K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NGƯỜI TRONG BAO (Trích)       Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NGƯỜI TRONG BAO

(Trích)

      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.

      - Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!

      Cả ý nghĩ của mình, Bê li cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.

      Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]

(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích?

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là Người trong bao?

Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn trích.

1
12 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2 Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê li cốp.

Câu 3 Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Tác dụng là tạo cảm giác chân thực, khách quan, giúp câu chuyện trở nên sinh động, tăng sức thuyết phục và thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể đối với nhân vật.

Câu 4 Những chi tiết miêu tả chân dung Bê li cốp như luôn đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông dù trời đẹp, ô để trong bao, đồng hồ để trong bao, dao gọt bút chì cũng để trong bao, giấu mặt sau cổ áo, đeo kính râm, nhét bông vào tai, luôn kéo mui xe ngựa, sống thu mình, sợ hãi hiện tại, chỉ tin vào các chỉ thị cấm đoán. Nhan đề Người trong bao vì nhân vật luôn thu mình trong những cái bao cụ thể và cả cái bao tinh thần, tượng trưng cho lối sống khép kín, bảo thủ, sợ hãi, xa lánh cuộc sống.

Câu 5 Bài học rút ra là con người không nên sống khép kín, sợ hãi, bảo thủ trước cuộc sống mà cần mở lòng, sống tích cực, dám thay đổi và hòa nhập để xã hội phát triển lành mạnh.


13 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

Câu 2 :

Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.



14 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận rất chặt chẽ và thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu ra luận điểm: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng người hiền tài. Để làm rõ điều đó, ông sử dụng cách lập luận logic từ xưa đến nay: dẫn chứng các triều đại trước biết tiến cử và trọng dụng nhân tài nên đất nước hưng thịnh. Những ví dụ lịch sử cụ thể giúp cho lập luận trở nên rõ ràng, tăng tính thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thực trạng đương thời: nhiều người tài còn ẩn mình, chưa được phát hiện hoặc chưa dám ra giúp nước. Từ đó, ông đưa ra chủ trương và giải pháp như khuyến khích các quan tiến cử người hiền tài, cho phép người có tài tự tiến cử. Cách lập luận vừa có lí lẽ vừa có dẫn chứng xác đáng, kết hợp giọng văn chân thành, khiêm nhường đã thể hiện rõ tinh thần cầu hiền, trọng dụng nhân tài. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tầm nhìn sâu sắc của người lãnh đạo.

Câu 2:

Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều hệ quả đáng lo ngại. Khi nhiều nhân tài ra nước ngoài làm việc, đất nước sẽ mất đi một nguồn lực trí tuệ quý giá để phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới, sáng tạo và giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hơn nữa, việc đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của xã hội. Nếu nguồn nhân lực đó không quay về đóng góp cho đất nước thì sẽ là một sự lãng phí lớn. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, Nhà nước cần xây dựng môi trường làm việc tốt hơn cho người tài, tạo điều kiện để họ nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng để khuyến khích và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, chuyên nghiệp và tôn trọng năng lực cá nhân cũng rất quan trọng. Ngoài ra, mỗi người trẻ khi được học tập và phát triển cũng cần ý thức trách nhiệm của mình đối với đất nước, sẵn sàng cống hiến trí tuệ và tài năng cho sự phát triển chung của xã hội. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là mong muốn chung của toàn xã hội. Khi người tài được trân trọng và tạo cơ hội phát triển, họ sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

17
23 tháng 1 2025

### Câu 1 (0.5 điểm): **Phương thức biểu đạt chính** được sử dụng trong bài là **nghị luận**. --- ### Câu 2 (0.5 điểm): **Chủ thể bài viết** là **vua Lê Lợi**. --- ### Câu 3 (1.0 điểm): **Mục đích chính của văn bản**: Kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước. **Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản**: - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa. - Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử. - Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng, tùy theo tài năng của người được tiến cử. --- ### Câu 4 (1.0 điểm): **Dẫn chứng minh chứng cho luận điểm**: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường: - Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình. - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. **Nhận xét về cách nêu dẫn chứng**: - Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. - Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục. --- ### Câu 5 (1.0 điểm): **Nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết**: - **Có trách nhiệm**: Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người tài giúp sức. - **Khiêm tốn và cầu thị**: Ông không câu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử. - **Sáng suốt và công bằng**: Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dựa trên tài năng và đức độ. - **Quan tâm đến hiền tài**: Hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.

12 tháng 3

Câu 1;

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2;

Chủ thể bài viết; Vua Lê Lợi

Câu 3;

Mục đích chính: Tìm kiếm và kiêu gọi những người hiền tài, có đức, có tài ra gánh vác việc nước, cùng nhà vua xây dựng và phát triển quốc gia sau khi đất nước đã thái bình.

Các đường lối tiến cử người hiền tài :

+Tự mình tiến cử.

+ Tự quan tiến cử .

+Dâng sớ hiến kế.

Câu 4.

Việc đầu tiên vua cần làm; Đó là chọn người hiền tài để giúp đất nước.

Dẫn chứng người viết đưa ra .

Nhận xét cách nêu dẫn chứng .

Câu 5;

Thông qua văn bản, chúng ta thấy chủ thể ( Vừa Lê Lợi) là một vị minh quân có những phẩm chất đáng quý.

+ Cầu thị và khiêm nhường.

+ Tầm nhìn xa trông rộng.

+ Tâm huyết với dân, với nước.

12 tháng 2

Xuân Diệu từng quan niệm “thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”. Câu nói ấy nhấn mạnh sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữa cảm xúc bên trong và vẻ đẹp ngôn từ bên ngoài của một tác phẩm thơ. Đọc “Thu rừng” của Huy Cận, ta có thể thấy rõ sự hòa quyện ấy, làm nên một bài thơ giàu giá trị thẩm mĩ và chiều sâu tâm trạng.

Trước hết, “hồn” của bài thơ chính là bức tranh thu nơi núi rừng cùng tâm trạng bâng khuâng, cô tịch của cái tôi thi sĩ. Huy Cận khắc họa không gian thu với những gam màu đặc trưng: sắc vàng của lá, vẻ trong veo của trời, sự tĩnh lặng của rừng núi. Thiên nhiên hiện lên vừa đẹp vừa vắng lặng, mang nét trầm buồn đặc trưng của hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng. Cảnh thu không chỉ là cảnh vật bên ngoài mà còn là sự phản chiếu tâm trạng. Đằng sau những hình ảnh rừng thu là nỗi buồn mênh mang, cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người giữa vũ trụ bao la. Nỗi buồn ấy không bi lụy mà thấm thía, sâu lắng, thể hiện cái nhìn nhạy cảm và tinh tế của nhà thơ.

Bên cạnh “hồn”, “xác” của bài thơ cũng rất giàu giá trị nghệ thuật. Huy Cận sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, nhiều hình ảnh gợi cảm, nhịp điệu chậm rãi, trầm lắng phù hợp với không khí mùa thu. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được vận dụng tinh tế, giúp cảnh thu trở nên sống động mà vẫn giữ được vẻ thanh sơ. Âm hưởng thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, kết hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc, tạo nên một giai điệu buồn man mác. Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ cảnh đến tình, từ ngoại cảnh đến nội tâm, khiến toàn bài có sự thống nhất và trọn vẹn.

“Thu rừng” vì thế không chỉ hay ở một vài câu thơ riêng lẻ mà hay “cả bài”. Từng hình ảnh, từng nhịp thơ đều góp phần tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa. Nội dung và hình thức nâng đỡ lẫn nhau, cảm xúc và nghệ thuật hòa quyện, làm nổi bật phong cách thơ Huy Cận: trầm buồn, suy tư mà tinh tế.

Qua việc cảm nhận “Thu rừng”, có thể thấy nhận định của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng. Một bài thơ thực sự hay phải là sự kết tinh của tâm hồn và tài năng, của chiều sâu cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật. Chính sự toàn vẹn ấy đã giúp thơ chạm đến trái tim người đọc và sống mãi với thời gian.

20 tháng 1 2025

Thay t=0 và h=1,5 vào \(h=a\cdot t^2+bt+c\), ta được:

\(a\cdot0^2+b\cdot0+c=1,5\)

=>c=1,5

=>\(h=at^2+bt+1,5\)(1)

Thay t=2 và h=5 vào (1), ta được:

\(a\cdot2^2+b\cdot2+1,5=5\)

=>4a+2b=3,5(2)

Thay t=4 và h=4,5 vào (1), ta được:

\(a\cdot4^2+b\cdot4+1,5=4,5\)

=>16a+4b=3(3)

Từ (2),(3) ta có hệ phương trình:

\(\left\{{}\begin{matrix}4a+2b=3,5\\16a+4b=3\end{matrix}\right.\Leftrightarrow\left\{{}\begin{matrix}8a+4b=7\\16a+4b=3\end{matrix}\right.\)

=>\(\left\{{}\begin{matrix}8a+4b-16a-4b=7-3\\4a+2b=3,5\end{matrix}\right.\Leftrightarrow\left\{{}\begin{matrix}-8a=4\\2b=3,5-4a\end{matrix}\right.\)

=>\(\left\{{}\begin{matrix}a=-0,5\\2b=3,5-4\cdot\left(-0,5\right)=5,5\end{matrix}\right.\Leftrightarrow\left\{{}\begin{matrix}a=-0,5\\b=2,75\end{matrix}\right.\)

Vậy: \(h=-0,5t^2+2,75t+1,5\)

Thay t=5,5 vào h, ta được:

\(h=-0,5\cdot5,5^2+2,75\cdot5,5+1,5=1,5\left(mét\right)\)

21 tháng 1 2025

# Nhập số tự nhiên n n = int(input("Nhập số tự nhiên n: ")) # Khởi tạo giá trị tổng S S = 0 # Khởi tạo biến i để tính các phân số 1/2^i i = 0 # Dùng vòng lặp while để tính tổng S while i <= n: S += 1 / (2 ** i) i += 1 # Tăng i lên 1 ở mỗi vòng lặp # In ra kết quả print(f"Tổng S là: {S}") Giải thích chương trình:

12 tháng 2

Câu chủ đề: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Nội dung: Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nêu chân lí độc lập chủ quyền của dân tộc Đại Việt và cơ sở chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống giặc Minh.

Thao tác lập luận chính: Lập luận giải thích kết hợp với chứng minh.

Luận cứ: Nhân nghĩa là vì dân, vì yên dân và trừ bạo, Đại Việt có nền văn hiến lâu đời, có cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán riêng, lịch sử triều đại độc lập sánh ngang với các triều đại phương Bắc, thực tế lịch sử đã chứng minh các triều đại xâm lược đều thất bại.


12 tháng 2

Xét hàm số

y = x√x

Điều kiện xác định
x ≥ 0

Ta có

y = x√x = x^(3/2)

Đạo hàm

y' = (3/2)x^(1/2) = (3/2)√x

Vì √x ≥ 0 với mọi x ≥ 0 nên

y' ≥ 0 với mọi x ≥ 0
và y' = 0 khi x = 0

Suy ra hàm số đồng biến trên [0, +∞)

Kết luận
Hàm số xác định trên [0, +∞) và đồng biến trên toàn bộ tập xác định.

30 tháng 1

Các nguồn lực phát triển kinh tế gồm:


  • Nguồn lực tự nhiên (vị trí địa lí, tài nguyên, khí hậu…)
  • Nguồn lực kinh tế – xã hội (dân cư, lao động, vốn, khoa học – công nghệ, cơ sở vật chất kĩ thuật, chính sách…)



Tác động của nguồn lực vị trí địa lí đến phát triển kinh tế:

Vị trí địa lí thuận lợi giúp mở rộng giao lưu kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển giao thông – thương mại, du lịch và khai thác hiệu quả tài nguyên, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững.


*Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng hợp những yếu tố được sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Có thể chia thành hai nhóm lớn:

+ nguồn lực tự nhiên

+ Nguồn lực kinh tế - xã hội

*Vị trí địa lí là nơi phân bố của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trên Trái Đất, có ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển kinh tế.


+ Tác động tích cực



  • Thuận lợi cho giao lưu kinh tế:
    Vị trí gần biển, nằm trên các tuyến giao thông quốc tế giúp phát triển thương mại, vận tải, logistics, du lịch.
  • Mở rộng hợp tác quốc tế:
    Các quốc gia nằm ở vị trí “cửa ngõ”, “ngã tư giao thương” dễ thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học – công nghệ.
  • Phát triển kinh tế biển và dịch vụ:
    Vị trí giáp biển thuận lợi phát triển đánh bắt – nuôi trồng thủy sản, cảng biển, du lịch biển.




+Tác động hạn chế



  • Vị trí xa thị trường, khó tiếp cận giao thông làm tăng chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa.
  • Những nơi ở vị trí bị chia cắt bởi địa hình hiểm trở hoặc chịu ảnh hưởng của thiên tai thường gặp khó khăn trong phát triển kinh tế.



6 tháng 6 2025

ĐKXĐ: \(2-x^2\ge0\)

=>\(x^2\le2\)

=>\(-\sqrt2\le x\le\sqrt2\)

Ta có: \(x+\sqrt{2-x^2}+x\cdot\sqrt{2-x^2}=3\)

=>\(x-1+\sqrt{2-x^2}-1+\sqrt{2x^2-x^4}-1=0\)

=>\(\left(x-1\right)+\frac{2-x^2-1}{\sqrt{2-x^2+1}}+\frac{2x^2-x^4-1}{\sqrt{2-x^2}\cdot x+1}=0\)

=>\(\left(x-1\right)-\frac{\left(x-1\right)\left(x+1\right)}{\sqrt{2-x^2}+1}-\frac{\left(x-1\right)^2\cdot\left(x+1\right)^2}{\sqrt{2-x^2}\cdot x+1}=0\)

=>\(\left(x-1\right)\left(1-\frac{x+1}{\sqrt{2-x^2}+1}-\frac{\left(x+1\right)^2\cdot\left(x-1\right)}{\sqrt{2-x^2}\cdot x+1}\right)=0\)

=>x-1=0

=>x=1