K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM) Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ về ý nghĩa của việc tôn trọng sự khác biệt của người khác. Câu 2. Viết bài văn phân tích, đánh giá bài thơ sau:  Mỗi lần nắng mới hắt bên song, Xao xác, gà trưa gáy não nùng, Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng, Chập chờn sống lại những ngày không. Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời Lúc người còn sống, tôi lên...
Đọc tiếp

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ về ý nghĩa của việc tôn trọng sự khác biệt của người khác.

Câu 2. Viết bài văn phân tích, đánh giá bài thơ sau: 

Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.

Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.

Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

(Lưu Trọng Lư, Nắng mới, thivien.net)
Chú thích:
– Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực Thơ mới đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội.
– Me (từ cũ): Mẹ.
– Nội: cánh đồng.
– Chửa: chưa.
91

Câu 1

Việc tôn trọng sự khác biệt của người khác có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Mỗi người sinh ra đều có hoàn cảnh, tính cách, suy nghĩ và quan điểm riêng, vì vậy không ai giống ai hoàn toàn. Khi biết tôn trọng sự khác biệt, chúng ta sẽ học được cách lắng nghe, thấu hiểu và chấp nhận người khác, từ đó xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp hơn. Ngược lại, nếu áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác, dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột. Tôn trọng sự khác biệt cũng giúp mỗi người phát triển bản thân, bởi ta có cơ hội tiếp cận với nhiều góc nhìn mới, học hỏi những điều hay từ người khác. Trong xã hội hiện đại, sự đa dạng càng trở nên rõ rệt, nên thái độ tôn trọng càng cần thiết. Đó không chỉ là biểu hiện của văn minh mà còn là nền tảng để xã hội phát triển hài hòa, tiến bộ.

Câu 2

Trong dòng chảy của phong trào Thơ mới, nếu Xuân Diệu là tiếng reo vui thiết tha với cuộc đời, Huy Cận là nỗi sầu vạn cổ trước vũ trụ, thì Lưu Trọng Lư lại chọn cho mình một góc nhỏ yên bình để gửi gắm những rung động tinh tế nhất của tâm hồn. "Nắng mới" chính là một nốt nhạc trầm xao xuyến như thế. Bài thơ không chỉ là nỗi nhớ mẹ da diết mà còn là một bức tranh kỷ niệm đẹp đẽ, nơi tình mẫu tử hiện lên bất tử qua những điều giản dị nhất

Lưu Trọng Lư không tả mẹ một cách chi tiết, ông chỉ chọn hai "điểm sáng" rực rỡ nhất để tạc nên bức chân dung vĩnh cửu trong lòng mình: "Mẹ tôi reo áo đỏ ngoài kia": Sắc đỏ của chiếc áo không chỉ làm ấm không gian mà còn làm ấm cả ký ức. Đó là màu của niềm vui, của sự chăm chút. Hình ảnh mẹ "reo" (phơi) áo lên giậu thưa là một lát cắt đời thường nhưng đẹp đến nao lòng. "Nét cười đen nhánh sau tay áo": Đây là chi tiết đắt giá nhất. Hình ảnh hàm răng đen (vẻ đẹp truyền thống) kết hợp với hành động che tay kín đáo tạo nên vẻ đẹp thuần hậu, duyên dáng và dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam xưa. Từ "nhánh" gợi lên sự lấp lánh, một nụ cười vẫn luôn tỏa sáng dù người đã đi xa.Nghệ thuật khơi gợi nỗi buồn trong sáng .Sức hấp dẫn của "Nắng mới" nằm ở sự hài hòa giữa nội dung và hình thức. Thể thơ bảy chữ với nhịp điệu chậm rãi như bước chân của thời gian, cùng giọng điệu trầm buồn nhưng không bi lụy. Lưu Trọng Lư đã sử dụng thành công nghệ thuật lấy động tả tĩnh (tiếng gà trưa xao xác để tả cái tĩnh lặng của tâm hồn) và những hình ảnh giàu tính biểu tượng. Nỗi nhớ ở đây không ồn ào mà thấm thía, nó là một nỗi buồn "trong veo", là sự thanh lọc tâm hồn qua tình mẫu tử thiêng liêng.

Tóm lại, qua "Nắng mới", Lưu Trọng Lư đã tạc vào lòng độc giả một bức tượng đài về tình mẫu tử bằng những chất liệu giản đơn nhất của làng quê Việt Nam. Bài thơ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về sự hiện diện bất tử của mẹ trong lòng mỗi người con. Dù thời gian có làm mờ đi tất cả, nhưng ánh "nắng mới" của kỷ niệm và nụ cười "đen nhánh" của mẹ sẽ mãi là hành trang quý giá nhất sưởi ấm chúng ta trên mọi nẻo đường đời.

Câu 1: Bài làm: Trong một thế giới đa dạng với hàng tỷ cá thể, việc tôn trọng sự khác biệt chính là chìa khóa để xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc. Tôn trọng sự khác biệt trước hết là thừa nhận và chấp nhận những điểm riêng biệt về tính cách, lối sống, quan điểm hay hoàn cảnh của người khác mà không dùng định kiến để phán xét. Ý nghĩa lớn nhất của thái độ này là giúp xóa bỏ rào cản giữa người với người, giảm bớt xung đột và tạo ra một môi trường sống an toàn, nơi mỗi cá nhân đều tự tin phát huy bản sắc riêng. Khi ta ngừng phán xét một người "ưa bay nhảy" hay "thích ở nhà", ta không chỉ giải phóng họ khỏi "tấm lưới định kiến" mà còn làm giàu thêm vốn sống của chính mình bằng những góc nhìn mới mẻ. Ngược lại, nếu thiếu đi sự tôn trọng này, thế giới sẽ trở nên đơn điệu, đầy rẫy sợ hãi và thù ghét. Tóm lại, tôn trọng sự khác biệt không chỉ là biểu hiện của một tâm hồn bao dung mà còn là nền tảng bền vững để kết nối trái tim và thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Câu 2: Bài làm: Nỗi nhớ về mẹ luôn là mạch nguồn cảm xúc dạt dào trong thi ca Việt Nam, nhưng có lẽ hiếm có bài thơ nào lại trong trẻo, nhẹ nhàng mà ám ảnh như "Nắng mới" của Lưu Trọng Lư. Bài thơ không chỉ là một bức tranh kỷ niệm đầy màu sắc mà còn là tiếng lòng thổn thức của người con dành cho người mẹ đã khuất, thể hiện qua những vần thơ giàu tính nhạc và họa. Mở đầu bài thơ, tác giả đánh thức nỗi nhớ bằng một tín hiệu thị giác đặc trưng: "Mỗi lần nắng mới hắt bên song, Xao xác, gà trưa gáy não nùng" "Nắng mới" không chỉ là ánh nắng đầu mùa mà còn là ánh sáng của ký ức. Âm thanh "xao xác" phối hợp với tiếng gà trưa "não nùng" đã tạo nên một không gian tĩnh lặng đến mênh mông, khiến nỗi lòng người con bỗng "chập chờn sống lại" những ngày xưa cũ. Cái hay của Lưu Trọng Lư là dùng ngoại cảnh để khơi gợi tâm cảnh, biến một buổi trưa bình thường trở thành một khoảng không gian đầy hoài niệm. Bức chân dung người mẹ hiện lên không phải qua những nét vẽ cầu kỳ mà qua những chi tiết vô cùng giản dị, gắn liền với sinh hoạt đời thường: "Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời Lúc người còn sống, tôi lên mười; Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước giậu phơi." Hình ảnh "áo đỏ" phơi trước "giậu" dưới làn "nắng mới reo" tạo nên một gam màu ấm áp, rực rỡ và tràn đầy sức sống. Màu đỏ ấy như sưởi ấm cả bài thơ, tượng trưng cho tình mẫu tử nồng nàn và sự chăm chút, tần tảo của người mẹ. Dù khi ấy tác giả mới chỉ là một đứa trẻ lên mười, nhưng hình ảnh đẹp đẽ ấy đã găm sâu vào tâm khảm, để rồi mỗi khi nắng về lại trở nên sống động như vừa mới hôm qua. Đặc sắc nhất trong bài thơ chính là những câu kết, nơi vẻ đẹp của mẹ được kết tinh trong một nét cười: "Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ Hãy còn mường tượng lúc vào ra: Nét cười đen nhánh sau tay áo Trong ánh trưa hè trước giậu thưa." "Nét cười đen nhánh" là một hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp, gợi nhắc về tục nhuộm răng đen của phụ nữ Việt Nam thời xưa. Cái cười ấy lấp lánh sau "tay áo" vừa kín đáo, dịu dàng, vừa mang đậm vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt. Người mẹ không còn ở đó, nhưng "hình dáng" và "nét cười" vẫn luôn hiện hữu, "vào ra" trong tâm trí người con như một sự bảo bọc vô hình. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn với nhịp điệu chậm rãi, mang âm hưởng của một khúc hát ru buồn nhưng thanh thản. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh gợi cảm. Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển (nắng, song, gà trưa) và cảm xúc cá nhân hiện đại đã tạo nên một sức hấp dẫn riêng biệt cho thi phẩm. Tóm lại, "Nắng mới" là một bài ca bất hủ về tình mẫu tử. Lưu Trọng Lư đã thành công trong việc bất tử hóa hình ảnh người mẹ qua những rung cảm tinh tế nhất. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những phút giây bình dị bên người thân, bởi đó là những hành trang tinh thần quý báu nhất theo ta suốt cuộc đời.


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:      (1) Chúng ta vẫn thường nghe một người tằn tiện phán xét người khác là phung phí. Một người hào phóng đánh giá người kia là keo kiệt. Một người thích ở nhà chê bai kẻ khác bỏ bê gia đình. Và một người ưa bay nhảy chê cười người ở nhà không biết hưởng thụ cuộc sống... Chúng ta nghe những...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:

     (1) Chúng ta vẫn thường nghe một người tằn tiện phán xét người khác là phung phí. Một người hào phóng đánh giá người kia là keo kiệt. Một người thích ở nhà chê bai kẻ khác bỏ bê gia đình. Và một người ưa bay nhảy chê cười người ở nhà không biết hưởng thụ cuộc sống... Chúng ta nghe những điều đó mỗi ngày, đến khi mệt mỏi, đến khi nhận ra rằng đôi khi phải phớt lờ tất cả những gì người khác nói và rút ra một kinh nghiệm là đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng.

    (2) Thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp những người tự cho mình quyền được phán xét người khác theo một định kiến có sẵn. Những người không bao giờ chịu chấp nhận sự khác biệt. Đó không phải là điều tồi tệ nhất. Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó. Cuộc sống của ta nếu bị chi phối bởi định kiến của bản thân đã là điều rất tệ, nên nếu bị điều khiển bởi định kiến của những người khác hẳn còn tệ hơn nhiều. Sao ta không thể thôi sợ hãi, và thử nghe theo chính mình?

(Lắng nghe lời thì thầm của trái tim, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra 2 cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn (1).

Câu 3. Vì sao tác giả lại cho rằng đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng?

Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về quan điểm của tác giả: Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó?

Câu 5. Anh/Chị rút ra thông điệp gì cho bản thân từ văn bản trên?

116

Câu 1 : phương thức biểu đạt chính nghị luận

Câu 2:Tần tiện đối lập với phun phí. Hào phóng đối lập với keo kiệt.

Câu 3: Tác giả đưa ra lời khuyên này vì Mỗi người đều có lăng kính và quan điểm riêng, việc phán xét thường dựa trên cái tôi chủ quan chứ không phải sự thật khách quan về người khác Sự phán xét dễ dàng thường dẫn đến những hiểu lầm, ác cảm và làm tổn thương mối quan hệ giữa người với người.

Câu 4 Hiểu về quan điểm: "Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó"

Có thể hiểu quan điểm này như sau: Định kiến là một "tấm lưới": Nó giam cầm tư duy, khiến ta không còn cái nhìn đa chiều, khách quan và bao dung với thế giới xung quanh. Sự tự nguyện đánh mất bản sắc: Khi "buông mình" vào định kiến, ta không còn sống bằng suy nghĩ và cảm xúc thật của chính mình mà sống theo những khuôn mẫu, ác cảm có sẵn. Hậu quả: Điều này khiến cuộc sống trở nên hẹp hòi, nặng nề và ngăn cản sự thấu hiểu, kết nối giữa người với người. Đây là sự "tồi tệ nhất" vì nó làm nghèo nàn tâm hồn chúng ta.

Câu 5: Học cách lắng nghe và tôn trọng sự khác biệt.Bài học hành động: Thay vì vội vàng đánh giá ai đó qua vẻ bề ngoài hay một hành động nhất thời, hãy mở lòng để thấu hiểu câu chuyện riêng của họ. Đừng để định kiến của đám đông hay của chính mình điều khiển suy nghĩ, hãy sống và nhìn nhận cuộc đời bằng sự thấu cảm và trái tim chân thành.

Chào bạn, đây là lời giải chi tiết cho phần Đọc hiểu từ đoạn trích "Lắng nghe lời thì thầm của trái tim" của tác giả Phạm Lữ Ân trong hình ảnh bạn vừa gửi: I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Câu 1.Trả lời: Phương thức biểu đạt chính là nghị luận. (Tác giả đưa ra các ý kiến, lý lẽ và dẫn chứng để bàn về việc con người thường phán xét lẫn nhau dựa trên định kiến). Câu 2. Trả lời: 2 cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn (1) là: * Phung phí đối lập với tận tiện. * Hào phóng đối lập với keo kiệt. * Thích ở nhà đối lập với ưa bay nhảy. Câu 3.Trả lời: Theo văn bản, tác giả cho rằng như vậy vì: * Mỗi người đều có sự khác biệt riêng trong lối sống và lựa chọn cá nhân. * Những phán xét thường dựa trên định kiến của bản thân chứ không phải sự thấu hiểu thực sự về đối phương. * Việc phán xét dễ dàng khiến chúng ta phớt lờ những kinh nghiệm quý giá và góc nhìn mới mẻ từ người khác. Câu 4. Trả lời: Quan điểm của tác giả là : * Khi chúng ta "chấp nhận buông mình", nghĩa là ta để định kiến của xã hội hoặc của chính mình điều khiển suy nghĩ và hành động. * Điều này khiến con người mất đi khả năng tư duy độc lập, trở nên sợ hãi, khép kín và không dám sống đúng với bản chất thật của mình. * "Tấm lưới" là hình ảnh ẩn dụ cho sự trói buộc, làm thui chột sự sáng tạo và niềm hạnh phúc cá nhân. Câu 5. Trả lời: thông điệp* Sống là chính mình: Đừng để định kiến của người khác định nghĩa giá trị của bản thân. * Học cách thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt: Thay vì phán xét, hãy mở lòng để lắng nghe và học hỏi từ những người xung quanh. * Tỉnh táo trước định kiến: Luôn tự vấn bản thân để không bị cuốn vào những cái nhìn phiến diện, hẹp hòi.


8 tháng 4 2024

Đánh giá tính hình của một quốc gia như Việt Nam có thể phức tạp và đa chiều, và có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, v.v. Dưới đây là một cái nhìn tổng quan:

**1. Kinh tế:**
   - Việt Nam đã có sự phát triển kinh tế đáng kể trong những năm gần đây, với mức tăng trưởng GDP ổn định và cao so với nhiều quốc gia khác trong khu vực.
   - Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế.
   - Tuy nhiên, cũng còn tồn đọng nhiều thách thức như nền tảng hạ tầng kém, nợ công, và sự phân bố thu nhập không đồng đều.

**2. Xã hội:**
   - Mức sống của một phần lớn dân cư đã cải thiện, với mức giáo dục và sức khỏe cơ bản được nâng cao.
   - Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các vấn đề như chất lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội, và bất công xã hội.

**3. Môi trường:**
   - Ít nhiều tiến bộ đã được đạt được trong việc quản lý và bảo vệ môi trường, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề như ô nhiễm môi trường, suy thoái đất đai và tài nguyên tự nhiên.
   - Các biện pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đang dần được chú trọng.

**4. Chính trị:**
   - Việt Nam vẫn duy trì một chính trị ổn định và là một quốc gia độc lập, tự chủ, và tự do.
   - Tuy nhiên, vẫn còn những lo ngại về việc bảo vệ và thúc đẩy quyền dân chủ và nhân quyền.

Tóm lại, Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể trong nhiều lĩnh vực, nhưng vẫn còn những thách thức cần phải vượt qua. Việc đánh giá xem quốc gia đã "tốt lên" hay "xấu đi" có thể phụ thuộc vào góc nhìn cũng như các tiêu chí và yếu tố được xem xét.

8 tháng 4 2024

Trong quá trình đổi mới đất nước, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta và ở vùng dân tộc thiểu số có nhiều bước phát triển, chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững. Quyền và lợi ích chính đáng của người dân các dân tộc được đảm bảo. Đời sống văn hóa, xã hội của người dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ đói nghèo giảm, chất lượng giáo dục, đời sống được nâng lên. Công tác nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, chính sách dân tộc nói riêng từng bước được hoàn thiện.Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trên thế giới, từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo trở thành “điểm nóng” ở nhiều nơi, nhất là những quốc gia, vùng lãnh thổ có đặc điểm đa dân tộc, đa tôn giáo, đa biên giới. Mâu thuẫn và xung đột tộc người, phong trào tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa dân tộc hẹp hỏi, tư tưởng tự trị, ly khai nổi lên với xu hướng lan rộng dưới nhiều hình thức, cách thức khác nhau. Cùng với đó, dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường, phức tạp. Các thế lực thù địch ra sức chống phá trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo;... Những yếu tố này đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến các tộc người và vấn đề dân tộc ở nước ta. 

 

Biên giới quốc gia thường là các khu vực nhạy cảm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong an ninh quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ. Các khu vực biên giới thường là nơi cư trú của nhiều tộc người có chung nguồn gốc và văn hóa. Luồng truyền thông từ các quốc gia đến khu vực biên giới đều tạo nên những ảnh hưởng đối với các tộc người cư trú ở vùng biên giới, có thể tạo nên những dòng chảy văn hóa và ý thức dân tộc xuyên quốc gia. Chính vì thế, việc xây dựng, củng cố ý thức quốc gia của các tộc người cư trú ở vùng biên giới có liên quan chặt chẽ đến chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng của đất nước.

Khuyến nghị tập trung vào việc xây dựng một chính sách truyền thông nằm trong chiến lược phát triển dành riêng cho vùng biên giới dựa trên những đặc thù vùng và tộc người, Tiến sỹ Trần Hồng Thu, Viện Dân tộc học đề xuất việc xem xét lại một số chính sách ưu đãi văn hóa không còn phù hợp, chưa phát huy được các hiệu quả của truyền thông và đề xuất chính sách phát triển nguồn nhân lực trong truyền thông ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng biên giới.

8 tháng 4 2024

Thuận lợi:

- Toàn cầu hóa:
+ Tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, phát triển kinh tế - xã hội.
+ Mở rộng thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ.
- Cách mạng công nghiệp 4.0:
+ Mở ra cơ hội mới cho phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
+ Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Cộng đồng ASEAN:
+ Tạo môi trường hòa bình, ổn định cho khu vực, thuận lợi cho phát triển kinh tế.
+ Tăng cường hợp tác, liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước ASEAN.
Khó khăn:

- Cạnh tranh gay gắt trong môi trường toàn cầu:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều hạn chế, sức cạnh tranh chưa cao.
+ Nguy cơ bị tụt hậu, lỡ nhịp phát triển so với các nước khác.
- Biến đổi khí hậu, dịch bệnh, thiên tai:
+ Gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Tăng gánh nặng ngân sách nhà nước, đòi hỏi sự chung tay góp sức của toàn dân.
- Tình trạng bất bình đẳng trong xã hội:
+ Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch thu nhập còn lớn.
+ Dễ dẫn đến mâu thuẫn, bất ổn xã hội.

PTHH: Fe + 2HCl -> FeCl2 + H2\(\uparrow\)
            x       2x.          x            x     (mol) 

          FeO + 2HCl -> FeCl2 + H2O 
            y         2y          y                   (mol) 
số mol khí H2 thu được ở đktc: 
nH2 = \(\dfrac{V}{22,4}\)\(\dfrac{6,72}{22,4}\)= 0,3 (mol) 

ta có hệ PT: \(\left\{{}\begin{matrix}56x+72y=60\left(g\right)\\x=0,3\left(mol\right)\end{matrix}\right.\)

giải hệ PT ta được: \(\left\{{}\begin{matrix}x=0,3\left(mol\right)\\y=0,6\left(mol\right)\end{matrix}\right.\)

khối lượng của Fe trong hỗn hợp: 

mFe = n.M = 0,3.56 = 16,8 (g) 

thành phần phần trăm khối lượng của Fe trong hỗn hợp: 

\(\%m_{Fe}\)\(=\dfrac{m_{Fe}}{m_{h^2}}\)\(\times\) 100% = \(\dfrac{16,8}{60}\times100\%=28\%\)

20 tháng 12 2025

.

23 tháng 12 2025

..

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5: Hạnh phúc đôi khi như lá xanh trong nắng dội, mưa tràn   Hạnh phúc đôi khi như quả thơm trong im lặng, dịu dàng   Hạnh phúc đôi khi như sông vô tư trôi về biển cả Chẳng cần biết mình đầy vơi (Nguyễn Loan, Hạnh phúc đôi khi, Tạp chí sông Hương số 336 - 02/2027) Câu 1. Xác định thể thơ của...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:

Hạnh phúc

đôi khi như lá

xanh trong nắng dội, mưa tràn

 

Hạnh phúc

đôi khi như quả

thơm trong im lặng, dịu dàng

 

Hạnh phúc

đôi khi như sông

vô tư trôi về biển cả

Chẳng cần biết mình

đầy vơi

(Nguyễn Loan, Hạnh phúc đôi khi, Tạp chí sông Hương số 336 - 02/2027)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Trong văn bản trên, hạnh phúc được miêu tả qua những tính từ nào?

Câu 3. Anh/Chị hiểu nội dung của đoạn thơ sau như thế nào?

Hạnh phúc

đôi khi như quả

thơm trong im lặng, dịu dàng

Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ sau:

Hạnh phúc

đôi khi như sông

vô tư trôi về biển cả

Chẳng cần biết mình

đầy vơi

Câu 5. Nhận xét quan niệm về hạnh phúc của tác giả được thể hiện trong đoạn trích.

457
19 tháng 12 2025

câu 1

thể thơ tự do

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ tự do

Câu 2:

Trong văn bản trên, “hạnh phúc” được miêu tả qua những tính từ: xanh; nắng dội, mưa tràn; thơm; im lặng; dịu dàng; vô tư; đầy vơi

Câu 3:

Đoạn thơ cho thấy hạnh phúc không ồn ào, phô trương mà có thể rất lặng lẽ, tinh tế. Hạnh phúc giống như một quả chín thơm: không cần khoe sắc, chỉ cần tồn tại cũng đủ lan tỏa giá trị. Qua đó, tác giả nhắn nhủ con người hãy biết trân trọng những niềm vui nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống

Câu 4:

Biện pháp tu từ so sánh: hạnh phúc được so sánh với sóng vô tư trôi về biển cả

Tác dụng:

- Làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm, hấp dẫn hơn, tạo tính tò mò thích thú cho người đọc người nghe.

- Thể hiện hạnh phúc là trạng thái tự nhiên, nhẹ nhõm, không toan tính, đến và đi một cách thong dong.

- Qua đó thể hiện thái độ trân trọng ngợi ca, cùng tình yêu thiên nhiên, con người của tác giả. Từ đó muốn nhắn nhủ ta hãy sống thản nhiên, vô tư, biết đón nhận hạnh phúc một cách tự nhiên, không quá lo toan hay tính toán thiệt hơn.

Câu 5:

Quan niệm về hạnh phúc của tác giả là giản dị, sâu sắc và mang tính nhân văn. Hạnh phúc không phải điều lớn lao hay vật chất, mà là những khoảnh khắc bình thường, tự nhiên trong cuộc sống.

3 tháng 2

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)


Câu 1. (Viết đoạn văn khoảng 200 chữ)


Phân tích vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội trong đoạn thơ


Mùa thu Hà Nội trong đoạn thơ của Hoàng Cát hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế và giàu cảm xúc. Trước hết, đó là cái lạnh rất riêng của thu Hà Nội qua hình ảnh “se sẽ gió heo may”, cái lạnh nhẹ, thoảng qua nhưng đủ làm lòng người xao xuyến. Không gian phố phường được phủ lên sắc vàng của “lá vàng khô lùa”, tạo nên vẻ đẹp cổ kính, trầm lắng. Giữa khung cảnh ấy, con người xuất hiện trong trạng thái “lặng lẽ một mình”, mang theo nỗi nhớ người xa, khiến bức tranh thu thêm phần man mác buồn. Tuy nhiên, mùa thu không chỉ buồn mà còn ấm áp qua hình ảnh “trái vàng ươm”, “chùm nắng hạ” còn sót lại, gợi cảm giác đầy đặn, dịu ngọt. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong “mùi hương trời đất”, tạo nên vẻ đẹp vừa nên thơ vừa thân thương. Qua đoạn thơ, tác giả đã khắc họa thành công một mùa thu Hà Nội rất riêng – nhẹ nhàng, sâu lắng và đậm chất trữ tình.


Câu 2. (Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ)


Bàn luận về sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI)


Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những thành tựu nổi bật nhất của nhân loại. Với tốc độ phát triển nhanh chóng và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, AI đang từng bước làm thay đổi cách con người học tập, làm việc và sinh hoạt. Sự phát triển như vũ bão của AI vừa mở ra nhiều cơ hội to lớn, vừa đặt ra không ít thách thức đối với xã hội hiện đại.


Trước hết, không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà AI mang lại. Trong lĩnh vực y tế, AI hỗ trợ bác sĩ trong việc chẩn đoán bệnh, phân tích hình ảnh và đưa ra phác đồ điều trị chính xác hơn. Trong giáo dục, AI giúp cá nhân hóa việc học, tạo điều kiện để người học phát huy tối đa năng lực của bản thân. Trong sản xuất và kinh doanh, AI góp phần tự động hóa quy trình, nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí. Nhờ có AI, con người tiết kiệm được thời gian, công sức để tập trung vào những công việc sáng tạo và mang giá trị nhân văn cao hơn.


Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của AI cũng kéo theo nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ mất việc làm khi máy móc và công nghệ thay thế con người trong nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, việc phụ thuộc quá nhiều vào AI có thể khiến con người trở nên thụ động, giảm khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Ngoài ra, các vấn đề về đạo đức, quyền riêng

5 tháng 2

Câu 1

Mùa thu Hà Nội trong đoạn thơ của Hoàng Cát hiện lên với một vẻ đẹp rất riêng: nhẹ nhàng, trầm lắng mà sâu sắc. Đó là cái se sắt của “gió heo may”, cái “xào xạc lạnh” của lá vàng khô lùa trên phố, gợi nên cảm giác chuyển mùa rất khẽ nhưng rất rõ. Không gian thu không ồn ào mà mang vẻ tĩnh lặng, chậm rãi, khiến con người như thu mình lại giữa phố phường quen thuộc. Trong khung cảnh ấy, con người xuất hiện với tâm thế cô đơn, lặng lẽ: “Ta lặng lẽ một mình”, mang theo nỗi nhớ da diết về người xa. Nỗi nhớ ấy hòa quyện cùng cảnh thu, làm cho mùa thu Hà Nội không chỉ đẹp bởi thiên nhiên mà còn đẹp bởi chiều sâu cảm xúc. Đặc biệt, hình ảnh “Hàng sấu vẫn còn đầy quả sót”, “một trái vàng ươm” rơi xuống gợi lên vẻ đẹp dung dị, thân quen của phố cổ Hà Nội. Mùa thu vì thế không chỉ là mùa của cảnh sắc mà còn là mùa của hoài niệm, của yêu thương và rung động rất đỗi tinh tế trong lòng người.

Câu 2

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có, tạo nên những thay đổi sâu rộng và mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống con người. Sự phát triển như vũ bão của AI vừa mở ra nhiều cơ hội to lớn, vừa đặt ra không ít thách thức cần được nhìn nhận nghiêm túc. Trước hết, AI mang lại những lợi ích rõ rệt trong đời sống hiện đại. Trong y tế, AI hỗ trợ chẩn đoán bệnh nhanh chóng, chính xác, giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và cứu sống nhiều người. Trong giáo dục, AI cá nhân hóa việc học, giúp học sinh tiếp cận tri thức theo năng lực riêng của mình. Trong sản xuất và kinh tế, AI góp phần tối ưu hóa quy trình, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao năng suất lao động. Nhờ AI, con người có thêm công cụ mạnh mẽ để giải quyết những vấn đề phức tạp mà trước đây phải mất rất nhiều công sức. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển nhanh chóng của AI cũng làm nảy sinh nhiều lo ngại. Một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất là nguy cơ con người trở nên lệ thuộc vào máy móc, đánh mất dần khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Ngoài ra, AI có thể thay thế con người trong nhiều công việc, dẫn đến tình trạng thất nghiệp nếu xã hội không kịp thích ứng. Những vấn đề về đạo đức, quyền riêng tư và an ninh dữ liệu cũng trở nên đáng báo động khi AI ngày càng can thiệp sâu vào đời sống con người. Trước thực tế đó, con người cần có thái độ tỉnh táo và trách nhiệm đối với sự phát triển của AI. AI nên được xem là công cụ hỗ trợ, không phải là thứ thay thế hoàn toàn con người. Việc sử dụng AI cần đi kèm với những quy định chặt chẽ về pháp luật và đạo đức, nhằm đảm bảo AI phục vụ cho lợi ích chung của xã hội. Đồng thời, mỗi cá nhân cũng cần không ngừng học hỏi, nâng cao năng lực bản thân để thích nghi với thời đại công nghệ số. Tóm lại, sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo là xu thế tất yếu của thời đại. Nếu biết khai thác đúng cách và kiểm soát hợp lý, AI sẽ trở thành người bạn đồng hành đắc lực, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và nhân văn hơn.



I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5: Đã có lần con khóc giữa chiêm bao Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.   Anh em con chịu đói suốt ngày tròn Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa Có gì nấu đâu mà nhóm lửa Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…   Chiêm bao tan nước...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:

Đã có lần con khóc giữa chiêm bao

Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó

Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở

Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.

 

Anh em con chịu đói suốt ngày tròn

Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa

Có gì nấu đâu mà nhóm lửa

Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…

 

Chiêm bao tan nước mắt dầm dề

Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng

Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng

Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.

    (Trích Khóc giữa chiêm bao, Vương Trọng)

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích?

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:

 Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng

Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.

Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung dòng thơ sau như thế nào?

Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.

Câu 5. Thông điệp tâm đắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích trên là gì? Nêu lí do anh/chị lựa chọn thông điệp đó.

114
3 tháng 2



Câu 1.


Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là:

👉 Biểu cảm (kết hợp tự sự).

→ Đoạn thơ chủ yếu bộc lộ cảm xúc đau xót, thương nhớ mẹ của người con.


Câu 2.


Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nỗi đau, sự mất mát, gian khổ trong đoạn trích:

“con khóc giữa chiêm bao”

“mẹ hiện về nằm khốn khổ”

“đồng sau lụt, bờ đê sụt lở”

“chịu đói suốt ngày tròn”

“chiêm bao tan nước mắt đầm đề”

“con gọi mẹ một mình trong đêm vắng”


→ Gợi lên cuộc đời lam lũ, vất vả của mẹ và nỗi đau khôn nguôi của người con khi mất mẹ.


Câu 3.


Biện pháp tu từ:

👉 Ẩn dụ trong hình ảnh “lưng núi quê hương”.


Tác dụng:

• Gợi hình ảnh mộ mẹ nằm nơi núi đồi quê nhà

• Thể hiện sự xa cách âm – dương

• Làm nổi bật nỗi đau, sự bất lực và thương nhớ sâu sắc của người con


Câu 4.


Hiểu nội dung dòng thơ:

“Mẹ gánh gồng xốc xếch hoàng hôn.”


👉 Dòng thơ khắc họa hình ảnh người mẹ lam lũ, tảo tần, vất vả suốt đời.

“hoàng hôn” vừa là buổi chiều, vừa ẩn dụ cho cuối đời

→ Mẹ vẫn gánh vác nhọc nhằn cho đến lúc già yếu.


Câu 5.


Thông điệp tâm đắc nhất:

👉 Hãy trân trọng, yêu thương và biết ơn cha mẹ khi còn có thể.


Lí do:

• Đoạn thơ chan chứa nỗi đau mất mẹ

• Mẹ hiện lên với cả một đời hi sinh, lam lũ

• Người con chỉ còn có thể khóc gọi mẹ trong chiêm bao và đêm vắng


→ Gợi nhắc con người đừng để yêu thương trở thành nuối tiếc.


5 tháng 2

Câu 1 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

Câu 2 từ ngữ, hình ảnh thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích là: "năm khốn khó", "Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở", "Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn", "Anh em con chịu đói suốt ngày tròn", "ngồi co ro bậu cửa", "Có gì nấu đâu mà nhóm lửa", "Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về"

Câu 3 biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Chỉ ra: Biện pháp tu từ nổi bật là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác qua cụm từ "tiếng lòng". "Tiếng" là thính giác, "lòng" là cảm xúc, sự kết hợp này tạo nên một hình ảnh trừu tượng, cảm nhận bằng tâm hồn.

Tác dụng :Giúp hình ảnh thơ trở nên cụ thể, gợi cảm hơn, nhấn mạnh sự day dứt, nỗi niềm sâu kín không thể giãi bày của người con.

Câu 4:

Dòng thơ thể hiện sự vất vả, gánh nặng cuộc đời của người mẹ

Giải thích: Người mẹ gánh gồng xộc xệch": Gợi hình ảnh người mẹ lam lũ, chịu nhiều gánh nặng vật chất và tinh thần, dáng vẻ mệt mỏi, không còn ngay ngắn, vững vàng.hoàng hôn": Là thời điểm cuối ngày, tượng trưng cho tuổi già, sự tàn phai, hoặc một giai đoạn khó khăn, u ám trong cuộc đời người mẹ.Nội dung: Dòng thơ là một hình ảnh ẩn dụ đầy thương cảm về sự hy sinh, vất vả của người mẹ khi tuổi đã xế chiều hoặc trong hoàn cảnh khốn khó.

Câu 5

Thông điệp mà tôi tâm đắc nhất rút ra từ đoạn thơ là: Hãy biết trân trọng và yêu thương mẹ khi còn có thể

Lý do: Đoạn thơ là tiếng khóc nghẹn ngào của người con trước hình ảnh người mẹ cả đời lam lũ, gánh gồng nuôi con giữa đói nghèo, thiên tai và mất mát. Mẹ hiện lên với những công việc nặng nhọc, bữa ăn đạm bạc, luôn dành phần sống cho con mà quên đi bản thân mình. Đến khi con cất tiếng gọi mẹ trong đêm vắng thì mẹ đã không còn, chỉ còn lại nỗi trống trải, day dứt và ân hận khôn nguôi. Chính bi kịch ấy khiến thông điệp trân trọng và yêu thương mẹ trở nên sâu sắc, nhắc nhở mỗi người phải biết gìn giữ tình mẫu tử khi còn có thể, bởi mất đi rồi thì không gì có thể bù đắp được.


II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM) Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu‎‎ ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay. Câu 2. Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư). Biển người mênh mông Nguyễn Ngọc Tư     [...] Hồi ngoại Phi còn sống, thấy tóc anh ra hơi liếm ót bà đã cằn...
Đọc tiếp

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu‎‎ ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.

Câu 2. Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư).

Biển người mênh mông

Nguyễn Ngọc Tư

    [...] Hồi ngoại Phi còn sống, thấy tóc anh ra hơi liếm ót bà đã cằn nhằn: "Cái thằng, tóc tai gì mà xấp xãi, hệt du côn". [...] Phi không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về.

   Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại. [...] 

    Phi mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Cũng như nhiều người ở Rạch Vàm Mấm này, ông ngờ rằng má Phi chắc không phải bị tên đồn trưởng ấy làm nhục, hắn lui tới ve vãn hoài, lâu ngày phải có tình ý gì với nhau, nếu không thì giữ cái thai ấy làm gì, sinh ra thằng Phi làm gì. Ngoại Phi bảo: "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má".

    [...] Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. [...] Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, tướng tá, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay. [...] Hết lớp Mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. [...]

    Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi. [...] Má anh lâu lâu lại, hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông già Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó.

    Ông già Sáu mới dọn lại thuê một căn chung vách với nhà Phi. Ông cũng nghèo, lúc chuyển đến đồ đạc chỉ gói gọn bốn cái thùng các tông. [...]. Ông chỉ tay vô cái lồng trùm vải xanh, trong đó có con bìm bịp. [...]

    [...] Ông kể, hồi trẻ, ông toàn sống trên sông, ông có chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ nầy xứ nọ. [...] Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi: "Vậy bác Sáu gái đâu rồi?". [...] Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim: "Cổ đi rồi. Sống khổ quá nên cổ bỏ qua. Cổ lên bờ, không từ giã gì hết, bữa đó đúng là qua bậy, qua nhậu xỉn quá trời, rồi cũng có cự cãi mấy câu, cảnh nhà không con nên sanh buồn bực trong lòng, qua có hơi nặng lời, cổ khóc. Lúc thức dậy thì cổ đã đi rồi. Qua đã tìm gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò rồi mà chưa thấy. Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ.". [...]

    Rồi một bữa, ông bày ra bữa rượu để từ giã Phi: "Cha, để coi, chỗ nào chưa đi thì đi, còn sống thì còn tìm. Qua nhờ chú em một chuyện, chú em nuôi dùm qua con quỷ sứ nầy. Qua yếu rồi, sợ có lúc giữa đường lăn ra chết, để con "trời vật" nầy lại không ai lo. Qua tin tưởng chú em nhiều, đừng phụ lòng qua nghen.". 

    [...] Ông đi rồi, chỉ còn lại Phi và con bìm bịp.

    [...] Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại. 

(Theo isach.infor)

Chú thích: 

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là cây bút mang đậm dấu ấn Nam Bộ. Nguyễn Ngọc Tư đã thu hút sự chú ý của bạn đọc ngay từ những trang viết đầu tay, đồng thời được giới chuyên môn và các nhà phê bình văn học đánh giá cao. 

Qua: từ người lớn tuổi dùng để tự xưng một cách thân mật khi nói với người vai dưới.

Biểu: bảo.

Bầy hầy: bừa bãi, luộm thuộm.

Ót: gáy.

Đương thúng: đan thúng.

Rầy: mắng.

Ròng: (nước thủy triều) rút xuống.

Tía: cha.

Cổ: cô ấy.

261

      

6 tháng 5 2024

Câu 1:                                                    Bài làm:

         Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hưng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.

 

Câu 2:                                                    Bài làm:

 

     Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.

      Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng.  Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.

     Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.

     Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má".  Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
      Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai"
. Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
      Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô.  Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó.  Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
     Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười.  Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...