu rằng, thử thách không sinh ra để tiêu diệt chúng ta, mà để giúp chúng ta "thay đổi da thịt "trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình.

Thử thách là một gia vị không thể thiếu để tạo nên sự đậm đà cho món ăn cuộc đời. Đừng cầu nguyện cho cuộc sống không có khó khăn, hãy cầu nguyện cho mình có một đôi vai đủ sức gánh vác và một tinh thần thép để vượt qua mọi sóng gió. Hãy đón nhận thử thách với tâm thế của một chiến sĩ bởi phía sau mỗi "cảnh đông tàn "chắc chắn sẽ có ngày xuân huy hoàng đang "chờ đợi.