K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

3 tháng 12 2024

               Giải:

Thời gian hai xe gặp nhau là: 10 : (12 - 4) = 1,25 (giờ)

      1.25 giờ = 1 giờ 15 phút

Vị trí hai người gặp nhau là cách điểm xuất phát của người đi xe đạp là:

          12 x 1,25 = 15 (km)

Kết luận: Thời gian hai người gặp nhau là: 1 giờ 15 phút

Vị trí hai người gặp nhau cách điểm xuất phát của người đi xe đạp là: 12,5 km

          

 

 

   

 

 

2 tháng 12 2024

Khi treo vật 30g thì chiều dài lò xô là 60,5 cm

2 tháng 12 2024

khi treo vật 10g thì lò xo tăng 20,5-20=0,5cm

khi treo vật 30g thì lò xo tăng 0,5.(30 chia 10)= 1,5cm (tỉ lệ thuận)

=> treo vật 30g thì lò xo dài 20+1,5=21,5cm

26 tháng 11 2024

             Giải:

Thời gian bạn Nam đi hết quãng đường dài tám ki-lô-mét là:

               8 : 12 = \(\dfrac{2}{3}\) (giờ)

Áp dụng công thức: vtb = \(\dfrac{s_1+s_2}{t_1+t_2}\) ta có:

Vận tốc trung bình của bạn Nam khi đi từ nhà tới trường là:

             \(\dfrac{6+8}{\dfrac{1}{3}+\dfrac{2}{3}}\) = 14 (km/h)

Kết luận vận tốc trung bình của bạn Nam đi từ nhà đến trường là: 14km/h

 

          

    

25 tháng 11 2024

                           Giải:

a; Thời gian người đó lên dốc là: 120 : 4 = 30 (s)

   Thời gian người đó đi thêm 60 m là: 60 : 5 = 12 (s)

b; Áp dụng công thức: vtb = \(\dfrac{S_1+S_2}{t_1+t_2}\) 

Vận tốc trung bình của người đó trên cả quãng đường là:

          \(\dfrac{120+60}{30+12}\) = \(\dfrac{30}{7}\) (m/s)

Kết luận: a; Thời gian người đó lên dốc là: 30 giây

                   Thời gian người đó đi nốt quãng đường 60m là 12 giây

               b; Vận tốc trung bình trên của người đó là: \(\dfrac{30}{7}\)m/s

     

 

 

 

15 tháng 11 2024

Giới hạn đo là 50cm.
Độ chia nhỏ nhất là:
\(\dfrac{50}{250}=0.2\) (cm)

21 tháng 4

Câu 1.
a.
Khối lượng m = 23,4 g
Thể tích V = 3 cm³

Khối lượng riêng
D = m / V = 23,4 / 3 = 7,8 g/cm³

Giải thích: khối lượng riêng bằng khối lượng chia cho thể tích

b.
Đổi đơn vị
m = 23,4 g = 0,0234 kg
S = 50 cm² = 0,005 m²

Trọng lượng
P = m.g = 0,0234 x 10 = 0,234 N

Áp suất
p = P / S = 0,234 / 0,005 = 46,8 Pa

Giải thích: áp suất bằng lực ép chia cho diện tích bị ép

13 tháng 11 2024

đổi 24\(\dfrac{3}{5}\)m=14,4m; 18\(\dfrac{9}{20}\)phút=8,1phút

Thời gian Nhung đi từ A đến B là

14,4 chia 8,2 ≈ 1,8 phút

Thời gian Nhung đi từ B đến C là

8,1-1,8=6,3 phút

Quãng đường từ C đến B là

14,4-8,6=5,8m

Vận tốc của Nhung khi di chuyển từ B đến C là

5,8 chia 6,3 ≈ 0,92 m/phút

12 tháng 11 2024

Thời gian đi được nửa quãng đường đầu :

\(t_1=\dfrac{s_1}{v_1}=\dfrac{2}{20}=0,1\left(h\right)\)

Thời gian đi được nửa quãng đường sau :

\(t_2=\dfrac{s_2}{v_2}=\dfrac{2}{10}=0,2\left(h\right)\)

Tốc độ trung bình cả quãng đường từ nhà đến trường :

\(v_{tb}=\dfrac{s_1+s_2}{t_1+t_2}=\dfrac{2+2}{0,1+0,2}=13,33\left(km/h\right)\)

12 tháng 11 2024

                  Giải:

Khối lượng riêng của sắt là: 7800kg/m3

Thể tích của thanh sắt là: 

 500cm3 = \(\dfrac{1}{2000}\) m3 

Áp dụng công thức tính khối lượng riêng d = \(\dfrac{m}{v}\) ⇒ m = d.v

Khối lượng của thanh sắt là: 7800 x \(\dfrac{1}{2000}\) = 3,9 (kg)

Kết luận khối lượng của thanh sắt là: 3,9 kg

 

 

 

 

22 tháng 4

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du, được sáng tác vào đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm có tên đầy đủ là “Đoạn trường tân thanh”, được viết bằng thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc nhưng đã được Nguyễn Du sáng tạo lại một cách sâu sắc và mang đậm bản sắc dân tộc. Nội dung chính của Truyện Kiều kể về cuộc đời đầy biến cố của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng phải chịu nhiều đau khổ, lưu lạc suốt mười lăm năm vì chữ hiếu và những bất công trong xã hội phong kiến. Qua đó, tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội tàn bạo, chà đạp lên số phận con người, đồng thời thể hiện niềm cảm thương sâu sắc của tác giả đối với những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Bên cạnh giá trị hiện thực, Truyện Kiều còn mang giá trị nhân đạo to lớn, đề cao quyền sống, khát vọng tình yêu, hạnh phúc và tự do của con người. Về nghệ thuật, tác phẩm đạt đến đỉnh cao với ngôn ngữ giàu hình ảnh, tinh tế, sử dụng điêu luyện thể thơ lục bát và nhiều biện pháp tu từ đặc sắc. Nhờ những giá trị nội dung và nghệ thuật đó, Truyện Kiều không chỉ là niềm tự hào của văn học Việt Nam mà còn có sức sống lâu bền trong lòng người đọc qua nhiều thế hệ.