K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 15.11.1971             Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu điều, bị tàn phá ngày 29.2.1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào. Hẳn đó cũng là khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.

15.11.1971     

       Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu điều, bị tàn phá ngày 29.2.1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào. Hẳn đó cũng là khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời.

      Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều, bị ném 40 quả bom. Điện bị đứt lung tung. Làng xóm chìm trong tang tóc và bóng đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu khói. Anh Phúc bị bom tiện đứt cả chân tay, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc nứa thổi phừng phừng, cái xe bò lăn lộc cộc… Sao giống “chiếc quan tài” như thế.

      Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu. Dưới tay em lẽ ra là chậu nước trong mát - cái biển mênh mông của tuổi thơ hồn nhiên, nhí nhảnh… Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta - cái day dứt trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn - xọc lê vào thỏi tim đen đủi của quân thù.

      Ta ngồi đây, thanh bình như thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc đang đổ máu, đang giập gẫy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đày đọa và các đồng chí của ta, anh Giải phóng quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung trận, đang đói rét và đau nhói vết thương, trên một cánh rừng già.

      Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ. Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ - Ta lại trở về với cái ngõ nhỏ của mình… Lạc lõng ư? Có lẽ nào!

      Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu.

       Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn… Các anh đêm nay ở đâu trên Tổ quốc? Các anh có viết những bài thơ, những truyện ngắn vào giờ này? Ôi, những nhà thơ, nhà văn - chiến sỹ, ta gặp nhau trên cùng một ước mơ làm nhiều cho Tổ quốc. Chúng ta có mặt trên trận tuyến ác liệt nhất, khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.

       Ta bỗng nhớ câu thơ của Hồng Chính Hiền:

      “Thương nhau, thương nhau nên hóa gần nhau

      Nghe cả tiếng hiệp đồng qua hơi thở…”

      Các anh có nghe tiếng tôi? Tiếng của đứa trẻ bước chập chững vào đời với bao thôi thúc, bao niềm tin, hy vọng?

(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những dấu hiệu của tính phi hư cấu được thể hiện qua văn bản. 

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu.

Câu 4. Trình bày hiệu quả của việc kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản.

Câu 5. Anh/chị có suy nghĩ gì, cảm xúc gì sau khi đọc đoạn trích? Chi tiết nào để lại ấn tượng đặc biệt cho anh/chị? Vì sao?

13
12 tháng 11 2024

Câu 1: Thể loại của văn bản là nhật ký.

Câu 2: Những dấu hiệu của tính phi hư cấu trong văn bản:

Văn bản ghi lại các sự kiện thực tế, như việc làng xóm bị tàn phá vào ngày 29.2.1968, hoặc việc bị ném bom làm điện đứt và cảnh tang tóc trong làng.

Nhân vật trong văn bản là tác giả tự xưng “ta”, trải nghiệm và cảm nhận chân thực về cuộc sống thời chiến.

Các chi tiết miêu tả rất cụ thể, sống động và có tính cá nhân cao, làm nổi bật tâm tư, tình cảm của một người lính trẻ trong thời chiến.

Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu” là điệp ngữ ("không quên" lặp lại hai lần). Tác dụng của biện pháp này là nhấn mạnh cảm xúc đau đớn, khắc sâu sự phẫn nộ và ám ảnh của người lính trước sự tàn bạo của chiến tranh, khiến cho hình ảnh bi thương của em bé miền Nam trở nên rõ nét và ám ảnh trong tâm trí người đọc.

Câu 4: Việc kết hợp các phương thức biểu đạt như tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận trong văn bản có hiệu quả sau:

Tự sự giúp câu chuyện trở nên chân thực, như một mẩu ký ức sống động về chiến tranh.

Miêu tả làm nổi bật hình ảnh đau thương của làng xóm và sự khốc liệt của bom đạn, tạo sức gợi hình cao.

Biểu cảm thể hiện tâm trạng, cảm xúc mãnh liệt của tác giả như sự đau đớn, căm phẫn trước kẻ thù, đồng thời là lòng yêu nước cháy bỏng.

Nghị luận thể hiện suy tư, trăn trở của người lính về ý nghĩa của việc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Câu 5:

Sau khi đọc đoạn trích, mình cảm thấy xúc động và khâm phục tinh thần yêu nước của những người lính trẻ thời chiến. Họ không chỉ chịu đựng đau đớn, mất mát mà còn giữ vững lý tưởng và khao khát được chiến đấu bảo vệ quê hương. Chi tiết để lại ấn tượng đặc biệt là cảnh "em bé miền Nam đập tay lên vũng máu". Hình ảnh này gây xúc động mạnh, vì nó biểu tượng cho nỗi đau và mất mát của dân thường vô tội trong chiến tranh, đặc biệt là trẻ em, những người đáng lẽ ra được sống trong bình yên.

14 tháng 12 2025

Câu 1 : Thể loại của văn bản là tuỳ bút.

Câu 2 : Những dấu hiệu của phi hư cấu được giới thiệu qua văn bản là :

Tính xác thực của sự kiện và nhân vật: Tác giả nhắc trực tiếp đến những địa danh, thời điểm lịch sử cụ thể và tên đồng đội có thật:

Thời điểm: 29/2/1968 (ngày diễn ra trận đánh ác liệt tại làng xóm tiêu điều).

Địa danh: miền Nam, Huế, Sài Gòn, Trường Sơn (con đường huyền thoại).

Nhân vật: Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn (những nhà thơ, nhà văn - chiến sĩ nổi tiếng cùng thời).

Giọng văn trực tiếp, độc thoại nội tâm: Văn bản sử dụng ngôi "ta", "mình" để bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc của người kể chuyện, tạo cảm giác người đọc đang đối diện với những lời tự sự chân thật, không hề qua hư cấu.

Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng là Điệp ngữ (điệp cấu trúc) kết hợp với Phủ định và Khẳng định tuyệt đối.

Phân tích tác dụng:

Điệp ngữ "ta không quên": Lặp lại hai lần, biến lời khẳng định từ một lời thề cá nhân trở thành một khắc ghi vĩnh cửu trong tâm trí người lính. Nó nhấn mạnh sự kiện không chỉ là một kỷ niệm mà là một vết thương không bao giờ lành của lịch sử và lương tâm.

Sự đối lập mạnh mẽ: Cảnh tượng "em bé miền Nam" ngây thơ, nhỏ bé lại đối diện và chạm tay vào "vũng máu" - biểu tượng của chiến tranh tàn khốc. Hình ảnh này tạo ra một sự tương phản ghê rợn, chạm đến tận cùng nỗi đau và sự mất mát.

Tác dụng biểu cảm: Câu văn trở thành một lời tuyên thệ đanh thép, vừa là lời tố cáo tội ác chiến tranh một cách chân thực nhất, vừa là nguồn động lực không bao giờ cạn để người lính tiếp tục chiến đấu cho một nền hòa bình. Sự việc này đã vượt qua ranh giới của một câu chuyện, trở thành một chứng nhân lịch sử không thể chối cãi.

Câu 4 :

Đoạn trích sử dụng thành công sự kết hợp giữa Tự sự, Biểu cảm và Nghị luận, tạo nên hiệu quả nghệ thuật toàn diện:

1. Tự sự: Dùng để tái hiện chân thực bối cảnh và sự kiện lịch sử (trận đánh 29/2/1968), tạo nền tảng vững chắc cho cảm xúc.

2. Biểu cảm: Bộc lộ trực tiếp nỗi đau xót và tình yêu Tổ quốc ("Đêm ấy, thật đau lòng"), giúp người đọc đồng cảm sâu sắc với tâm trạng người lính.

3. Nghị luận: Khẳng định lý tưởng và ý chí chiến đấu cao đẹp ("có gì tự hào hơn nữa"), nâng tầm câu chuyện cá nhân thành tư tưởng dân tộc.

Câu 5 :

Đọc đoạn trích là một hành trình chạm vào nỗi đau và niềm kiêu hãnh của một thế hệ. Giữa những dòng chữ, tôi cảm nhận rõ sự rung động tận cùng trước lý tưởng sống lãng mạn nhưng vô cùng khắc nghiệt của người lính. Họ ra trận không chỉ bằng nhiệt huyết tuổi đôi mươi, mà còn bằng những trăn trở sâu sắc: "Ta lại trở về với cái nhỏ nhoi của mình... Lạc lõng ư? Có lẽ nào!" – những câu hỏi tu từ này đã lột tả sự cô đơn, chênh vênh thường trực dưới làn mưa bom bão đạn.

Chi tiết để lại ấn tượng ám ảnh nhất, làm trái tim tôi đau thắt lại, chính là hình ảnh "em bé miền Nam đập tay lên vũng máu" và nước mắt em hóa thành "châu nước trong mắt". Đây không chỉ là một ghi chép chiến trường mà là một biểu tượng bi tráng của cuộc chiến. Sự ngây thơ của em bé đối lập với sự tàn khốc của máu đã tạo nên một lời tố cáo mạnh mẽ, vượt lên trên mọi ngôn từ. Chi tiết này buộc người lính phải khắc ghi, phải chiến đấu không chỉ vì lý tưởng lớn lao mà còn vì sự hồn nhiên đang bị đánh cắp của đồng bào. Nó biến nỗi đau thành lời thề, khẳng định rằng tuổi trẻ "mãi mãi tuổi hai mươi" đã sống một đời sống không hề vô nghĩa.







Đề thi đánh giá năng lực

11 tháng 11 2024

nam có 25 viên bi, bạn đăng nhiều hơn bạn nam 5 viên bi, nhưng ít hơn bạn hoà 5 viên. hỏi trung bình mỗi bạn có bao nhiêu viên

18 tháng 12 2025

câu 1:

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật đặc sắc của đại thi hào. Về nội dung, tác giả đã khắc họa hàng loạt kiếp người bất hạnh trong xã hội phong kiến: người lính chết nơi chiến trận, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất không nơi nương tựa. Dù xuất thân và hoàn cảnh khác nhau, họ đều chung số phận đau khổ, bị cuộc đời vùi dập. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót thương chân thành đối với con người, đặc biệt là những thân phận nhỏ bé, bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, giọng điệu ai oán, thống thiết. Việc sử dụng nhiều từ láy gợi hình, gợi cảm như “lập lòe”, “văng vẳng” đã khắc họa không gian u tối, tăng sức ám ảnh cho bức tranh về cõi âm. Ngôn ngữ bình dị nhưng giàu giá trị biểu cảm góp phần làm nổi bật tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, khẳng định tấm lòng yêu thương con người của Nguyễn Du.

câu 2:

Trong những năm gần đây, thế hệ gen Z thường xuyên bị gắn với nhiều định kiến tiêu cực như: sống thực dụng, lười biếng, thiếu kiên trì, làm việc “nhảy việc”, đề cao cái tôi và lệ thuộc mạng xã hội. Những nhận xét ấy xuất hiện dày đặc trên truyền thông và trong các cuộc trò chuyện giữa các thế hệ. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ người trẻ, những định kiến đó vừa có phần đúng, vừa mang tính quy chụp và chưa phản ánh đầy đủ bản chất của gen Z.


Trước hết, cần thừa nhận rằng một bộ phận gen Z tồn tại những biểu hiện đáng lo ngại: dễ nản, thiếu định hướng lâu dài, quá coi trọng cảm xúc cá nhân. Việc tiếp cận công nghệ sớm khiến nhiều bạn trẻ quen với nhịp sống nhanh, thích kết quả tức thì, từ đó khó thích nghi với môi trường làm việc đòi hỏi kỷ luật và bền bỉ. Những hạn chế này là có thật và gen Z cần nhìn nhận nghiêm túc để tự điều chỉnh.


Tuy nhiên, sẽ là thiếu công bằng nếu chỉ nhìn gen Z qua những điểm yếu ấy. Trên thực tế, gen Z là thế hệ năng động, sáng tạo và có khả năng thích nghi rất cao. Chúng tôi lớn lên trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế và áp lực cạnh tranh toàn cầu. Vì vậy, gen Z có xu hướng linh hoạt trong lựa chọn công việc, coi trọng môi trường phù hợp thay vì gắn bó cứng nhắc. Điều này không đồng nghĩa với thiếu trách nhiệm, mà là cách người trẻ tìm kiếm giá trị và ý nghĩa cho bản thân.


Bên cạnh đó, gen Z cũng là thế hệ dám lên tiếng, dám bảo vệ quan điểm và các giá trị nhân văn như sức khỏe tinh thần, bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt. Việc bị cho là “quá nhạy cảm” đôi khi thực chất xuất phát từ mong muốn được lắng nghe và được sống đúng với bản thân. Không ít bạn trẻ đã chứng minh năng lực qua học tập, khởi nghiệp, nghiên cứu khoa học và đóng góp tích cực cho cộng đồng.


Từ góc nhìn người trẻ, vấn đề không nằm ở việc phủ nhận hay phản kháng các định kiến, mà ở sự đối thoại và thấu hiểu giữa các thế hệ. Gen Z cần rèn luyện kỷ luật, trách nhiệm và bản lĩnh để hành động thay cho lời nói. Ngược lại, xã hội và các thế hệ đi trước cũng cần nhìn gen Z bằng cái nhìn cởi mở, công bằng hơn, tránh đánh đồng cá nhân với hiện tượng.


Tóm lại, gen Z không hoàn hảo, nhưng cũng không đáng bị quy chụp bởi những định kiến phiến diện. Khi được định hướng đúng và trao cơ hội, thế hệ trẻ hoàn toàn có thể trở thành lực lượng tích cực, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và nhân văn hơn.


18 tháng 12 2025

Định kiến tiêu cực về Gen Z trong lối sống và cách làm việc là một vấn đề phổ biến hiện nay. Nhiều người cho rằng Gen Z là thế hệ "lười biếng", "thiếu kiên nhẫn" và "chỉ biết hưởng thụ". Tuy nhiên, từ góc nhìn của một người trẻ, đây là một thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để thế hệ này thể hiện bản lĩnh và thay đổi nhận thức xã hội.


Gen Z là thế hệ sinh ra trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, với sự phổ biến của internet và mạng xã hội. Điều này giúp họ trở nên linh hoạt, sáng tạo và có khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường mới. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà nhiều người cho rằng họ thiếu kiên nhẫn và chỉ biết hưởng thụ.


Thực tế, Gen Z là thế hệ có ý thức cao về môi trường, xã hội và công bằng. Họ quan tâm đến các vấn đề toàn cầu và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội. Họ cũng có khả năng tự học hỏi và phát triển bản thân một cách nhanh chóng.


Để thay đổi nhận thức xã hội, Gen Z cần phải thể hiện bản lĩnh và khả năng của mình. Họ cần phải chứng minh rằng họ có thể làm được những việc lớn lao và có ý nghĩa. Đồng thời, họ cũng cần phải học hỏi và phát triển bản thân để trở thành những người có giá trị.


T, xã hội cũng cần phải thay đổi cách nhìn nhận về Gen Z. Thay vì chỉ trích và định kiến, chúng ta nên tạo điều kiện và cơ hội cho họ phát triển. Chúng ta cần phải hiểu rằng Gen Z là thế hệ tương lai, và họ sẽ là những người quyết định tương lai của chúng ta.


Vậy, làm thế nào để thay đổi nhận thức xã hội về Gen Z? Trước hết, chúng ta cần phải hiểu và tôn trọng sự khác biệt của họ. Chúng ta cần phải tạo điều kiện cho họ phát triển và thể hiện bản lĩnh của mình. Chúng ta cũng cần phải học hỏi từ họ, vì họ là thế hệ mới và có nhiều ý tưởng sáng tạo.


Tóm lại, định kiến tiêu cực về Gen Z là một vấn đề phổ biến, nhưng cũng là cơ hội để thế hệ này thể hiện bản lĩnh và thay đổi nhận thức xã hội. Chúng ta cần phải hiểu và tôn trọng sự khác biệt của họ, tạo điều kiện cho họ phát triển và học hỏi từ họ.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.      Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,      Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,          Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.      Buổi chiến trận mạng người như rác,      Phận đã đành đạn lạc tên rơi,          Lập lòe ngọn lửa ma trơi, Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!      Cũng có kẻ...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.

     Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

     Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,

         Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

     Buổi chiến trận mạng người như rác,

     Phận đã đành đạn lạc tên rơi,

         Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

     Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,

     Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

         Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

     Sống đã chịu một đời phiền não,

     Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

         Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

     Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

     Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

     Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

                                  (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1))

Chú thích: 

Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812).

Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên. 

Câu 2. Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích.

Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ dưới đây:

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Câu 4. Phát biểu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích.

Câu 5. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc ta (trình bày khoảng 5 - 7 dòng).

95
12 tháng 11 2024

Tiếp

BÀI 3

 

16 tháng 12 2025

Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên là: Biểu cảm, Tự sự, Miêu tả.

Câu 2: Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: người lính, người phụ nữ lỡ làng, người hành khuất

Câu 3:

11 tháng 11 2024
Câu 1 (2 điểm): Phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp.

Văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp thuyết phục người đọc nhờ sự kết hợp khéo léo giữa miêu tả thiên nhiên tươi đẹp và sự thức tỉnh của nhân vật trước hành động tàn bạo với thiên nhiên. Truyện mở đầu với những mô tả đẹp đẽ, tinh tế về thiên nhiên: “cây cối nhú lộc non”, “rừng xanh ngắt và ẩm ướt” khiến người đọc cảm nhận được vẻ đẹp trong trẻo, mát mẻ của thiên nhiên. Tuy nhiên, sự tương phản giữa vẻ đẹp ấy và hành động đi săn của nhân vật chính – ông Diều – lại tạo ra một mâu thuẫn gay gắt. Khi thiên nhiên đang căng tràn sức sống, ông Diều lại lựa chọn săn bắn, một hành động tàn phá môi trường sống, khiến ông phải đối diện với cảm giác tội lỗi và hối hận.

Điểm thuyết phục trong văn bản là cách nhà văn đã để nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên thông qua dòng tâm trạng của ông Diều. Nhờ những chi tiết đầy cảm xúc, như tiếng gọi của khỉ đực và khỉ con, hay sự ám ảnh của rừng sâu, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng một thông điệp mạnh mẽ về việc con người cần phải bảo vệ thiên nhiên, chứ không phải chỉ coi đó là một công cụ để thỏa mãn thú vui cá nhân. Cách tiếp cận này không chỉ thể hiện tài năng của nhà văn mà còn tạo ra sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc, khiến họ phải suy nghĩ lại về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.

Câu 2 (4 điểm): Nghị luận về vấn đề thu gom rác thải của giới trẻ hiện nay

Trong những năm gần đây, trên mạng xã hội, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những clip ghi lại quá trình thu gom rác thải tại các ao hồ, bãi biển hay chân cầu của các bạn trẻ trên khắp cả nước. Đây là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, không chỉ về mặt môi trường mà còn thể hiện trách nhiệm và tinh thần cống hiến của thế hệ trẻ đối với cộng đồng và thiên nhiên.

Trước hết, việc thu gom rác thải tại các khu vực công cộng, đặc biệt là các ao hồ, bãi biển, là hành động thiết thực giúp bảo vệ môi trường. Các khu vực này thường xuyên bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là do rác thải nhựa. Việc dọn dẹp, thu gom rác giúp làm sạch không gian sống, bảo vệ hệ sinh thái, động vật hoang dã và làm cho những địa điểm này trở nên trong lành hơn. Hơn nữa, việc các bạn trẻ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường còn tạo ra một ý thức cộng đồng mạnh mẽ, lan tỏa thông điệp về việc giảm thiểu rác thải, bảo vệ hành tinh.

Thứ hai, hành động thu gom rác không chỉ giúp môi trường mà còn giáo dục mọi người về trách nhiệm bảo vệ trái đất. Những clip được đăng tải trên mạng xã hội không chỉ ghi lại những khoảnh khắc của việc làm sạch mà còn truyền cảm hứng cho nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, về sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Những hình ảnh các bạn trẻ lao động miệt mài, cặm cụi thu gom từng túi rác, chiếc chai nhựa hay mảnh vỡ, khiến nhiều người phải suy nghĩ về hành động của chính mình. Họ cũng hiểu rằng, nếu mỗi cá nhân đều có trách nhiệm, cộng đồng sẽ thay đổi được diện mạo của môi trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những hành động đáng khen ngợi này, vẫn còn một số vấn đề cần được khắc phục. Đầu tiên, sự tham gia của giới trẻ trong các chiến dịch bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế, chưa đủ mạnh mẽ để tạo ra sự thay đổi rõ rệt. Mặc dù các clip thu gom rác được chia sẻ rộng rãi, nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở việc cổ vũ tinh thần mà thiếu đi những giải pháp thiết thực để giảm thiểu ô nhiễm, chẳng hạn như việc hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa, tăng cường tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Thêm vào đó, một số nơi tổ chức thu gom rác vẫn còn thiếu sự chuẩn bị chu đáo, thiếu sự phối hợp với các cơ quan chức năng, khiến hiệu quả công việc không được như mong muốn.

Từ góc nhìn của người trẻ, tôi tin rằng hành động thu gom rác thải, dù chỉ là một việc làm nhỏ, nhưng lại có tác dụng lớn trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị nhân văn. Chúng ta không chỉ cần dọn dẹp rác thải, mà còn phải giáo dục mỗi người về trách nhiệm của mình đối với hành tinh, bảo vệ môi trường sống không chỉ cho hôm nay mà còn cho các thế hệ tương lai. Vì thế, bên cạnh những hành động cụ thể, chúng ta cần có những biện pháp giáo dục dài hạn, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường từ khi còn nhỏ, đồng thời khuyến khích các bạn trẻ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động bảo vệ trái đất.

Trong bối cảnh môi trường đang ngày càng bị đe dọa bởi con người, mỗi hành động dù nhỏ của giới trẻ đều có thể tạo ra những tác động tích cực. Cần tiếp tục phát huy những hoạt động như vậy và biến chúng thành phong trào rộng lớn, mạnh mẽ, lan tỏa tới mọi tầng lớp xã hội, góp phần bảo vệ một tương lai xanh sạch đẹp cho thế hệ mai sau.

phải ko cô    

 

 
11 tháng 11 2024

@

Nguyễn Thị Trúc Nhi copy thì ghi hai từ "Tham khảo" in đậm ẠAA

 

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.  CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP        […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.        Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

       […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.

       Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của người kể chuyện “được đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần”. Chỉ cần ba câu văn ngắn gọn, người kể chuyện đã gợi cho người đọc một không gian rất gần gũi, thân thuộc với con người. Thế nhưng không gian ấy dường như đối lập với suy nghĩ của ông Diểu, nhân vật chính trong truyện.

       Đọc truyện, người đọc không khỏi ám ảnh cảnh đi săn của ông Diểu. Khi thiên nhiên căng tràn sức sống, xanh tươi, mưa xuân ấm áp, rừng ẩm ướt cũng là thời điểm ông Diểu chọn đi săn và xem đó là cái thú đáng sống. […] Xưa nay, con người luôn có khát vọng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, khẳng định sức mạnh và lòng quả cảm của con người. Thế nhưng tàn sát, hủy hoại thiên nhiên ấy lại là tội lỗi. Tiếng gọi buồn thảm, đau đớn của khỉ đực, tiếng rú thê thảm của khỉ con dưới vực sâu xoáy vào lòng người đọc tiếng gọi của rừng sâu, ám ảnh người đi săn. Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật. […] Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông: “Ông Diểu sợ hãi run lên.”, “Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng.”. Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình. Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.

       Vẻ đẹp của sự hướng thiện

       Đi săn vào một ngày xuân đối với ông Diểu là điều đáng sống, là cơ hội để ông Diểu “khoe” cái sự dẻo dai, nhanh nhẹn và lòng dũng cảm của mình ở tuổi sáu mươi. Thế nhưng khi hạ gục được con mồi, ông Diểu lại hoảng sợ nghĩ mình đang làm điều ác. Chứng kiến sự hoảng loạn của đàn khỉ, khỉ cái liều mạng quay lại cứu khỉ đực ông Diểu day dứt: “Ông sẽ chết trước hai năm nếu bắn khỉ cái.”. Ông Diểu đã tha cho khỉ cái vì sự cuồng nhiệt hi sinh, bởi lòng cao thượng của nó. Gặp lại con khỉ đực ông vừa mới bắn đang nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh, nhìn khỉ đực bị thương giương ánh mắt cầu khẩn về phía mình, ông Diểu thương hại vơ nắm cỏ Lào vò nát, nhai kĩ đắp vết thương, cởi quần lót bó vết thương cho khỉ đực. Ông Diểu vừa bế khỉ đực vừa tìm đường xuống núi với ý nghĩ sẽ bắt con khỉ đực về, mặc cho ông phải bỏ lại quần áo. Nhưng khi thấy khỉ cái lẽo đẽo đằng sau, lầm lũi xuyên rừng, ông Diểu thấy lòng buồn tê tái, sống mũi cay cay. Ông đã quyết định phóng sinh khỉ đực, rẽ sang lối đi khác. Điều gì đã khiến nhân vật hướng thiện nếu không phải là tình yêu? Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng gợi cho nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật những rung cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên. Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật.

       Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người

       Truyện kết thúc bằng hình ảnh ông Diểu trở về nhà qua lối đi khác: “Lối đi đầy bụi gai, nhưng loài hoa tử huyền nhiều không kể xiết.”, “Hoa tử huyền màu trắng, vị mặn, nhỏ như đầu tăm ba chục năm kết muối một lần, điềm báo may mắn, đất nước thanh bình.”. Lối đi khác mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thay đổi nhận thức và hành động của nhân vật. Loài hoa tử huyền mang ý nghĩa biểu tượng cho những điều tốt đẹp. Một người như ông Diểu khao khát chinh phục tự nhiên, ý thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, có tấm lòng hướng thiện sẽ đón nhận những điều tốt lành trong cuộc đời.

       Khép lại trang truyện “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình thay đổi nhận thức và vẻ đẹp trong tâm hồn của của nhân vật yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp. Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện. Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”.

(Chu Thị Hảo, đăng trên taodan.com.vn, bài đăng ngày 18/9/2024)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.

Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.

Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.

Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.

54
14 tháng 12 2025

câu 1: Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng"

Câu 2 : Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.

câu 3

Mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất.

  • Nhan đề "Vẻ đẹp của sự hướng thiện" bao quát được nội dung chính của văn bản. Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "làm điều ác" (đi săn) sang hành động "hướng thiện" (cứu khỉ) của nhân vật ông Diểu. Hành động hướng thiện này chính là điểm mấu chốt tạo nên "vẻ đẹp" trong tâm hồn nhân vật mà văn bản muốn nhấn mạnh và phân tích.

Câu 4

BPTT : Liệt Kê

Tác dụng

Tăng sức gợi hình gợi cảm : Liệt kê hàng loạt các hình ảnh (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú) giúp người đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về không gian rừng núi, sự phong phú của thế giới tự nhiên và các âm thanh đang diễn ra.

Nhấn mạnh sự đối lập và xung đột

Làm nổi bật nguyên nhân

Câu 5

Mục Đích : Nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, kêu gọi nhận thức về trách nhiệm của con người đối với sự sống và môi trường tự nhiên.

Quan điểm : Quan điểm tiến bộ, nhân văn và tích cực. Người viết tin rằng: Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng thức tỉnh lương tri của con người (Quan điểm Thiên nhiên thức tỉnh nhận thức). Sự thay đổi, hướng thiện là một quá trình đáng trân trọng và cần được nhìn nhận một cách nhân ái (Quan điểm Hướng thiện là vẻ đẹp).

Tình cảm :

Trân trọng, ngợi ca và yêu mến đối với thiên nhiên và những hành động thiện lương. Thể hiện sự đồng cảm với quá trình chuyển biến nội tâm phức tạp của nhân vật ông Diểu, kết hợp với thái độ phê phán nhẹ nhàng hành động hủy hoại thiên nhiên ban đầu của con người.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

-Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua vẻ đẹp thiên nhiên, sự hướng thiện của con người và sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên.

Câu 2.

-Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:

“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”

Câu 3.

Mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung văn bản:

-Nhan đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận là “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng.

-Nội dung văn bản phân tích cụ thể các biểu hiện của cái đẹp, làm sáng tỏ và khẳng định ý nghĩa của nhan đề.

Câu 4.

-Biện pháp liệt kê được sử dụng ở các chi tiết: “chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, ba con khỉ” và “tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con”.

-Tác dụng: làm nổi bật sự phong phú, sinh động của thiên nhiên và tạo sự đối lập giữa vẻ đẹp yên bình của rừng với bạo lực săn bắn, qua đó nhấn mạnh sự thức tỉnh lương tri của nhân vật ông Diểu.

Câu 5.

-Mục đích, quan điểm: khẳng định giá trị thẩm mĩ và nhân văn của truyện ngắn, đề cao vẻ đẹp thiên nhiên và khả năng cảm hóa, hướng con người đến điều thiện.

-Tình cảm: thể hiện sự trân trọng thiên nhiên, sự đồng cảm với nhân vật và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

10 tháng 11 2024

  \(x=3y\) và y = 5\(x\)  thay y = 5\(x\) vào \(x\) = 3y ta có: \(x\) = 3.5\(x\) 

    ⇒ \(x\)   = 15\(x\) ⇒ \(x-15x\) = 0 ⇒ \(-14\)\(x\) = 0 ⇒ \(x=0\)

Thay \(x\) = 0 vào y = 5\(x\) ta được:  y= 5.0 = 0

Vậy \(x=3\)y; y = 5\(x\) thì y = 0 

 

22 tháng 4

Sau khi học Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, em thấy chính nghĩa là sự bảo vệ lẽ phải, công lí và cái thiện, dám đấu tranh với cái xấu, cái ác để đem lại sự công bằng cho con người. Hình tượng Ngô Tử Văn cho thấy người sống có chính nghĩa phải có bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự kiên định, bởi con đường bảo vệ điều đúng đắn thường không dễ dàng, thậm chí có thể phải đối mặt với hiểm nguy, thiệt thòi hay mất mát. Tuy nhiên, chính nghĩa không có nghĩa là hành động mù quáng, bất chấp mọi hậu quả, mà phải gắn với sự tỉnh táo, trách nhiệm và mục đích tốt đẹp. Đứng về cái thiện là điều cần thiết, nhưng cũng cần có cách ứng xử đúng, có suy nghĩ và có niềm tin vững vàng để việc làm ấy thật sự mang lại giá trị. Vì vậy, em cho rằng chính nghĩa luôn phải đứng về cái thiện, nhưng để bảo vệ cái thiện một cách bền vững thì con người không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần cả trí tuệ và sự sáng suốt.

8 tháng 11 2024

em chỉ thử làm thôi ạ:

Tương tự như thế vậy xuống 100m thì tăng 0,6 độ C và xuống 1000m thì tăng 6 độ C

22 tháng 4

Trong phần 2 và phần 3 của văn bản Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, các câu chủ yếu được viết bằng kiểu câu trần thuật theo mục đích nói, vì tác giả chủ yếu kể lại sự việc, ghi lại suy nghĩ, cảm xúc và những điều đã diễn ra. Ngoài ra có thể có một số câu cảm thán nếu đoạn văn bộc lộ cảm xúc mạnh như xót xa, thương nhớ, xúc động, và có thể có câu nghi vấn nhưng thường là để tự hỏi, tự bộc lộ tâm trạng chứ không nhằm hỏi người khác. Vì vậy, nếu hỏi khái quát thì trả lời là phần 2, phần 3 chủ yếu dùng câu trần thuật, xen một số câu cảm thán, có thể có câu nghi vấn tu từ nếu văn bản có xuất hiện. Nếu cần xác định chính xác từng câu, hãy gửi nguyên văn phần 2 và phần 3.