K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

27 tháng 1 2025

Goat? Con dê à?

27 tháng 1 2025

ronaldo

19 tháng 1

1 sự gỉ sét của sắt

PTTH :

H2O

4Fe+3O2 ---> 2Fe2O3

2 sự cháy của khí gas

PTTH:

CH4 + 2O2 ---> CO2 + 2H2O



20 tháng 1

Hai ví dụ thực tế về phản ứng oxi hóa khử là đốt cháy nhiên liệu (như metan) để tạo năng lượng và sự ăn mòn kim loại (như sắt bị gỉ); phương trình ví dụ: CH4 + 2O2 -> CO2 +2H2O

4FE+3O2 +6H2O -> 4FE(OH)3

12 tháng 2

Câu 1

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, thuyết phục và giàu tính nhân văn. Trước hết, ông xuất phát từ chân lí phổ quát, lấy tư tưởng hiền tài là nguyên khí quốc gia làm nền tảng, từ đó khẳng định vai trò to lớn của người hiền đối với sự hưng thịnh của đất nước. Cách lập luận đi từ lí lẽ chung đến thực tiễn cụ thể giúp người đọc dễ tiếp nhận và đồng tình. Nguyễn Trãi còn sử dụng lối so sánh, đối chiếu giữa các triều đại hưng thịnh biết trọng dụng nhân tài với những thời kì suy vong do không biết dùng người hiền để làm sáng tỏ vấn đề. Bên cạnh lí lẽ sắc bén là giọng điệu chân thành, khiêm nhường của người đứng đầu quốc gia, thể hiện khát vọng cầu hiền tha thiết và tấm lòng vì dân vì nước. Sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình đã làm cho bài chiếu không chỉ có giá trị chính luận mà còn giàu sức lay động.

Câu 2

Hiện tượng chảy máu chất xám đang trở thành vấn đề đáng quan tâm trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Chảy máu chất xám được hiểu là tình trạng người lao động có trình độ cao, có chuyên môn giỏi rời bỏ đất nước để học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài. Đây là hiện tượng diễn ra ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Thực tế cho thấy mỗi năm có không ít học sinh, sinh viên xuất sắc, nhà khoa học, kĩ sư, bác sĩ lựa chọn ở lại nước ngoài sau khi học tập. Nguyên nhân của tình trạng này khá đa dạng. Trước hết là do môi trường làm việc ở một số nước phát triển có điều kiện nghiên cứu hiện đại, chế độ đãi ngộ cao và cơ hội thăng tiến rộng mở. Bên cạnh đó, trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như cơ sở vật chất chưa đồng bộ, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài chưa thật sự hấp dẫn, đôi khi còn có tình trạng thiếu minh bạch, thiếu cơ hội phát huy năng lực. Tất cả những điều đó khiến nhiều người tài cảm thấy khó phát triển hết khả năng của mình.

Chảy máu chất xám để lại nhiều hệ lụy. Đất nước mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao, ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Việc đào tạo một nhân tài tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí, vì vậy khi họ rời đi, quốc gia cũng mất đi một phần nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, nếu nhìn ở góc độ tích cực, những người ra nước ngoài học tập và làm việc vẫn có thể đóng góp cho quê hương thông qua hợp tác, chuyển giao tri thức hoặc đầu tư khi có điều kiện phù hợp.

Để hạn chế tình trạng này, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và sáng tạo, có chính sách đãi ngộ xứng đáng với người có năng lực. Đồng thời, phải tạo điều kiện để người trẻ được thử thách, được tin tưởng và được ghi nhận. Bản thân mỗi người cũng cần ý thức về trách nhiệm đối với quê hương, biết cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng.

Chảy máu chất xám không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn là vấn đề về niềm tin và môi trường phát triển. Khi đất nước tạo dựng được điều kiện thuận lợi và khơi dậy tinh thần cống hiến, người tài sẽ sẵn sàng ở lại và chung tay xây dựng tương lai.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

1
12 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận

Câu 2 Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi, xưng trẫm

Câu 3 Mục đích chính là kêu gọi và khuyến khích việc tiến cử, tìm kiếm, trọng dụng hiền tài để xây dựng đất nước, các đường lối tiến cử gồm yêu cầu quan lại từ tam phẩm trở lên mỗi người cử một người có tài, thưởng cho người tiến cử đúng, cho phép người có tài tự tiến cử, không phân biệt ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa

Câu 4 Người viết đưa ra dẫn chứng về thời thịnh trị xưa hiền sĩ đầy triều, các quan đời Hán Đường biết tiến cử người tài như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, cách nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực, lấy từ lịch sử Trung Quốc, có sức thuyết phục cao

Câu 5 Chủ thể bài viết là người có tầm nhìn xa, biết trọng dụng nhân tài, khiêm nhường, lo lắng cho vận mệnh đất nước, tha thiết cầu hiền, có tinh thần trách nhiệm và tư tưởng tiến bộ trong việc dùng người

Câu 1

Nghệ thuật lập luận trong bản "Chiếu cầu hiền tài" đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Bố cục chặt chẽ: Đầu tiên, tác giả đưa ra tiên đề về mối quan hệ giữa người hiền và thiên tử: người hiền phải do thiên tử sử dụng, như sao sáng chầu về Bắc Thần. Đây là chân lý khách quan, tạo điểm tựa vững chắc cho toàn bộ bài chiếu. Cách đặt vấn đề khéo léo: Thay vì ra lệnh cứng nhắc, tác giả dùng lối nói khiêm nhường, thấu hiểu tâm lý sĩ phu thời bấy giờ (những người còn e ngại, ẩn dật). Việc thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót của triều đại mới và sự cần thiết của nhân tài giúp xóa bỏ khoảng cách quân thần. Hệ thống câu hỏi tu từ: Những câu hỏi liên tiếp như "Hay là thời đại đang ở trong buổi ban đầu...?" đã tác động mạnh mẽ vào lòng tự trọng và trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước.Chính sách cụ thể, rộng mở: Cuối bài, việc đưa ra các con đường tiến cử đa dạng, không phân biệt thứ bậc đã minh chứng cho thái độ cầu thị thực chất.

Kết luận: Với ngôn ngữ trang trọng nhưng tha thiết, lập luận của bài chiếu không chỉ thuyết phục bằng lý trí mà còn thu phục bằng nhân tâm, biến việc ra giúp nước thành một nghĩa vụ vẻ vang và tự nhiên của người hiền.

Câu 2:

Bài làm.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, "chất xám" đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, quyết định sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nghịch lý đau lòng: chúng ta nỗ lực đào tạo nhân tài nhưng lại chưa giữ chân được họ, dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám" ngày càng trầm trọng.

"Chảy máu chất xám" không đơn thuần là việc một cá nhân đi định cư, mà là sự thất thoát nguồn lực trí tuệ ưu tú nhất của dân tộc. Nhìn vào thực tế, phần lớn các quán quân của những cuộc thi tri thức danh giá hay các du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại Úc, Mỹ, hay Châu Âu đều chọn ở lại làm việc thay vì trở về. Tại sao họ lại ra đi? Câu trả lời không chỉ nằm ở mức lương nghìn đô, mà còn ở một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi trí tuệ được tôn trọng tuyệt đối và không bị kìm kẹp bởi những cơ chế cũ kỹ. Hậu quả của hiện tượng này là vô cùng lớn. Khi những bộ óc thông minh nhất ra đi, đất nước sẽ thiếu đi những đầu tàu dẫn dắt các ngành công nghệ mũi nhọn, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Chúng ta mất đi "vốn liếng" quý nhất để hiện đại hóa quê hương. Để giải quyết vấn đề này, không thể chỉ kêu gọi bằng lòng yêu nước viển vông. Chính phủ và các doanh nghiệp cần có những "cú hích" mạnh mẽ về chính sách: tạo ra môi trường nghiên cứu tự do, công bằng và chế độ đãi ngộ xứng đáng. Chúng ta cần hiểu rằng, nhân tài không cần sự ưu ái, họ cần sự công nhận và không gian để tỏa sáng

Tóm lại, hiền tài là nguyên khí quốc gia. Để nguyên khí ấy không bị "chảy" đi mất, chúng ta cần biến Việt Nam thành một mảnh đất đủ màu mỡ để những hạt giống trí tuệ có thể bám rễ và xanh tươi. Bản thân mỗi người trẻ cũng cần ý thức được rằng, đỉnh cao của sự thành đạt chính là dùng tài năng để phụng sự cho nơi mình đã sinh ra.






13 tháng 4

Câu 1 : Trong văn bản Chiếu cầu hiền, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả mở đầu bằng cách nêu lên quy luật tất yếu: hiền tài là nguyên khí của quốc gia, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của người tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Cách lập luận này tạo nền tảng lí lẽ vững chắc, mang tính khái quát cao. Tiếp đó, ông phân tích thực trạng: nhân tài còn bị bỏ sót, chưa được trọng dụng đúng mức. Việc đưa ra thực trạng vừa cụ thể vừa khách quan giúp tăng tính xác thực cho lập luận. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lí lẽ kết hợp với cảm xúc, thể hiện tấm lòng chân thành của người đứng đầu đất nước, mong mỏi người hiền ra giúp dân, giúp nước. Cuối cùng, lời chiếu mang tính kêu gọi, khích lệ, vừa mềm mỏng vừa tha thiết, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình, lập luận của Nguyễn Trãi trở nên thuyết phục, thể hiện tư tưởng tiến bộ và tầm nhìn xa rộng. Câu 2 : Hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống lâu dài, thay vì cống hiến cho đất nước. Hiện tượng này không chỉ phản ánh xu hướng toàn cầu hóa mà còn đặt ra nhiều suy nghĩ về môi trường phát triển trong nước. Trước hết, cần hiểu rằng “chảy máu chất xám” là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc du học hay làm việc ở nước ngoài là điều bình thường. Tuy nhiên, khi số lượng người tài không quay trở về ngày càng tăng, điều đó trở thành vấn đề đáng lo ngại. Thực tế cho thấy nhiều học sinh, sinh viên giỏi sau khi du học đã chọn ở lại nước ngoài vì điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và môi trường phát triển thuận lợi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do môi trường làm việc trong nước còn hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện để người tài phát huy hết năng lực. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng khiến nhiều người chưa yên tâm cống hiến. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu ở một số lĩnh vực còn thiếu thốn, chưa theo kịp các nước phát triển. Về phía cá nhân, không ít người mong muốn được trải nghiệm môi trường quốc tế, phát triển bản thân và có cuộc sống tốt hơn. Hệ quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao rời đi, đất nước sẽ thiếu hụt lực lượng nòng cốt cho phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới và hội nhập. Đồng thời, việc đào tạo một nhân tài tốn nhiều thời gian, công sức, nếu họ không quay về cống hiến thì đó cũng là sự lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Không phải ai ra nước ngoài cũng là “mất đi”, bởi nếu có chính sách phù hợp, họ vẫn có thể đóng góp cho quê hương bằng nhiều cách khác nhau như hợp tác nghiên cứu, đầu tư hay chuyển giao công nghệ. Vì vậy, điều quan trọng là tạo ra môi trường trong nước đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người tài. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào giáo dục, khoa học – công nghệ và cải thiện môi trường sáng tạo. Về phía bản thân mỗi người trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với đất nước, biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. “Chảy máu chất xám” chính là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận lại và hoàn thiện môi trường phát triển. Khi biết tận dụng và có chính sách phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực quan trọng giúp đất nước tiến xa hơn trong tương lai.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

13

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong bài Chiều cầu hiền tài là: Nghị luận

Câu 2: Chủ thể bài viết là: Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ)

Câu 3:mục đích chính là nhằm kêu gọi, thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà (trí thức triều đại cũ Lê - Trịnh) từ bỏ tị hiềm, ra cộng tác với triều đại Tây Sơn để tham gia xây dựng, chấn hưng đất nước

-các lối tiến cử người hiền tài được quy định cụ thể nhằm tìm kiếm người tài giúp vua Quang Trung xây dựng đất nước, bao gồm: các quan lại trọng triều được phép tiến cử người có tài nghệ, và những người ở ẩn (nhân sĩ) được phép dâng sớ tự tiến cử

Câu 4:


12 tháng 4

l Đọc hiểu

Câu 1

-PTBĐ chính là nghị luận.

Câu 2

-chủ thể bài viết: Vua Lê Thái Tổ người ban bố tờ chiếu.

Câu 3

-mục đích chính: kêu gọi những người có tài năng, đức độ đang ẩn dật hoặc chưa được trang dụng gia vũ nước, xây dựng triều đại mới sau chiến tranh.

-các đường lối tiến cử:

+ các quan Văn Võ đại thần, công hậu, đại tu từ tam phẩm trở nên lên, mỗi người đều được tiến cử 1 người ở triều đình

+ những người có tài năng nhưng bị khuất lấp ở hàng Quan nhỏ, không ai tiến cử thì có thể tự mình đề đạt.

Câu 4

-dẫn chứng: tác giả đưa ra cặp tiền bối gương mẫu nhất trong lịch sử như Tiêu Hà tiến cử tào tham, ngụy vô tri tiến cử Trần Bình, địch Nhân Kiệt tiến cử cửu linh…

-nhận xét: cách nêu dẫn chứng thuyết phục, sử dụng các tấm gương lịch sử có sức nặng về uy tín, cho thấy việc tiến cử người hiền là truyền thống tốt đẹp của triều đại thịnh trị.

Câu 5

-chủ thể bài viết hiện lên là 1 bậc minh quân có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân vì nước. Ông thể hiện thái độ cầu thị, khiêm nhường, biết trọng dụng nhân tài và có tấm lòng bao dung, gạt bỏ những định kiến nhỏ nhặt để thu phục lòng người.

ll viết

Câu 1

Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong triều cầu hiển tài thể hiện sự sắc sảo và đầy sức thuyết phục. Trước hết, hệ thống lập luận được sắp xếp cực kỳ chặt chẽ từ việc khẳng định quy luật khách quan đến việc bày tỏ nỗi lòng thành khẩn của quân vương, và cách cuối cùng là đưa ra những chính sách cụ thể. Cách sử dụng dẫn chứng lịch sử làm tăng tính thuyết phục, chứng minh rằng hiện tại là” nguyên khí”, là nhân tố quyết định sự thịnh trị . trong bài chiếu mang tính mệnh lệnh của bậc thiên tử, vừa chân thành, tha thiết như lời tâm tình, giúp xoá bỏ . Đặc biệt, việc sử dụng các hình ảnh so sánh ví von tạo nên gợi cảm lớn. Chính nghệ thuật lập luận kết hợp hài hòa giữa’ lý’ và’ tình’ đã giúp bà chiếu trở thành 1 áng áng văn chính luận mẫu mực, có sức lay động lòng người sâu sắc.

Câu 2

từ xa xưa, cha ông ta đã khẳng định hiển tài là nguyên khí của quốc gia. Trong văn bản’ chiếu cầu hiện tài’, vua lê thánh tông không ngần ngại để chiêu mộ người có tài . Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với 1 thực trạng đó là’ chảy máu chất xám’ là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao, năng lực xuất chúng rời bỏ quê hương để tìm cơ hội việc làm và định cư tại các quốc gia phát triển.

Thực trạng này diễn ra vô cùng phức tạp. chúng ta dễ dàng bắt gặp những những trường hợp như các quán quân chương trình’ đường lên đỉnh olympia’ hay các thủ khoa đại học, du học sinh xuất sắc khi tu nghiệp tại các nước ngoài đều chọn ở lại Úc, Mỹ, Đức chấm chấm đó là những nước phát triển mạnh thay vì trở về quê hương. Không chỉ dừng lại ở sinh viên, nhiều nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành cũng âm thầm rời bỏ các cứu trong nước để đầu quân cho các . Việt Nam vô tình trở thành nơi đào tạo nguồn lực chất lượng cao cho thế giới. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ các yếu tố khách quan quan. Trước hết, môi trường làm việc trong nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu thốn trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, khiến những người có đam mê khoa học có lòng phát triển hết khả năng. Thứ 2, chế độ đãi ngộ, lương bổng tại Việt Nam Trung vẫn còn thấp so với mặt bằng quốc tế, chưa đủ đảm bảo để cuộc sống ổn định cho mọi người. Đáng ngại hơn, 1 số môi trường, cơ chế tuyển dụng và thăng tiến vẫn còn nặng tính quan hệ khiến những người có thực lực thật sự cảm thấy bị xem nhẹ và thiếu đi sự .

Hậu quả của chảy chất xám là vô cùng Khi những bộ óc tinh hoa nhất dưới đi, đất nước sẽ mất đi động lực then chốt để đột phá về kinh tế và Việt Nam và các cường quốc sẽ ngày càng bị nới rộng. Chúng ta không chỉ mất đi nguồn lực trí tuệ mà còn làm lãng phí nhiều ngân sách đào tạo và tâm huyết của xã hội.

Để khắc phục tình trạng chúng ta cần 1 cuộc cách mạng trong tư duy quản lý nhân sự, nhà nước cần xây dựng những đặc khu kinh tế, các vị nghiên để những người có tài có đất sử dụng. Quan trọng hơn, cần thực hiện những chính sách trải thảm đỏ 1 cách thực chất không chỉ là tiền lương, mà là sự tôn trọng, tự do sáng tạo và lộ trình thăng tiến minh bạch dựa trên năng lực. Chúng ta cần đào tạo 1 môi trường mà ở đó người giỏi cảm thấy họ được cống hiến và được thừa nhận ngay trên chính sở trường của mình.

Tóm lại, nhân tài không phải là tài nguyên vô tận nếu không biết giữ gìn, nguyên khí sẽ cạn kiệt. Mỗi cá nhân trẻ tuổi chúng ta, bên cạnh việc rèn luyện tài năng, cũng cần nuôi dưỡng lòng yêu nước và Ý thức trách nhiệm. Tuy nhiên yêu nước cần được tiếp bởi những chính sách đúng đắn từ phía xã hội. Chỉ khi có những sự đồng hành giữa cá nhân và quốc tế, chúng ta mới có thể biến chảy máu chất xám thu hút chất xám, Việt Nam sánh vai với các cường quốc.

12 tháng 2

Sơ đồ tư duy tác gia Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi
Tiểu sử
Sinh năm 1380, mất năm 1442
Quê ở Chí Linh, Hải Dương
Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Bị oan trong vụ án Lệ Chi Viên

Sự nghiệp chính trị
Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Là quân sư của Lê Lợi
Góp phần quan trọng vào thắng lợi chống quân Minh
Soạn thảo Bình Ngô đại cáo

Sự nghiệp văn học
Tác phẩm chính
Bình Ngô đại cáo
Quân trung từ mệnh tập
Ức Trai thi tập
Quốc âm thi tập
Nội dung thơ văn
Yêu nước thương dân
Tư tưởng nhân nghĩa
Khát vọng hòa bình
Yêu thiên nhiên
Nghệ thuật
Lập luận chặt chẽ
Giọng văn hùng hồn
Ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc
Đóng góp lớn cho văn học chữ Hán và chữ Nôm

Giá trị và ý nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa tiến bộ
Đặt nền móng cho văn học yêu nước
Tấm gương trung quân ái quốc
Di sản văn hóa có giá trị lâu dài


4 tháng 3 2025

Quà của bà ngữ văn 10



3 tháng 2


Câu 1 (2,0 điểm)



Đoạn văn nghị luận văn học (khoảng 200 chữ)


Truyện ngắn Con chim vàng của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm giàu giá trị nhân đạo, phản ánh số phận đau khổ của những đứa trẻ nghèo trong xã hội cũ. Nhân vật trung tâm của truyện là cậu bé Bào – một đứa ở đợ nhỏ tuổi, phải sống trong cảnh áp bức, sợ hãi và bất công. Vì món nợ của mẹ, Bào bị ép làm những việc nguy hiểm, thậm chí đánh đổi cả tính mạng chỉ để thỏa mãn mong muốn ích kỉ của cậu chủ. Hình ảnh Bào liều mình trèo cây bắt chim và rơi xuống trong đau đớn là cao trào bi kịch của truyện, tố cáo sự vô cảm, tàn nhẫn của người lớn đối với trẻ em nghèo khổ. Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ nhận lại sự thờ ơ càng khắc sâu nỗi cô độc, tuyệt vọng của em. Qua câu chuyện về con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những phận người bé nhỏ, đồng thời lên án xã hội bất công đã chà đạp quyền sống và nhân phẩm con người.





Câu 2 (4,0 điểm)



Bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ)


Trong cuộc sống, không phải vật chất hay danh vọng mà chính tình yêu thương mới là điều làm nên giá trị đích thực của con người. Tình yêu thương là sự quan tâm, sẻ chia, đồng cảm giữa người với người, giúp con người xích lại gần nhau hơn và làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, ý nghĩa.


Trước hết, tình yêu thương là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi được sống trong yêu thương, con người cảm thấy được che chở, được tiếp thêm niềm tin để vươn lên. Một lời động viên đúng lúc, một cử chỉ quan tâm chân thành cũng có thể giúp người khác đứng dậy sau thất bại. Đặc biệt, với những mảnh đời bất hạnh, tình yêu thương chính là ánh sáng soi đường, giúp họ không gục ngã trước số phận.


Không chỉ vậy, tình yêu thương còn góp phần nuôi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người. Một người biết yêu thương sẽ biết sống vị tha, nhân ái, biết đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu và chia sẻ. Chính tình yêu thương giúp con người tránh xa lối sống ích kỉ, vô cảm – căn bệnh đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Một cộng đồng chỉ thật sự bền vững khi mỗi cá nhân biết sống vì nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn.


Bên cạnh đó, tình yêu thương còn là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc và xã hội tốt đẹp. Gia đình là nơi tình yêu thương được thể hiện rõ ràng nhất qua sự chăm sóc của cha mẹ, sự đùm bọc giữa các thành viên. Khi gia đình tràn đầy yêu thương, con người sẽ có điểm tựa vững chắc để bước ra cuộc sống. Từ những gia đình giàu tình yêu thương sẽ hình thành một xã hội nhân văn, nơi con người đối xử với nhau bằng sự tử tế và trách nhiệm.


Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn nhiều người sống thờ ơ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà quên đi việc quan tâm đến người khác. Sự vô cảm ấy khiến con người trở nên cô độc, xã hội trở nên lạnh lùng và đầy rạn nứt. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức nuôi dưỡng tình yêu thương từ những hành động nhỏ nhất: biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết giúp đỡ người khác khi có thể.


Tóm lại, tình yêu thương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Nó không chỉ mang lại hạnh phúc cho người nhận mà còn làm giàu tâm hồn của chính người cho đi. Sống yêu thương chính là cách để con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn và làm cho cuộc đời này trở nên tốt đẹp hơn.


(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CON CHIM VÀNG (Trích)      [Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CON CHIM VÀNG

(Trích)

     [Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, nó yêu con chim và đòi mẹ bắt cho được. Bà chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được, nó có cánh, vừa leo lên là nó bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị bà chủ đánh đập, xỉa xói vô cùng tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi nó sợ và vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ… ]

     Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:

     – Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!

     Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt nó long lanh, ôm lấy Bào, nó hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:

     – Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!

     Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng vô buồng, bẻ luôn hai quả. Nó đưa hai quả chuối cau chín vàng khoe với Bào. Nó cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên nó cúi đầu sát vào Bào, xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:

     – Chim không ăn chuối đâu!

     – Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu. Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.

     Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:

     – Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?

     Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:

     – Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.

    – Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.

     Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…

     Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:

     – Mày ra ngoài nhánh chớ!

     Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen bay tới. Rõ là con chim vàng. Nó lượn mấy vòng, vừa sà cánh đáp, bỗng nó hốt hoảng vút lên kêu choe chóe.

     Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra:

     – Mày đừng rung chớ!

     Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:

     – Bào! “Con” nín thở cho êm con. Ráng con!

     Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt. Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh. Thằng Quyên há mồm hồi hộp:

     – Bắt mau, mau!

     – Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!

     Nghe tiếng nó là Bào thấy roi đòn đánh đập, thấy máu đổ như những trận đòn hôm trước. Bào cắn răng cho bớt run, nhè nhẹ thò tay ra, nhổm mình với tới, chụp dính con chim vàng. Chim chóe lên, mẹ con nó mừng quýnh, thằng Quyên nhảy dựng lên.

     – Được chim rồi!

     Vỗ tay bôm bốp. Bào có cảm giác như khi mình đuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên. Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi – Mặt Bào tối đen – Bào rơi xuống như trái thị. Mặt Bào đập vào gốc cây, máu, nước mắt đầm đìa cả mặt: “Trời ơi!” Con chim vàng cũng bị đập xuống đất, đầu bể nát. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, Bào nghe văng vẳng tiếng guốc, nghe mẹ con thằng Quyên kêu: “Trời ơi!”.

     Bào chống tay ngồi dậy, máu từ trên đầu chảy trên những chiếc lá quấn vào mình nhỏ giọt. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu. Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.

     Té ra, mẹ thằng Quyên thò tay nâng lấy xác con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!”.

(Nguyễn Quang Sáng)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định tình huống truyện của đoạn trích.

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau: “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.”.

Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét về nhân vật cậu bé Bào trong đoạn trích. Qua đó, tác giả gửi gắm tình cảm, thái độ gì?

145

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2

Là hoạt động đầy kịch tính đẩy nhân vật Bào 12 tuổi vào sự bất lực là sự cô đơn tột cùng khi cố gắng làm hài lòng chủ

Câu 3

Ngôi thứ ba

Người kể giấu mình gọi tên nhân vật

Tác dụng : mang tính khách quan , bao quát toàn cảnh , tăng sức biểu cảm, hấp dẫn.

Câu 4

Mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về sự khao khát tình yêu thương, sự hối hận muộn màng và bi kịch của chiến tranh thể hiện khát vọng sống và tình mẫu tử thiêng liêng

Câu 5

Nhân vật Bào trong đoạn trích "Con chim vàng" của Nguyễn Quang Sáng 

là một cậu bé nghèo khổ, khao khát tình thương và sự sở hữu, nhưng phải gánh chịu nỗi đau bất hạnh và sự cô đơn tột cùng Bào hiện lên là nạn nhân của hoàn cảnh, đáng thương hơn đáng trách, với tâm lý phức tạp vừa ngây thơ vừa u uất. Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh của trẻ em và sự phê phán ngầm sự bất công xã hội.

3 tháng 2


Câu 1 (0,5 điểm)



Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

(đan xen miêu tả và biểu cảm).





Câu 2 (0,5 điểm)



Tình huống truyện:

Bào bị ép buộc phải bắt con chim vàng cho cậu chủ; trong lúc liều mình trèo cây bắt chim, Bào bị ngã trọng thương còn con chim vàng thì chết.





Câu 3 (1,0 điểm)



  • Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
  • Tác dụng:
    Giúp người kể giấu mình, kể chuyện khách quan; đồng thời dễ khắc họa rõ số phận đáng thương của Bào và sự tàn nhẫn, vô cảm của mẹ con thằng Quyên.






Câu 4 (1,0 điểm)



Ý nghĩa chi tiết:

Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ chạm vào khoảng không cho thấy:


  • Sự tuyệt vọng, cô độc đến cùng cực của Bào khi bị bỏ rơi.
  • Sự lạnh lùng, vô nhân đạo của mẹ thằng Quyên: bà ta chỉ quan tâm đến con chim chết, không hề đoái hoài đến tính mạng Bào.
    → Làm nổi bật bi kịch đau đớn của người ở đợ nghèo khổ.






Câu 5 (1,0 điểm)



Nhận xét về nhân vật Bào:


  • Là cậu bé hiền lành, cam chịu, đáng thương, sống trong sợ hãi và áp bức.
  • Dù bị đánh đập tàn nhẫn, Bào vẫn cố gắng làm theo mệnh lệnh để tồn tại.



Tình cảm, thái độ của tác giả:


  • Thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với trẻ em nghèo khổ.
  • Đồng thời lên án xã hội bất công, nơi con người bị đối xử tàn nhẫn hơn cả loài vật.




Câu 1

Bài làm

trong đoạn trích “Người trong bao” hiện lên là một con người kì quái, sống khép kín và luôn sợ hãi trước cuộc sống. Hắn lúc nào cũng tự bao bọc mình bằng những “cái bao” cụ thể: đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông; ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao. Không chỉ đồ vật, đến cả khuôn mặt hắn cũng như giấu sau cổ áo dựng đứng, tai nhét bông, ngồi xe thì kéo mui kín mít. Những chi tiết ấy cho thấy một con người luôn muốn cách ly bản thân khỏi thế giới xung quanh. Đáng sợ hơn, Bê-li-cốp còn sống trong “cái bao” tinh thần: chỉ tin vào chỉ thị, thông tư, sợ hãi mọi điều mới mẻ và gieo rắc nỗi sợ ấy cho cả thành phố. Hình tượng Bê-li-cốp là biểu tượng cho kiểu người bảo thủ, giáo điều, sống hèn nhát, kìm hãm sự phát triển của xã hội


Câu 2

Bài làm

Trong cuộc sống, mỗi người đều có cho mình một “vùng an toàn” – nơi quen thuộc, dễ chịu và ít rủi ro. Tuy nhiên, nếu mãi ở trong đó, con người sẽ khó có cơ hội phát triển. Vì vậy, bước ra khỏi vùng an toàn chính là điều cần thiết để trưởng thành và khẳng định bản thân.

Vùng an toàn có thể là những thói quen quen thuộc, những lựa chọn không đòi hỏi nỗ lực, hay tâm lí ngại thay đổi, sợ thất bại. Ở trong vùng an toàn, ta cảm thấy yên ổn, nhưng sự yên ổn ấy đôi khi lại là rào cản vô hình ngăn ta tiến xa hơn. Nếu không dám thử sức ở những điều mới mẻ, con người sẽ dễ trở nên trì trệ, tự giới hạn khả năng của mình.Bước ra khỏi vùng an toàn giúp ta khám phá năng lực tiềm ẩn và mở rộng giới hạn bản thân. Khi dám thử một môn học mới, tham gia một cuộc thi, hay đảm nhận một trách nhiệm khó khăn, ta buộc phải nỗ lực, học hỏi và thích nghi. Chính quá trình ấy rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và khả năng ứng biến trước thử thách. Thất bại có thể xảy ra, nhưng thất bại cũng là bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn. Không ai thành công mà chưa từng trải qua những lần vấp ngã.Trong xã hội hiện đại đầy biến động, việc dám thay đổi càng trở nên quan trọng. Thế giới không ngừng phát triển, nếu ta không bước ra khỏi giới hạn của chính mình, ta sẽ bị tụt lại phía sau. Những người thành công thường là những người dám nghĩ khác, dám làm khác và chấp nhận rủi ro để theo đuổi mục tiêu.Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là liều lĩnh hay hành động thiếu suy nghĩ. Đó là sự dũng cảm có tính toán, là tinh thần sẵn sàng học hỏi và đối diện với thử thách. Điều quan trọng là mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng và chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết trước khi thay đổi.

Là một học sinh, tôi hiểu rằng nếu chỉ chọn những điều dễ dàng, tôi sẽ khó tiến bộ. Vì vậy, tôi cần mạnh dạn thử sức ở những lĩnh vực mới, rèn luyện kĩ năng và không ngại sai. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới thực sự sống hết mình và phát huy trọn vẹn giá trị của bản thân.


4 tháng 3

Nhân vật trung tâm của đoạn trích là: bê_li_cốp