vì sao làm được
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
a) Vì để tăng áp suất của chiếc đinh lên bề mặt bị đóng, giúp chiếc đinh dễ đóng hơn.
b) Lưỡi dao thường được mài sắc, mỏng để giảm diện tích tiếp xúc tăng áp suất khi ta thái vật gì đó.
c) Dùng giày đế phẳng và rộng giúp người thợ tăng diên tích tiếp xúc với xi măng, khi làm việc không bị lún.
Là loại phải đốt lửa ở miệng dưới của quả bóng làm bằng vải, không khí trong quả bóng nóng lên giúp nâng khí cầu bay được. Các khí cầu du lịch ngày nay thường là loại này.
Vậy đi vào vấn đề chính là tại sao khinh khí cầu lại bay được nhé: Thực ra rất dễ để giải thích điều này, theo nguyên tắc khí nào nhẹ hơn thì bay lên trên. Trong khí cầu dạng kín thì do khí Hidro và Heli nhẹ hơn không khí (tỉ khối của chúng là 2/29 và 4/29) nên khi bơm vào bóng nó sẽ giúp nâng các vật bay lên. Nhưng cũng lưu ý là khí Hidro rất nguy hiểm do nó dễ bốc cháy, còn khí Heli là khí trơ nên nó an toàn hơn mặc dù nó nặng gấp đôiHidro.
Còn trong khí cầu hở ta phải đốt nóng không khí trong quả cầu (bây giờ thường dùng gas) để làm không khí trong đó giãn nở dẫn đến tỉ khối của chúng so với không khí bên ngoài giảm đi thì nó mới bay lên được.
Nói chung muốn những quả cầu muôn sắc màu kia bay được thì phải làm sao cho "khí" ở trong đó "nhẹ" hơn không khí bên ngoài
Khinh khí cầu bay được là vì một nguyên tắc khoa học rất đơn giản: không khí nóng bay lên. Không khí nóng nhẹ hơn ( ít dày đặc ) so với không khí lạnh, cho nên nó sẽ bay lên.
Phần bóng của một khinh khí thường được làm bằng nylon . Nylon là vật liệu hoàn hảo cho khinh khí cầu, vì nó có trọng lượng nhẹ , chắc chắn, và nó không tan dễ chảy như các vật liệu khác khi tiếp xúc nhiệ
Khinh khí cầu bay được là vì một nguuyên tắc khoa học rất đơn giản: không khí nóng bay lên. Không khí nóng nhẹ hơn (ít dày đặc) so với không khí lạnh, cho nên nó sẽ bay lên.
Phần bóng của một khinh khí thường được làm bằng nylon. Nylon là vật liệu hoàn hảo cho khinh khí cầu, vì nó có trọng lượng nhẹ, chắc chắn, và không dễ chảy như các vật liệu khác khi tiếp xúc nhiệt độ.
Một bệ đốt được đặt dưới bóng. Sử dụng nhiên liệu propane. Khi phi công đốt lửa sẽ làm nóng không khí bên trong quả bóng. Quả bóng bắt đầu to lên, kéo theo chiếc giỏ và mọi người bên trong bay lên.
Bạn đã bao giờ muốn bay như một chú chim lên trên bầu trời? Bạn có nghĩ rằng sẽ rất thú vị khi được lướt ở trên cao, nhìn thấy tất cả mọi thứ từ trên xuống? Mặc dù chúng ta không thể có cánh và bay, nhưng chúng ta vẫn có thể từ trên cao như những chú chim bằng cách bay trên khinh khí cầu.
Có thể bạn đã nhìn thấy khinh khí cầu trên bầu trời với màu sắc tươi sáng và thiết kế thú vị. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi làm thế nào nó có thể bay như vậy chưa?
Khinh khí cầu bay được là vì một nguyên tắc khoa học rất đơn giản: không khí nóng bay lên. Không khí nóng nhẹ hơn (ít dày đặc) so với không khí lạnh, cho nên nó sẽ bay lên.
Nếu bạn sống trong một ngôi nhà nhiều tầng, có thể bạn đã trải nghiệm được nguyên tắc này. Tầng hầm của nhà thường khá mát mẻ, và tầng đầu tiên cũng thật dễ chịu. Tuy nhiên, nếu bạn đi lên cầu thang, bạn sẽ nhận thấy không khí trở nên ấm hơn. Và nếu bạn leo lên gác mái, bạn sẽ thấy không khí nóng nhất trong nhà!
Phần bóng của một khinh khí thường được làm bằng nylon. Nylon là vật liệu hoàn hảo cho khinh khí cầu, vì nó có trọng lượng nhẹ, chắc chắn, và nó không dễ chảy như các vật liệu khác khi tiếp xúc nhiệt độ.
Một bệ đốt được đặt dưới bóng sử dụng nhiên liệu propane. Khi phi công đốt lửa sẽ làm nóng không khí bên trong quả bóng. Quả bóng bắt đầu to lên, kéo theo chiếc giỏ và mọi người bên trong bay lên.
Một foot (0.3048m) khối không khí bên trong bóng chỉ có thể nâng khoảng bảy gram, một trong lượng rất nhỏ. Để nâng trọng lượng của giỏ và hành khách, khinh khí cầu phải lớn để có nhiều không khí nóng.
Có lẽ bạn đang tự hỏi tại sao có một lỗ ở dưới cùng của bóng. Sao nó không được đóng lại? Và tại sao không khí không thoát ra ngoài?
Không khí nóng nhẹ, cho nên nó sẽ bay lên và do đó sẽ không thoát ra khỏi đáy của quả bóng. Miễn là không khí vẫn nóng, nó sẽ tiếp tục bay lên, đẩy quả bóng lên và giữ nó trên không. Càng nhiều không khí bên trong quả bóng, thì khinh khí cầu sẽ càng bay cao hơn. Điều này có nghĩa là bóng lớn sẽ bay cao hơn so với bóng nhỏ.
Và để trở xuống, phi công sẽ mở một van được gọi là ” van dù”. Van dù là một lỗ thông hơi ở phía trên cùng của quả bóng, cho phép không khí nóng thoát ra ngoài. Điều này cũng làm cho không khí còn lại bên trong dần dần bắt đầu mát hơn, và bóng từ từ chìm hạ xuống.
Vì kim loại dẫn nhiệt tốt nên chảo được làm bằng kim loại
Còn gỗ và nhựa dẫn nhiệt kém nên cán thường là bằng nhựa và gỗ
Cách làm của cô em giúp chị tỉnh ngộ là vì : Chỉ ra được cái thói xấu của người chị. Nếu không thay đổi cô em cũng sẽ bắt chước theo thì thật là tai hại. Làm chị mà không gương mẫu, không làm cho ba mẹ vui, không làm điều tốt cho em mình noi theo thì không xứng đáng làm người con, người chị trong nhà
Nội dung : Nói dối là một tính xấu làm mất lòng tin và sự tín nhiệm của mọi người đối với mình
I. TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT HỒ CHÍ MINH VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Đại đoàn kết - một tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam
Do những điều kiện về địa lý tự nhiên, do nằm ở vị trí chiến lược nên lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình chống thiên tai, địch hoạ. Chính những cuộc đấu tranh đó đòi hỏi cộng đồng dân tộc phải sát cánh, đoàn kết, chụm lại với nhau.
Tính tất yếu khách quan đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối còn xuất phát từ chủ trương, chính sách nhất quán của các thế lực xâm lược. Việt Nam là một nước đất không rộng, người không đông nhưng luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh, các đế quốc to. Những thế lực này dù từ đâu đến, đến vào thời kỳ nào đều thực thi chủ trương, thủ đoạn “chia để trị”. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói đã bị chia năm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng phá vỡ tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “Liên bang” gọi là “Liên bang Đông Dương”. Trong điều kiện đó, để tồn tại và phát triển, người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác đều nhắc nhở, đòi hỏi lẫn nhau:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên truyền thống đoàn kết Việt Nam. Truyền thống đó trở thành nguồn gốc làm nên sức mạnh của cộng đồng người Việt và trỗi dậy mạnh mẽ đặc biệt mỗi khi đất nước bị hoạ xâm lăng. Lịch sử chỉ ra rằng, khi nào dân tộc bị chia rẽ, bè phái thì đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, suy yếu và bị thôn tính.
Trong thời đại ngày nay, khi mà chủ nghĩa đế quốc đã liên kết với nhau trên phạm vi thế giới, khi mà mỗi vấn đề dù lớn hay nhỏ của một quốc gia đều có ảnh hưởng, tác động đến các quốc gia khác, thì tư tưởng đại đoàn kết lại càng phải được phát huy để tạo ra nguồn lực đủ sức chống sự tha hoá từ bên ngoài tràn vào, giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc mà vẫn tiếp thu được trí tuệ tinh hoa văn hóa nhân loại.
Mặt khác, thế giới đang có những biến chuyển lớn theo hướng đa phương và song phương, hội nhập và phát triển. Đó là những yếu tố khách quan mang tính thời đại, bởi vậy sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới là một tất yếu lịch sử. Cách mạng Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vấn đề là chúng phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiềm năng sức mạnh dân tộc với sự vận động của quốc tế để không bỏ lỡ, không đánh mất thời cơ hội nhập phát triển, nhưng cũng không bị hoà tan, không lệ thuộc vào bên ngoài.
Đối với Việt Nam, ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã nói: Việt Nam mong muốn được làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Tư tưởng chiến lược mang tính thời đại đó đã quy tụ được sức mạnh của nhân loại giúp chúng ta giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Ngày nay, tư tưởng đó đang được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và vận dụng phù hợp với tình hình, điều kiện mới ở trong nước và quốc tế.
2. Đại đoàn kết - một nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công phải có lực lượng và lực lượng đó phải đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù, xây dựng thành công xã hội mới. Trong thời đại mới, kẻ thù của cách mạng mang tính quốc tế, cách mạng mỗi nước là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới. Trong điều kiện đó, cách mạng muốn thành công phải có lực lượng mạnh mẽ ở trong nước, đồng thời phải có sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của cộng đồng quốc tế.
Cũng theo Hồ Chí Minh, muốn có lực lượng phải thực hành đoàn kết vì “đoàn kết là lực lượng”. Bởi vậy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa sống còn lâu dài, quyết định thành bại của cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ, đoàn kết trong đảng, đoàn kết dân tộc kết hợp chặt chẽ với đoàn kết quốc tế, tạo ra sức mạnh to lớn, vượt trội là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Để thực hiện đại đoàn kết điều căn bản là phân biệt rõ bạn và thù. Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở những người cách mạng: chủ nghĩa Mác - Lênin dạy chúng ta rằng, muốn làm cách mạng thắng lợi phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải biết thêm bầu bạn, bớt kẻ thù. Nhận thức này có từ rất sớm ở Hồ Chí Minh. Đầu thế kỷ XX, trong khi nhiều người Việt Nam căm thù thực dân Pháp cho rằng, những người Pháp, người da trắng là kẻ thù, hoặc nhiều người lao động Pháp bị hệ thống tuyên truyền thực dân lừa gạt cho rằng những người ở thuộc địa là loại người ngu dốt cần được “khai hoá”, thì ngược lại, Hồ Chí Minh đã sớm xác định đúng đắn bạn, thù của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu tổng kết thực tiễn Hồ Chí Minh đi đến kết luận, thực dân Pháp và tay sai là kẻ thù của nhân dân lao động Pháp và nhân dân Việt Nam. Còn nhân dân Việt Nam cùng nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động Pháp là anh em, quan hệ giữa họ “sẽ là những mối quan hệ đoàn kết và liên minh”. Với nhận định đúng đắn đó, Hồ Chí Minh đã xác định trong cộng đồng người Việt Nam có một số rất ít thững kẻ cố tình phản bội lợi ích dân tộc, cấu kết với phátxít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược là kẻ thù của nhân dân và cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ, tất cả những người Việt Nam yêu nước, nhân dân Nhật, Pháp, Mỹ yêu hoà bình, tự do, phản đối cuộc chiến của chính phủ nước họ tiến hành ở Việt Nam thì đều là bạn bè, là lực lượng cần đoàn kết, liên minh. Đi theo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam ngày càng được nhiều lực lượng trong nước và trên thế giới đồng tình ủng hộ. Hồ Chí Minh từng khẳng định nhờ lực lượng đó, cách mạng Tháng Tám đã thành công, kháng chiến chống thực dân Pháp đã thắng lợi và đế quốc Mỹ cùng tay sai nhất định sẽ thất bại, Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ hoà bình, độc lập, thống nhất và giàu mạnh. Mối quan hệ chặt chẽ giữa đại đoàn kết và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. Hồ Chí Minh kết luận: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
II- TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT HỒ CHÍ MINH - MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
1. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công “trước hết phải có Đảng cách mệnh”, “cách mạng là việc chung của cả dân chúng chứ không phải của riêng một hai người” (1) . Do đó, với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết định hướng, có lãnh đạo. Trong khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản không chỉ là một bộ phận bình đẳng mà là linh hồn, là lực lượng lãnh đạo. Vị trí, vai trò đó của Đảng mang tính khách quan bởi vì Đảng là đạo đức, là văn minh.
Để xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và cả dân tộc, Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải có trí tuệ, cách mạng, phải tiêu biểu cho khối đoàn kết, mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Hồ Chí Minh còn đòi hỏi Đảng Cộng sản có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải tập hợp, đoàn kết và phải chỉ cho quần chúng thấy được những hình thức, phương pháp tổ chức thích hợp nhất để có thể phát huy tốt nhất, hiệu quả nhất sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh cho những quyền thiêng liêng của tổ quốc và lợi ích chính đáng của nhân dân lao động. Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Để làm trọn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc để đoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân. Có như thế mới phát triển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng” (2) . Người còn nhắc nhở: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” (3) .
Người chỉ rõ: “Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ vang của dân tộc ta (4) . Đánh giá kết quả của chính sách đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất với sự lãnh đạo của Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hoà bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc” (5) .
Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh được xây dựng trên lập trường của giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Mọi sự phủ nhận lập trường giai cấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với dân tộc, thực chất là phủ nhận và làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
Trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đến Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ còn là tình cảm của “người trong một nước phải t...

😎
tất nhiên rồi bạn
????????????