Đặc điểm tính chất cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
\(y=x^6-\dfrac{5}{3}x^3+4\sqrt{x}-\dfrac{1}{x}+3\)
=>\(y'=6x^5-\dfrac{5}{3}\cdot3x^2+4\cdot\dfrac{1}{2\sqrt{x}}+\dfrac{1}{x^2}\)
=>\(y'=6x^5-5x^2+\dfrac{2}{\sqrt{x}}+\dfrac{1}{x^2}\)
Ngôn từ được sử dụng trong bài thơ "Dòng sông mặc áo" có những đặc điểm nổi bật sau:
1. Giàu hình ảnh:
- Bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, ẩn dụ sinh động để miêu tả vẻ đẹp của dòng sông.
- "Dòng sông mới điệu làm sao" (câu 1)
- "Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha" (câu 2)
- "Áo xanh sông mặc như là mới may" (câu 3)
- "Gió lên sông mặc áo cây kim" (câu 4)
- "Ráng chiều sông mặc áo tím hoa" (câu 5)
- Các hình ảnh được sử dụng đều rất quen thuộc với đời sống của người dân quê, tạo nên sự gần gũi, dễ hiểu và dễ cảm.
2. Giàu tính nhạc điệu:
- Bài thơ sử dụng nhịp thơ 4/3, kết hợp với các vần điệu liền nhau, tạo nên sự uyển chuyển, du dương.
- Nhịp thơ 4/3 tạo cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát, phù hợp với việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên.
- Các vần điệu liền nhau tạo sự kết nối giữa các câu thơ, giúp cho bài thơ thêm mượt mà, dễ đọc, dễ nhớ.
3. Giọng điệu vui tươi, hồn nhiên:
- Giọng điệu của bài thơ vui tươi, hồn nhiên, thể hiện niềm vui sướng, thích thú của tác giả trước vẻ đẹp của dòng sông.
- Giọng điệu này phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học, giúp các em dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp của bài thơ.
4. Sử dụng từ ngữ giản dị, dễ hiểu:
- Bài thơ sử dụng từ ngữ giản dị, dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học.
- Việc sử dụng từ ngữ giản dị giúp cho bài thơ dễ đọc, dễ nhớ và dễ cảm nhận.
Nhờ những đặc điểm nổi bật của ngôn từ, bài thơ "Dòng sông mặc áo" đã miêu tả thành công vẻ đẹp của dòng sông quê hương, khơi gợi tình yêu thiên nhiên trong lòng người đọc.
Câu 4:
Số cách lấy ra 4 viên bi ngẫu nhiên là \(C_{15}^4\left(cá\ch\right)\)
a: Số cách lấy ra 1 viên bi trắng là 7(cách)
Số cách lấy ra 1 viên bi đen là 5(cách)
Số cách lấy ra 4-1-1=2 viên bi đỏ là \(C_3^2=3\) (cách)
Tổng số cách lấy ra là \(7\cdot5\cdot3=105\) (cách)
Xác suất lấy được 1 viên bi trắng, 1 viên bi đen là \(\frac{105}{C_{15}^4}=\frac{1}{13}\)
b: Số cách lấy được 4 viên bi trắng là \(C_7^4=35\left(cá\ch\right)\)
Số cách lấy được 4 viên bi đen là \(C_5^4=5\) (cách)
Số cách lấy được 4 viên bi cùng màu là 35+5=40(cách)
Xác suất lấy được là \(\frac{40}{C_{15}^4}=\frac{8}{273}\)
c:
Tổng số viên bi đen và đỏ là:
5+3=8(viên)
Số cách lấy 4 viên bi mà trong đó không có viên bi trắng nào là
\(C_8^4=70\) (cách)
Số cách lấy 4 viên bi mà trong đó có ít nhất một viên bi trắng là:
\(C_{15}^4-70=1295\)
Xác suất là \(\frac{1295}{C_{15}^4}=\frac{37}{39}\)


cuộc cải cách của Vua Lê Thánh Tông có những đặc điểm tiến bộ như sự toàn diện, sâu sắc và mang lại hiệu quả trong nhiều lĩnh vực như hành chính, tổ chức nhà nước, kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa - nghệ thuật. Điều này có thể vận dụng được trong bối cảnh hiện nay bằng cách áp dụng các chính sách cải cách toàn diện và sâu sắc, tăng cường quản lý hành chính hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị và xã hội, cũng như thúc đẩy văn hóa - nghệ thuật. Tuy nhiên, cần phải chú ý đến việc giải quyết mâu thuẫn giai cấp một cách hòa bình và công bằng để đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững trong bối cảnh hiện nay.
Cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông tương đối toàn diện, mang lại sự hưng thịnh cho đất nước lúc bấy giờ, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế đất nước phát triển, dân trí được nâng cao, năng lực quốc phòng được tăng cường, chế độ quân chủ Trung ương tập quyền được củng cố….