K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

19 tháng 4

Câu 1. Nhân vật Hoài trong truyện Bồng chanh đỏ của Đỗ Chu hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, giàu tình cảm và gắn bó sâu sắc với quê hương. Hoài yêu thiên nhiên, yêu khu vườn, đặc biệt là cây bồng chanh đỏ, coi đó như một phần thân thiết trong cuộc sống của mình. Khi cây bị chặt, Hoài đau buồn, tiếc nuối, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tình yêu tha thiết với những gì thân thuộc. Qua đó cho thấy Hoài là một đứa trẻ sống tình cảm, biết trân trọng vẻ đẹp giản dị của cuộc sống. Tác giả đã xây dựng nhân vật bằng cách miêu tả tâm lí tinh tế kết hợp với những chi tiết gần gũi, giúp người đọc cảm nhận rõ cảm xúc của Hoài. Qua nhân vật này, tác giả bộc lộ sự trân trọng đối với tuổi thơ và thiên nhiên. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hoài nổi bật ở việc khắc họa nội tâm chân thực, giàu cảm xúc.

Câu 2. Nhân vật Hiền trong truyện cũng là một hình ảnh đẹp của tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên và giàu lòng yêu thương. Hiền gắn bó với Hoài, cùng chia sẻ những kỉ niệm tuổi thơ và tình cảm với cây bồng chanh đỏ. Khi chứng kiến sự thay đổi của cảnh vật, Hiền cũng thể hiện sự tiếc nuối và đồng cảm sâu sắc, cho thấy tâm hồn tinh tế và nhạy cảm. Hiền là người bạn tốt, sống chân thành, biết chia sẻ và đồng cảm với người khác. Tác giả đã xây dựng nhân vật Hiền thông qua hành động, lời nói giản dị nhưng giàu ý nghĩa, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật. Qua đó thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng tuổi thơ và tình bạn trong sáng. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hiền thành công ở sự giản dị, tự nhiên nhưng vẫn gợi nhiều cảm xúc sâu lắng.

21 tháng 11 2024
Câu 1: Phân tích nhân vật Lê Tương Dực

Trong đoạn trích, Lê Tương Dực hiện lên như một nhân vật có chiều sâu tâm lý và tinh thần kiên cường. Là một người con của đất nước, Dực thể hiện sự nhạy cảm trước nỗi đau của dân tộc và trách nhiệm của bản thân trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Từ những dòng suy nghĩ của mình, ta thấy rõ sự trăn trở, lo lắng về tương lai của đất nước. Lê Tương Dực không chỉ đơn thuần là một người lính, mà còn là một người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm, luôn khao khát hòa bình và công lý.

Dực có một lòng yêu nước mãnh liệt, thể hiện qua những hành động và quyết định của mình. Anh không ngại khó khăn, thử thách để bảo vệ quê hương, dù biết rằng cái giá phải trả có thể là tính mạng. Sự dũng cảm của Dực không chỉ nằm ở việc cầm súng chiến đấu, mà còn ở khả năng nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống và những gì mình đang bảo vệ.

Ngoài ra, Dực còn mang trong mình nỗi cô đơn, sự mất mát khi chứng kiến cái chết của đồng đội, điều này càng làm nổi bật tâm hồn nhạy cảm và sâu lắng của anh. Từ đó, nhân vật Lê Tương Dực không chỉ là hình mẫu của một người lính, mà còn là biểu tượng của tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và khát vọng hòa bình trong bối cảnh lịch sử đầy gian nan.

Câu 2: Nghị luận về bệnh vô cảm của giới trẻ hiện nay

Trong xã hội hiện đại, bệnh vô cảm đang trở thành một vấn nạn đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Vô cảm không chỉ là sự thờ ơ trước những vấn đề xã hội, mà còn là sự thiếu kết nối và đồng cảm với những người xung quanh. Tình trạng này đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh vô cảm trong giới trẻ có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố. Đầu tiên, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã khiến cho các mối quan hệ trở nên xa cách hơn. Thay vì giao tiếp trực tiếp, nhiều bạn trẻ chọn cách tương tác qua màn hình, dẫn đến sự thiếu hụt cảm xúc và sự đồng cảm. Thứ hai, áp lực từ học tập, công việc và cuộc sống hàng ngày cũng khiến cho giới trẻ trở nên mệt mỏi, từ đó dẫn đến sự thờ ơ với những vấn đề xung quanh. Cuối cùng, một phần không nhỏ do giáo dục và môi trường sống không khuyến khích sự chia sẻ, đồng cảm và trách nhiệm xã hội.

Hậu quả của bệnh vô cảm là rất nghiêm trọng. Nó không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân mà còn tác động đến cộng đồng. Khi mỗi người đều sống trong sự thờ ơ, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người. Những vấn đề như bạo lực học đường, xung đột xã hội hay thiên tai, dịch bệnh sẽ không nhận được sự quan tâm cần thiết, dẫn đến những hệ lụy khó lường.

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự chung tay từ gia đình, nhà trường và xã hội. Giáo dục cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng sống, khuyến khích sự đồng cảm và tinh thần trách nhiệm. Các hoạt động tình nguyện, thiện nguyện cũng nên được khuyến khích để giúp giới trẻ hiểu rõ hơn về giá trị của việc chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau.

Tóm lại, bệnh vô cảm trong giới trẻ là một vấn đề cần được giải quyết một cách nghiêm túc. Chỉ khi mỗi cá nhân nhận thức được giá trị của sự đồng cảm và kết nối, xã hội mới có thể trở nên tốt đẹp hơn.

16 tháng 12 2025

Câu 1

Trong đoạn trích, Lê Tương Dực không chỉ đơn thuần là một vị vua. Hắn ta còn là một người có óc thẩm mỹ và khao khát những công trình vĩ đại. Chính vì lẽ đó, hắn đã giao trọng trách xây dựng Cửu Trùng Đài cho Vũ Như Tô, bất chấp sự tốn kém và nỗi khổ của dân chúng. Tuy nhiên, sự đam mê nghệ thuật của Lê Tương Dực lại đi kèm với sự độc đoán và tàn bạo. Hắn sẵn sàng trừng phạt những ai dám chống lại ý mình, kể cả những người tài giỏi như Vũ Như Tô. Sự mâu thuẫn trong tính cách của Lê Tương Dực đã góp phần đẩy bi kịch của Vũ Như Tô lên đến đỉnh điểm, đồng thời phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam. Có thể thấy, Lê Tương Dực là một nhân vật đa diện, vừa có những phẩm chất đáng quý, vừa mang trong mình những thói hư tật xấu của một ông vua thời loạn.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.  Lớp VIII Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến. LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào. (Nội giám ra.) TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế. LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc. TRỊNH DUY SẢN - Tâu...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. 

Lớp VIII

Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến.

LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào.

(Nội giám ra.)

TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc.

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng, quả có thế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã phó mặc việc nhớn việc nhỏ cho triều đình, ngươi chắc cũng đã biết. Trẫm còn bận việc Cửu Trùng Đài...

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng làm vua một nước, phải để ý đến mọi việc, phó thác làm sao cho triều đình được. Hoàng thượng không nên quá tin ở các quan. Họ nói rằng thiên hạ thái bình, thực ra phải nói: thiên hạ sắp loạn.

LÊ TƯƠNG DỰC - Vì cớ sao?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên bãi ngay việc xây Cửu Trùng Đài.

KIM PHƯỢNG - Bãi Cửu Trùng Đài!

TRỊNH DUY SẢN - Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn loạn lạc. Hoàng thượng là bậc thanh minh, xin nghĩ lại.

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi hãy lui ra, trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai nữa, lui ra.

TRỊNH DUY SẢN (nói to) - Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!

LÊ TƯƠNG DỰC - Lại mấy đám giặc cỏ chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng không biết rõ. Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã sai tướng đi đánh dẹp.

TRỊNH DUY SẢN - Còn một đám giặc nữa, dân chúng theo có hàng vạn người, thanh thế lừng lẫy...

LÊ TƯƠNG DỰC - Lũ Trần Cao chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng chính vậy. Trần Cao thấy sấm nổi ở phương đông có thiên tử khí, cùng đồ đảng đánh lấy đất Thụy Dương, Đông Triều, tự xưng là Đế Thích giáng sinh, nghiễm nhiên lập một triều đình riêng trong đất Việt... Hiện đã kéo quân đến Đế đô, chực hãm kinh thành.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm phải đợi đến ngươi tâu bầy, thì dễ lũ sương cuồng Trần Cao đã làm cỏ kinh thành. Ngươi cứ yên tâm. Trẫm đã sai An Hòa hầu Nguyễn Hoàng Du sang đóng quân ở Bồ Đề chống giữ, giặc đã chạy về Châu Sơn. Kinh thành này vững như bàn thạch.

TRỊNH DUY SẢN - Đã đủ đâu, còn các nơi?

LÊ TƯƠNG DỰC - Dẹp xong cả.

TRỊNH DUY SẢN - Cũng không hết. Dẹp bọn này, bọn khác lại nổi như đầu Phạm Nhan, bệnh nặng phải trừ từ rễ. Giặc giã nổi lên vì dân gian oán triều đình. Chính sự đổ nát...

KIM PHƯỢNG - Nguyên Quận công ăn nói lạ lùng!

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi không nể mặt trẫm sao? Người trung thần không ai nói thế. Trẫm rộng lượng, vua khác thì ngươi đã không toàn tính mệnh.

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên xét cho lòng thành thực của hạ thần. Chính sự đổ nát lắm rồi. Muốn cho nước yên thì phải thể lòng dân, mà dân bây giờ ai cũng oán Vũ Như Tô, mấy lũ... cung nữ.

KIM PHƯỢNG (quỳ xuống) - Trời ơi! Thần thiếp có tội gì? (Nắm vạt áo long bào khóc).
LÊ TƯƠNG DỰC - Ái khanh đứng dậy. Ái khanh không có tội gì. (Nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ). Ngươi lui ra, ngươi lui ra. Cung nữ là phận liễu bồ không hề bước chân ra khỏi Tử cấm thành, hỏi họ có tội gì? Có ai dọa làm tội thê thiếp ngươi không, Trịnh Duy Sản?

TRỊNH DUY SẢN - Chính họ đưa Hoàng thượng vào con đường tửu sắc, con đường xa xỉ. Chính vì muốn đẹp lòng họ mà Hoàng thượng cho xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là ý trẫm. Ngươi không được nói nữa.

TRỊNH DUY SẢN - Còn như Vũ Như Tô nữa. Nó đã bày vẽ ra Cửu Trùng Đài, hao tiền tốn của vì nó, sưu cao thuế nặng vì nó, triều đình đổ nát, giặc giã như ong là vì nó. Kiệt Trụ mất nước chỉ vì cái bệnh xây cung điện. Xin Hoàng thượng mau mau tỉnh ngộ, tu tỉnh thân mình, xa gái đẹp, đuổi Vũ Như Tô, học thói thanh liêm, thương dân như con kẻo họa đến thân.

LÊ TƯƠNG DỰC - Duy Sản, ngươi bước ngay. Kẻo cái công hãn mã của ngươi trẫm không kể nữa. Trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?

TRỊNH DUY SẢN - Xin Hoàng thượng nghe lời hạ thần đuổi cung nữ, chém Vũ Như Tô... (nắm lấy áo vua).

LÊ TƯƠNG DỰC - Lão ương gàn, quân hủ nho... (rút kiếm) Bước!

TRỊNH DUY SẢN - Hạ thần xin chết về tay Hoàng thượng còn hơn là trông thấy ngày nhà Lê mất nghiệp (quỳ xuống vươn cổ).

(Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Tóm tắt: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm 5 hồi, viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vở kịch xoay quanh cuộc đời nhân vật chính - Vũ Như Tô - một kiến trúc sư tài năng. Lê Tương Dực là một hôn quân, suốt ngày say mê tửu sắc, ăn chơi sa đọa, bỏ bê việc nước. Hắn muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi cùng đám cung nữ. Vũ Như Tô vì quan niệm nghệ thuật thuần khiết, thanh cao đã đưa gia đình đi chốn nhưng vẫn không thể thoát khỏi tay sai của Lê Tương Dực. Khi bị giải vào cung, ông được cung nữ Đam Thiềm thuyết phục và đồng ý xây Cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí vào việc xây dựng cho đất nước một công trình kì vĩ, “tranh tinh xảo với hóa công”, để nước ta không hề thua kém với các nước láng giềng. Thế nhưng, ông đã vô tình gây ra biết bao tai họa cho người dân: Thuế khóa nặng nề, thợ giỏi bị bắt vào cung xây đài, tróc nã, hành hạ những người chống đối, biết bao người chết vì xây Cửu Trùng Đài khiến lòng dân oán hận. Quận công Trịnh Duy Sản đã nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng Lê Tương Dực vẫn chấp mê bất ngộ. Nhân lúc tình hình rối ren, ông đã cầm đầu phe đối lập trong triều, dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài.   

Câu 1. Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc nào?

Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích trên. 

Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

Câu 5. Từ đoạn trích, em có nhận xét gì về bối cảnh xã hội lúc bấy giờ?

12
16 tháng 12 2025

Câu 1

- tái hiện lại sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực

Câu 5

Đất nước loạn lạc, nhân dân khổ cực , vua ham ăn chơi

17 tháng 12 2025

Câu 1. Đoạn trích tái hiện cuộc đối thoại căng thẳng giữa Trịnh Duy Sản và vua Lê Tương Dực, khi Trịnh Duy Sản vào can gián việc xây Cửu Trùng Đài và báo tình hình giặc giã, dân chúng oán loạn. Câu 2. Một lời độc thoại của nhân vật (Trịnh Duy Sản): “Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!” Câu 3. Chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực thể hiện rõ tính cách hoang dâm, độc đoán, nóng nảy, coi thường trung thần, qua các hành động như: cau mặt, xua đuổi, giận dữ, rút kiếm. Câu 4. Biện pháp tu từ liệt kê (kể tên các nơi có giặc, các hành động tàn bạo, nỗi khổ của dân). → Tác dụng: làm nổi bật tình cảnh xã hội loạn lạc, đau khổ cùng cực của nhân dân, tăng sức tố cáo triều đình mục nát. Câu 5. Xã hội lúc bấy giờ rối ren, triều đình thối nát, vua ăn chơi sa đọa, dân chúng lầm than, giặc giã nổi lên khắp nơi, báo hiệu sự sụp đổ tất yếu của vương triều.


19 tháng 4

Câu 1.
Gọi nguyên tử khối của A là a, của B là b

Vì A, B là kim loại hóa trị II nên muối cacbonat có dạng
ACO3, BCO3

Số mol các muối là
nACO3 = 23,5/(a + 60)
nBCO3 = 8,4/(b + 60)

Sau khi hòa tan vào HCl rồi cô cạn, điện phân nóng chảy hoàn toàn thì thu được ở catot các kim loại A và B với số mol đúng bằng số mol muối ban đầu, nên
nA = 23,5/(a + 60)
nB = 8,4/(b + 60)

Khối lượng kim loại tạo ra ở catot là
m = 23,5a/(a + 60) + 8,4b/(b + 60)

Theo đề, phân tử khối oxit của B bằng nguyên tử khối của A
b + 16 = a

Khi cho m gam hỗn hợp A, B tác dụng với H2SO4 dư, số mol H2 thu được là
nH2(AB) = nA + nB

Với m gam Ni, số mol H2 là
nH2(Ni) = m/59

Theo đề
nH2(AB) + nH2(Ni) = 2,675.nH2(Ni)

Suy ra
nA + nB = 1,675.m/59

Thử cặp kim loại hóa trị II thỏa mãn a = b + 16, ta có
Ca và Mg vì 40 = 24 + 16

Kiểm tra
nCaCO3 = 23,5/100 = 0,235 mol
nMgCO3 = 8,4/84 = 0,1 mol

Khối lượng kim loại thu được
m = 0,235.40 + 0,1.24
= 9,4 + 2,4
= 11,8 gam

Số mol H2 do Ca và Mg tạo ra
nH2(AB) = 0,235 + 0,1 = 0,335 mol

Số mol H2 do 11,8 gam Ni tạo ra
nH2(Ni) = 11,8/59 = 0,2 mol

Tổng số mol H2 khi trộn với Ni
0,335 + 0,2 = 0,535 mol

Ta có
0,535/0,2 = 2,675

Đúng với đề bài

Vậy
A là Ca
B là Mg

Khối lượng tạo ra ở catot
mCa = 9,4 gam
mMg = 2,4 gam

Phần trăm khối lượng
%Ca = 9,4/11,8 . 100% ≈ 79,66%
%Mg = 2,4/11,8 . 100% ≈ 20,34%

Kết luận
A là canxi, kí hiệu Ca
B là magie, kí hiệu Mg
Thành phần phần trăm khối lượng ở catot là
Ca 79,66%
Mg 20,34%

10 tháng 12 2024

Nhân vật Đạm Tiên trong Truyện Kiều có số phận đáng thương, cũng là kiếp “hồng nhan bạc mệnh” mà Nguyễn Du vô cùng xót thương. Lúc còn trẻ, nàng nổi danh “tài sắc”, tiếng vang khắp thiên hạ. Tuy nhiên, thân phận ca nhi trong xã hội xưa vốn thấp hèn, bị người đời coi thường, là món hàng mua vui cho nam nhân. Cũng có khách làng chơi mến vì tài sắc, tìm đến với mong muốn được yêu thương nàng. Nhưng thật đáng tiếc, mệnh nàng ngắn ngủi, chưa kịp đón nhận hạnh phúc đã đoản mệnh, khiến cho người khách khóc than, tiếc nuối vì mối tình “vô duyên”. Người tri kỉ chỉ có thể an táng nàng chu đáo nhất. Nhưng càng đáng thương hơn khi phần mộ của nàng kể từ đó về sau không ai trông coi, chăm sóc, thành ngôi mộ vô chủ. Linh hồn nàng hẳn là cô đơn, đau đớn lắm! Đại thi hào Nguyễn Du xót thương cho thân phận người mệnh bạc nên đã dành cho nàng những hình ảnh thơ trang trọng nhất: hồng nhan, gãy cành thiên hương, trâm gãy, bình rơi; nếp tử, xe châu….. Đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du, không chỉ thương cho người sống mà còn thương cho cả những linh hồn đã khuất.

15 tháng 12 2025

Câu 1

Bài làm

Trong đoạn trích "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, nhân vật Đạm Tiên dù chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nàng là một ca nữ tài sắc vẹn toàn, nổi tiếng một thời về nhan sắc và tài hát xướng. Tuy nhiên, cũng như bao hồng nhan tài tử khác trong xã hội phong kiến, nàng phải chịu đựng số phận bi kịch, bạc mệnh, chết khi còn trẻ và trở thành oan hồn không nơi nương tựa. Ngôi mộ hoang lạnh ven đường không người hương khói chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự phũ phàng của tạo hóa và định mệnh nghiệt ngã.Thông qua Đạm Tiên, Nguyễn Du đã gửi gắm tấm lòng nhân đạo sâu sắc, sự đồng cảm xót thương vô hạn đối với những kiếp người tài hoa nhưng lận đận. Đặc biệt, sự xuất hiện của Đạm Tiên còn đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo trước về tương lai đầy sóng gió, khổ đau và bi kịch mà nhân vật chính Thúy Kiều sắp phải trải qua, củng cố thêm cho chủ đề chính của tác phẩm là "tài tình lận đận".

Câu 2

Bài làm

(4.0 điểm) Đọc văn bản sau: Sè sè nấm đất bên đàngDầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh,Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” Vương Quan mới dẫn gần xa:“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1). Nổi danh tài sắc một thì,Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh(2),Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3). Có người...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản sau:

Sè sè nấm đất bên đàng
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta!
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Bụi hồng một nấm(8), mặc dầu có hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!”
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã dầm dầm châu sa(10):
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, GS. Vũ Ngọc Khánh chú giải và khảo cứu, NXB Văn học, tr.16 – 17)

Chú thích: 

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời. 

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Xác định kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ sau:

Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thuý Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thuý Kiều là người con gái như thế nào?

Câu 5. Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, em rút ra được bài học gì cho bản thân? Vì sao?

76
14 tháng 12 2025

Thể thơ lục bát


18 tháng 12 2025

Câu 1 Văn Bản trên được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2 hai Dòng thơ

"Rằng:'Sao trong tết Thanh Minh

Mà đây Hương khói vắng tanh thế mà?"'

Sử dụng lời thoại trực tiếp dc đặt trong dấu ngoặc kép có từ dẫn' rằng'

Câu 3

Tac gia su dung nhieu tu lay goi hinh,goi cam nhuw xo xac, raafu raafu



20 tháng 11 2024

cánh đồng lúa , giếng , ao cá ,...  các bác nông dân làm ruộng ,...

20 tháng 11 2024

ko biết

20 tháng 11 2024

he

 

19 tháng 4

Gọi V ml là thể tích rượu etylic nguyên chất có trong 20 ml dung dịch

Khối lượng C2H5OH nguyên chất là
m = 0,8V (g)

Số mol C2H5OH là
n(C2H5OH) = 0,8V / 46

Phương trình phản ứng
2C2H5OH + 2Na -> 2C2H5ONa + H2

Theo phương trình
n(H2) = n(C2H5OH) / 2 = 0,8V / 92

Ta có
V(H2) = 28,37 l

Ở đktc
n(H2) = 28,37 / 22,4 ≈ 1,267 mol

Suy ra
0,8V / 92 = 1,267

V = 1,267 . 92 / 0,8 ≈ 145,7 ml

Điều này vô lí vì thể tích rượu nguyên chất không thể lớn hơn 20 ml dung dịch

Vậy đề bài có dữ kiện sai, rất có thể 28,37 l phải là 283,7 ml hoặc 2,837 l

Nếu là 283,7 ml khí H2 thì
n(H2) = 0,2837 / 22,4 ≈ 0,01267 mol

n(C2H5OH) = 2 . 0,01267 = 0,02534 mol

m(C2H5OH) = 0,02534 . 46 ≈ 1,166 g

V(C2H5OH) = 1,166 / 0,8 ≈ 1,457 ml

Độ rượu là
C = 1,457 / 20 . 100% ≈ 7,29%

Kết luận
Với dữ kiện 28,37 l thì bài toán vô lí, không có đáp án đúng

19 tháng 11 2024

Câu 1: D

Câu 2: B

Câu 3: B