phân tích nhân vật cáo trong bài cáo và cò dài 500 chữ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Gợi ý cho em đoạn văn của chị:
Trong truyện ngụ ngôn ''Cáo và cò'', nhân vật Cáo là nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng em. Cáo vốn tinh nghịch và có phần xảo quyệt nên hay bày trò để trêu chọc mọi người. Một hôm Cáo mời Cò đến nhà ăn, Cáo làm đồ ăn sau đó để đồ ăn trên đĩa, khiến Cò không thể ăn được. Ăn xong, Cáo còn giả vờ hỏi han vì sao Cò không ăn khiến Cò phải lấy lí do đi về. Sau đó, Cò mời Cáo đến nhà ăn và để thức ăn trong lọ khiến Cáo không thể ăn và phải đi về. Hành động của Cáo đã cho thấy việc gây ra những điều xấu cho người khác rồi cũng sẽ phải nhận điều tương tự. Trong cuộc sống của chúng ta, hãy nên đối xử thật nhẹ nhàng đối với mọi người xung quanh và luôn hành động một cách chân thành, ấm áp để được mọi người quý trọng hơn nhé.
_mingnguyet.hoc24_
refer
Nguyễn Trãi không chỉ là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, mà còn là nhà văn nhà thơ lớn của dân tộc. Nhắc đến ông, chúng ta nhớ ngay đến tác phẩm nổi tiếng “Bình ngô đại cáo”. Đây được coi là áng thiên cổ hùng văn bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Nhan đề Bình Ngô đại cáo đã gợi cho ta nhiều suy nghĩ. Bình có nghĩa là dẹp yên. Ngô ở đây chỉ giặc Minh. Đại cáo là bài cáo lớn mang dấu ấn trọng đại về những sự kiện lớn của đất nước. Ngay từ nhan đề đã gợi ra một tâm thế hào hùng.
Phân tích đoạn 1 bình ngô đại cáo để thấy tư tưởng nhân nghĩa là nội dung xuyên suốt cả bà thơ, được ông thể hiện rõ ràng, đầy đủ và sâu sắc. Chúng ta có thể thấy ngay tư tưởng nhân nghĩa, lòng tự hào, tự tôn dân tộc được thể hiện ngay ở đoạn 1 của bài thơ.
Tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện ở hai câu đầu.
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Mở đầu bài cáo, tác giả đã khẳng định đanh thép về định nghĩa tư tưởng nhân nghĩa. Theo phạm trù của Nho giáo, nhân nghĩa là chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lý. Việc nhân nghĩa là mục tiêu chiến đấu của các cuộc khởi nghĩa. Việc nhân nghĩa là vì con người, vì lẽ phải. Theo quan niệm của Nguyễn Trãi, kế thừa từ tư tưởng Nho giáo nhân nghĩa là “yên dân” – làm cho cuộc sống của người dân yên ổn, hạnh phúc. Lấy dân làm gốc là quy luật tất yếu bao đời nay. Đây luôn là hoài bão ước mơ mà cả đời Nguyễn Trãi theo đuổi.
Việc nhân nghĩa còn có nghĩa là trừ bạo, giúp dân trừng trị những kẻ hành hạ, cướp bóc, bóc lột, mang lại bình yên, no ấm cho nhân dân. Nói rộng ra trừ bạo chính là chống lại giặc xâm lược. Tác giả đã nêu rõ ta là chính nghĩa, còn địch là phi nghĩa. Ông đã vạch trần sự xảo trá của giặc Minh trong cuộc xâm lược này. Tóm lại, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết liệt, để mang đến cho nhân dân thoát khỏi cuộc sống lầm than, khổ cực, đem lại no ấm cho nhân dân.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết liệt. Đây không chỉ là mối quan hệ nằm trong phạm vi giữa con người với con người mà mở rộng ra là mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc
8 câu thơ tiếp theo tác giả đã khẳng định chủ quyền dân tộc, khẳng định giá trị của tự do bằng việc nhắc lại trang sử hào hùng của dân tộc ta một cách đầy vẻ vang, tự hào.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Tác giả dẫn chứng xác thực đầy thuyết phục. Nước Đại Việt ta đã hình thành từ trước với nền văn hiến đã có từ lâu đời, tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử. Ở đây tác giả dùng từ “xưng” để thể hiện sự tự hào, khẳng định chỗ đứng, vị thế của dân tộc ta.
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu , Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Không chỉ dừng lại ở việc khẳng định lãnh thổ và chủ quyền độc lập, tác giả nhắc đến văn hiến, lịch sử, phong tục, tập quán và nhân tài đất nước. Như vậy, đây chính là những yếu tố mới để tạo thành một quốc gia độc lập. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo thật sự hay hơn , đầy đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ông khẳng định lãnh thổ “Núi sông bờ cõi đã chia”, không kẻ nào được xâm phạm, chiếm lấy. Hơn nữa, phong tục tập quán, văn hóa mỗi miền Bắc Nam cũng khác, không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được.
Đặc biệt khi nhắc đến các triều đại trị vì xây nền độc lập, tác giả đã đặt các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần ngang hàng với “Hán, Đường, Tống Nguyên của Trung Quốc vừa có ý liệt kê, vừa có ý đối đầu. Điều đó cho thấy lòng tự hào dân tộc mãnh liệt, ý thức về tự tôn, yêu nước cực kỳ lớn của tác giả. Và ở triều đại nào, thời nào thì hào kiệt đều có. Đây vừa thể hiện lòng yêu nước, tự hào vừa răn đe đối với quân xâm lược muốn thôn tính Đại Việt. Nguyễn Trãi không chỉ khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, mà còn thể hiện niềm tin sắt đá vào các thế hệ anh hùng hào kiệt, hiền tài quốc gia. Đặt vào trong bối cảnh lúc bấy giờ, điều đó phần nào cũng thể hiện sự mới mẻ, tiến bộ của thi hào Nguyễn Trãi.
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi.
Sau khi khẳng định chủ quyền dân tộc, thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc, nhà thơ đã dùng biện pháp liệt kê, dẫn ra những kết cục của kẻ đi ngược lại với chân lý. Những dẫn chứng của ông từ các đời vô cùng thuyết phục. Lưu Cung là vua Nam Hán từng thất bại vì tham lam muốn thu phục Đại Việt; Triệu Tiết tướng của nhà Tống đã thua nặng khi cầm quân sang đô hộ nước ta, Toa Đô, Ô Mã… là các tướng của nhà Nguyên cũng phải bỏ mạng tại nước ta khi cầm quân sang xâm lược… “Chứng cớ còn ghi”, không thể chối cãi được. Đây chính là lời cảnh cáo, răn đe đanh thép với chứng cớ đầy đủ, thuyết phục, rõ rành rành đối với kẻ phi chính nghĩa khi xâm phạm đến lãnh thổ của nước ta. Mượn lời thơ đanh thép, ông tuyên bố với kẻ thù: bất kỳ kẻ nào lăm le xâm chiếm bờ cõi Đại Việt đều sẽ phải gánh chịu thất bại ê chề. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.
Với giọng văn đĩnh đạc, hào hùng, lý lẽ sắc bén, đanh thép và lối diễn đạt cân xứng, song đôi của những câu văn biền ngẫu đã khẳng định và ngợi ca tầm vóc lịch sử lớn lao của nước Đại Việt.
Đoạn mở đầu của Bình ngô đại cáo như một khúc dạo đầu đầy hào sảng, hào hùng về chủ quyền Tổ quốc. Những vần thơ đanh thép, những dẫn chứng xác thực, lý lẽ chặt chẽ được nhà thơ đưa ra đã mang lại giá trị lớn về tinh thần dân tộc mạnh mẽ, về độc lập chủ quyền dân tộc, về tư tưởng lấy dân làm gốc, ắt sẽ chiến thắng… Bình ngô đại cáo là áng hùng thi được ví như bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc. Qua những vần thơ của Nguyễn Trãi, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống, lịch sử, văn hiến của đất nước.
a, nội dung chính : kể lại câu chuyện giữa cáo và cò.
b. tự sự
c. bài học : trong cuộc sống , chúng ta phải biết yêu thương lẫn nhau chớ chơi xấu với ai vì người ta cũng sẽ như thế với mình
+ phải biết đối xử tốt đẹp với người khác , với bạn bè , mọi người xung quanh.... có như thế thì quan hệ giữa mọi người mới tốt đẹp được.
Mở bài phát
Kết bài luôn
Trong truyện ngụ ngôn “Cáo và Cò”, nhân vật Cáo hiện lên là một hình tượng tiêu biểu cho kiểu người xảo quyệt, ích kỉ và thích trêu chọc người khác. Ngay từ đầu câu chuyện, Cáo đã bộc lộ bản tính không thật lòng khi mời Cò đến ăn tiệc. Thay vì chuẩn bị món ăn phù hợp với bạn, Cáo lại cố tình bày súp ra chiếc đĩa phẳng một cách bày biện chỉ thuận lợi cho mình vì mõm cáo ngắn và rộng, còn Cò với chiếc mỏ dài thì không thể ăn được. Chi tiết này cho thấy Cáo không hề tôn trọng bạn bè, mà chỉ muốn lấy sự khó xử của Cò làm trò vui cho bản thân. Hành động ấy thể hiện sự thiếu tinh tế và lòng ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích và sự thỏa mãn của mình.
Không chỉ vậy, qua cách cư xử của Cáo, ta còn thấy rõ sự giả tạo. Cáo tỏ ra niềm nở, thân thiện khi mời Cò đến nhà, nhưng thực chất lại có ý định trêu ghẹo. Điều này phản ánh thói quen nói một đằng làm một nẻo bề ngoài lịch sự nhưng bên trong đầy toan tính. Khi thấy Cò không ăn được, Cáo vẫn thản nhiên thưởng thức phần súp của mình, không hề áy náy hay quan tâm đến cảm xúc của bạn. Qua đó, nhân vật Cáo trở thành hình ảnh phê phán những con người sống thiếu chân thành, thích lợi dụng hoặc chọc ghẹo người khác để mua vui.
Tuy nhiên, khi được Cò mời lại, Cáo lại rơi vào hoàn cảnh tương tự. Cò dọn thức ăn trong chiếc bình cổ cao và hẹp, phù hợp với chiếc mỏ dài của mình, còn Cáo thì không thể ăn được. Lúc này, Cáo phải nếm trải chính cảm giác khó chịu mà mình từng gây ra cho người khác. Tình huống ấy cho thấy sự công bằng trong cuộc sống: ai gieo điều gì sẽ gặt điều đó. Cáo từ vị thế kẻ trêu chọc đã trở thành người chịu thiệt, qua đó làm nổi bật bài học đạo đức của câu chuyện.
Như vậy, nhân vật Cáo không chỉ đại diện cho sự xảo trá và ích kỉ mà còn góp phần làm sáng tỏ thông điệp của truyện: hãy đối xử với người khác bằng sự tôn trọng và chân thành, nếu không chính mình sẽ phải nhận lại hậu quả tương xứng. Qua hình tượng Cáo, người đọc đặc biệt là học sinh rút ra bài học sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống hằng ngày.