K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

25 tháng 12 2025

Einstein?

25 tháng 12 2025

Là thg bố m

1. Thuyết nào của Einstein xác định rằng, không có gì có thể đi nhanh hơn ánh sáng?- Thuyết tương đối rộng- Thuyết Big Bang- Thuyết tương đối đặc biệt2. Trong phương trình nổi tiếng của Einstein: E = mc ^ 2; “c” có nghĩa là gì?- Khối lượng- Năng lượng- Tốc độ ánh sáng3. Einstein trở thành công dân quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, trước đó ông đã từ bỏ quốc tịch nào?- Sao Hỏa- Đức- Hoa...
Đọc tiếp

1. Thuyết nào của Einstein xác định rằng, không có gì có thể đi nhanh hơn ánh sáng?

- Thuyết tương đối rộng

- Thuyết Big Bang

- Thuyết tương đối đặc biệt

2. Trong phương trình nổi tiếng của Einstein: E = mc ^ 2; “c” có nghĩa là gì?

- Khối lượng

- Năng lượng

- Tốc độ ánh sáng

3. Einstein trở thành công dân quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, trước đó ông đã từ bỏ quốc tịch nào?

- Sao Hỏa

- Đức

- Hoa Kỳ

4. Vào thời điểm ông công bố thuyết tương đối đặc biệt, Einstein làm công việc gì?

- Làm việc trong gánh xiếc

- Nhân viên bưu điện

- Làm việc tại phòng sáng chế

5. Einstein đoạt giải Nobel năm 1921 cho thành tựu nào?

- Hiệu ứng quang điện

- Thuyết tương đối rộng

- Ăn nhiều xúc xích hơn bất cứ ai trong phòng thí nghiệm

6. Vợ thứ 2 của Einstein, Elsa, là ai?

- Em họ của ông

- Công chúa

- Nghệ sĩ xiếc đu dây

7. Trước khi Einstein công bố thuyết tương đối rộng, công trình nghiên cứu của nhà vật lý nào được công nhận rộng rãi về lực hấp dẫn?

- Howard Wolowitz

- Benjamin Franklin

- Isaac Newton

8. Einstein bác bỏ lý thuyết vật lý nào khi nói rằng "Chúa không chơi xúc xắc"?8. Einstein bác bỏ lý thuyết vật lý nào khi nói rằng "Chúa không chơi xúc xắc"?

-Lý thuyết trò chơi

- Cơ học lượng tử

- Nhiệt động lực học

9. Năm 1939, Einstein đã viết một lá thư kêu gọi Tổng thống Franklin Roosevelt đẩy mạnh dự án phát triển nghiên cứu về bom nguyên tử để chạy đua với Hitler. Dự án đó là:

 

- Dự án Manhattan

- Dự án Black Hole

- Dự án Roswell

10. Chuyện gì xảy ra với bộ não của Einstein sau khi ông qua đời?

- Trưng bày tại một viện bảo tàng

- Được nghiên cứu bởi các nhà khoa học

- Tất cả những điều trên

1
23 tháng 6 2018
  • Albert Einstein là 1 trong những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại. Tuy nhiên, những thông tin về sự nghiệp và cuộc đời của ông vẫn luôn là bí ẩn với không ít người.

    1

    1. Thuyết nào của Einstein xác định rằng, không có gì có thể đi nhanh hơn ánh sáng

    Đáp án: 3

    Thuyết tương đối rộng

    Thuyết Big Bang

    Thuyết tương đối đặc biệt

    2

    2. Trong phương trình nổi tiếng của Einstein: E = mc ^ 2; “c” có nghĩa là gì?

    Đáp án: 3

    Khối lượng

    Năng lượng

    Tốc độ ánh sáng

    3

    3. Einstein trở thành công dân quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, trước đó ông đã từ bỏ quốc tịch nào?

    Đáp án: 2

    Sao Hỏa

    Đức

    Hoa Kỳ

    4

    4. Vào thời điểm ông công bố thuyết tương đối đặc biệt, Einstein làm công việc gì?

    Đáp án: 3

    Làm việc trong gánh xiếc

    Nhân viên bưu điện

    Làm việc tại phòng sáng chế

    5

    5. Einstein đoạt giải Nobel năm 1921 cho thành tựu nào?

    Đáp án: 1

    Hiệu ứng quang điện

    Thuyết tương đối rộng

    Ăn nhiều xúc xích hơn bất cứ ai trong phòng thí nghiệm

    6

    6. Vợ thứ 2 của Einstein, Elsa, là ai?

    Đáp án: 1

    Em họ của ông

    Công chúa

    Nghệ sĩ xiếc đu dây

    7

    7. Trước khi Einstein công bố thuyết tương đối rộng, công trình nghiên cứu của nhà vật lý nào được công nhận rộng rãi về lực hấp dẫn

    Đáp án: 3

    Howard Wolowitz

    Benjamin Franklin

    Isaac Newton

    8

    8. Einstein bác bỏ lý thuyết vật lý nào khi nói rằng "Chúa không chơi xúc xắc"?8. Einstein bác bỏ lý thuyết vật lý nào khi nói rằng "Chúa không chơi xúc xắc"

    Đáp án: 2

    Lý thuyết trò chơi

    Cơ học lượng tử

    Nhiệt động lực học

    9

    9. Năm 1939, Einstein đã viết một lá thư kêu gọi Tổng thống Franklin Roosevelt đẩy mạnh dự án phát triển nghiên cứu về bom nguyên tử để chạy đua với Hitler. Dự án đó là:

    Đáp án: 1

    Dự án Manhattan

    Dự án Black Hole

    Dự án Roswell

    10

    10. Chuyện gì xảy ra với bộ não của Einstein sau khi ông qua đời?

    Đáp án: 2

    Trưng bày tại một viện bảo tàng

    Được nghiên cứu bởi các nhà khoa học

    Tất cả những điều trên

    Nếu bạn trả lời đầy đủ các câu hỏi trên, hãy nhấn "Xem thêm kết quả" Xem kết quả

    * Kết quả trắc nghiệm kiến thức:

    - Nếu trả lời đúng từ 7-10 câu hỏi, bạn quả là một người rất am hiểu về đại thiên tài Albert Einstein. Thật đáng ngưỡng mộ!

    - Nếu trả lời đúng từ 4-6 câu hỏi, kiến thức thiên tài Albert Einstein của bạn ở mức trung bình khá. 

    - Nếu trả lời dưới 4 câu hỏi, có lẽ bạn cần tìm hiểu thêm một số kiến thức thú vị về Albert Einstein cũng như những thiên tài vĩ đại trong lịch sử khác.

     

    Ông không chỉ là đại thiên tài toàn diện nhất mọi thời đại mà còn là một trong những nhân vật chứa đựng bí ẩn được...

30 tháng 1 2024

Sức hấp dẫn, thuyết phục cho nhan đề của văn bản nghị luận nhờ vào hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của văn bản.

26 tháng 5 2022

tự làm hết mỏi tay :<

→ Các loại năng lượng:

- Động năng 

- Thế năng hấp dẫn

- Thế năng đàn hồi

- Quang năng

- Nhiệt năng

- Điện năng

- Hóa năng

- Năng lượng hạt nhân

- Năng lượng chuyển hóa toàn phần

- Năng lượng tái tạo

- Năng lượng sạch

- Năng lượng gây ô nhiễm môi trường

- ...

→ Lực hấp dẫn là lực hút giữa các vật có khối lượng

Mik chx hỉu câu 2 lém

→ Lực tiếp xúc xuất hiện khi vật (hoặc đối tượng) gây ra lực có sự tiếp xúc với vật (hoặc đối tượng) chịu tác dụng của lực

Lực không tiếp xúc xuất hiện khi vật (hoặc đối tượng) gây ra lực không có sự tiếp xúc với vật (hoặc đối tượng) chịu tác dụng của lực.

→ Lực là sự đẩy hoặc sự kéo của vật này lên vật khác

ủa đou ra hóa lun z :v

Nhiên liện (chất đốt) khi cháy đều tỏa nhiệt và ánh sáng

→ Dựa vào trạng thái, người ta phân loại nhiên liệu thành nhiên liệu khí (gas, biogas, khí than,...); nhiên liệu lỏng (xăng, dầu, cồn,...); nhiên liệu rắn (củi, than đá, nến, sáp,...)

câu 2 bn tự lm nhé trường bn mà chọn 1 trong mấy cái này nếu trường bn có ko thì khỏi viết: ánh sáng Mặt Trời, gió, thủy triều, hạt nhân, địa nhiệt,...

học tốt nhé :> 

26 tháng 5 2022

Các loại năng lượng (mình biết 1 số thôi nhé!)

Động năng , năng lượng điện,năng lượng nhiệt , năng lượng ánh sáng,năng lượng hóa học,năng lượng hạt nhân.

Lực hấp dẫn là lực hút giữa các vật có khối lượng .Lực hấp dẫn có ở mọi nơi trên Trái Đất

Lực tiếp xúc là lực xuất hiện khi vật gây ra lực có sự tiếp xúc với vật chịu TD của lực

Lực không tiếp xúc là lực xuất hiện khi vật gây ra lực mà không có sự tiếp xúc với vật chịu TD của lực

Lực là sự đẩy hoặc sự kéo

Nhiên liệu là....(phần này mình hình như chưa có học)

Tên các năng lượng tái tạo (mình biết) :năng lượng mặt trời

 

18 tháng 4 2021

Ta sử dụng thuyết tương đối hẹp:

Khi đi với v = v ánh sáng

=>theo lý thuyết,khi chiếu ánh sáng,ta và ánh sáng có v bằng nhau.Nhưng ánh sáng lại nhanh hơn ta 1 khoảng bằng v ánh sáng.

Ở đây, ta sử dụng chúng làm bài tập này:

6-3=3

Nhưng vì thuyết tương đối hẹp ở ^

6-3=6

19 tháng 4 2021

wao đỉnh của chóp

các bạn hãy viết  20 câu nói của của thiên tài Albert Einstein thành tiếng anh rồi dịch sang việtcơ hội tick tick mình mình tick lạivà đây là kiến thức mình biết về ông ấy các bạn có thể tìm hiểuAlbert Einstein (1879 - 1955) - nhà vật lý lý thuyết người Đức, một trong những nhà khoa học lỗi lạc nhất mọi thời đại. Phát minh của ông đóng góp rất lớn cho nền khoa học chung...
Đọc tiếp

các bạn hãy viết  20 câu nói của của thiên tài Albert Einstein thành tiếng anh rồi dịch sang việt

cơ hội tick 

tick mình mình tick lại

và đây là kiến thức mình biết về ông ấy các bạn có thể tìm hiểu

Albert Einstein (1879 - 1955) - nhà vật lý lý thuyết người Đức, một trong những nhà khoa học lỗi lạc nhất mọi thời đại. Phát minh của ông đóng góp rất lớn cho nền khoa học chung của thế giới. Trong số đó phải kể đến Thuyết tương đối, giải thích về bản chất của lực hấp dẫn, đến nay lý thuyết này vẫn được sử dụng.

Nhưng ít ai biết rằng, thuở nhỏ Einstein là một cậu bé chậm phát triển, bị giáo viên coi thường. Cha mẹ ông khá lo lắng về cậu con trai nên đã đưa Einstein đến bác sĩ: "Bố mẹ tôi đã lo sợ đến mức họ phải tham khảo ý kiến của bác sĩ", Einstein chia sẻ về quãng thời gian tuổi thơ của mình.

Hồi bé, Einstein thích chơi đàn vĩ cầm trước khi có hứng thú với khoa học. Một lần tình cờ trông thấy chiếc la bàn, Einstein đã bắt đầu tìm tòi, khám phá về khoa học. Năm 1921, Einstein nhận giải Nobel về Vật lý. Năm 1999, tạp chí Times vinh danh vĩ nhân này là "Con người của thế kỷ".

Mặc dù nổi tiếng toàn cầu với những thành tựu khoa học nhưng ông chưa bao giờ coi mình là một con người đặc biệt. Ông khiêm tốn nói rằng: "Tôi không phải là một thiên tài. Tôi chỉ là người vô cùng tò mò mà thôi".

Có lẽ chính bản tính tò mò, ham học hỏi đã giúp cậu bé chậm phát triển Einstein thưở nào trở thành một trong những vĩ nhân được cả thế giới kính nể. Không chỉ để lại cho đời sau những phát minh khoa học, nhà thiên tài này còn để lại cho chúng ta những câu nói bất hủ về cuộc sống. Dưới đây là 13 câu nói để đời của Einstein chắc chắn sẽ khiến bạn gật gù "sao đúng thế?"
 

6
12 tháng 7 2018

1.Giận dữ chỉ náu mình trong lồng ngực của những kẻ ngu xuẩn.

Anger dwells only in the bosom of fools.

2.Nguồn tri thức duy nhất là kinh nghiệm.

The only source of knowledge is experience.

3.Toán học thuần túy, theo cách của riêng nó, là thi ca của tư duy logic.

Pure mathemas is, in its way, the poetry of logical ideas.

 4.Thật kỳ diệu rằng sự tò mò vẫn sống sót sau giáo dục truyền thống.

It is a miracle that curiosity survives formal education.

5.Người trí thức giải quyết rắc rối; bậc anh tài ngăn chặn rắc rối.

Intellectuals solve problems, geniuses prevent them.

6.Với tôi thì tôi ưa thói xấu câm lặng hơn là đức hạnh phô trương.

As far as I'm concerned, I prefer silent vice to ostentatious virtue.

 7.Mỗi người nên đi tìm điều vốn thế chứ không phải điều mình nghĩ là nên thế.

A man should look for what is, and not for what he thinks should be.

8.Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm.

Love is a better teacher than duty.

 9.Thế giới sẽ bị hủy diệt không phải bởi những người làm điều ác, mà bởi những người đứng nhìn mà không làm gì cả.

The world will not be destroyed by those who do evil, but by those who watch them without doing anything.

10.Khi chúng ta chấp nhận giới hạn của mình, chúng ta đã vượt qua nó.

Once we accept our limits, we go beyond them.

 11.Nghệ thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt và tri thức sáng tạo.

It is the supreme art of the teacher to awaken joy in creative expression and knowledge.

12.Ít người thực sự nhìn với đôi mắt của mình và cảm nhận bằng trái tim mình.

Few are those who see with their own eyes and feel with their own hearts. 

13.Quy luật của toán học càng liên hệ tới thực tế càng không chắc chắn, và càng chắc chắn thì càng ít liên hệ tới thực tế.

As far as the laws of mathemas refer to reality, they are not certain, and as far as they are certain, they do not refer to reality.

14.Chỉ cuộc đời sống cho người khác là cuộc đời đáng giá.

Only a life lived for others is a life worthwhile.

15.Giáo dục là thứ gì còn lại sau khi anh đã quên những gì anh học ở trường.

Education is what remains after one has forgotten what one has learned in school.

16.Những tâm hồn vĩ đại luôn va phải sự chống đối mãnh liệt từ những trí óc tầm thường.

Great spirits have always encountered violent opposition from mediocre minds.

17.Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!

Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!

18.Điên rồ: lặp đi lặp lại một việc và hy vọng những kết quả khác nhau.

Insanity: doing the same thing over and over again and expecting different results.

 19.Ai cũng nên được tôn trọng như một cá nhân, nhưng không phải là thần tượng hóa.

Everyone should be respected as an individual, but no one idolized.

20.Hãy cùng gia đình vui tươi trong miền đất cuộc sống đẹp đẽ này!

Rejoice with your family in the beautiful land of life!

12 tháng 7 2018

Mik rất thích ông này

Vì ông này là người do thái nên bị phân biệt chủng tộc sau đó ông đã rồi nước Đức và trở thành Dipora ( dipora là những người khong có quốc tịch

25 tháng 5 2022

Trọng lực là lực hút trái đất tác dụng lên một vật, có phương thẳng đứng và có chiều hướng về phía của trái đất. Trọng lực được xác định bằng cách tính khối lượng của vật với gia tốc tự do tại nơi đặt vật đó. Trọng lực sẽ có phương thẳng đứng và chiều từ hướng về phía trái đất.

      tk

25 tháng 5 2022

tham khảo ghi đầu in đậm vào

 đề cập đến gia tốc mà Trái Đất gây ra cho các đối tượng ở trên hoặc gần của bề mặt Trái Đất. Trong hệ đơn vị SI gia tốc này được đo bằng mét trên giây bình phương (ký hiệu (m/s2 hoặc m•s−2), hoặc tương đương với Newtons trên kilogram (N/kg hoặc N•kg−1). Nó có giá trị xấp xỉ 9,81 m/s2, tức là nếu bỏ qua ảnh hưởng của sức cản không khí, tốc độ của một vật rơi tự do gần bề mặt Trái Đất sẽ tăng thêm khoảng 9,81 m/s (32,2 ft/s) sau mỗi giây. Giá trị này đôi khi được gọi không chính thức là g nhỏ (ngược lại, các hằng số hấp dẫn G được gọi là G lớn).

Nghiên cứu trọng trường Trái Đất là một lĩnh vực của địa vật lý. Kết quả của nghiên cứu cũng áp dụng để miêu tả trọng trường tại các hành tinh, các thiên thể khác.

Trên thực tế, trọng lực Trái Đất thật sự phụ thuộc vào vị trí. Xét trên bề mặt Trái Đất, giá trị trung bình của trọng lực Trái Đất là 9,80665 m/s², với nhiều ký hiệu khác nhau, lần lượt là gn, ge (đôi khi là giá trị pháp tuyến xích đạo của Trái Đất, 9,78033 m/s2),g0, hoặc đơn giản là g.

Trọng lượng của một vật trên bề mặt Trái Đất là lực hướng xuống của vật đó, được đề cập ở Định Luật II Newton, hay F = ma (lực kéo = trọng lượng x gia tốc). Gia tốc trọng trường cũng góp phân vào gia tốc trọng lực, nhưng đối với các yếu tố khác, chẳng hạn như sự tự chuyển động của Trái Đất cũng đóng góp một phần vào và làm ảnh hưởng đến trọng lượng của vật. Trọng lực thường không bao gồm lực hút của Mặt Trời hay Mặt Trăng (liên quan đến hiện tượng thuỷ triều).

22 tháng 9 2017

Chọn đáp án D.

Bản chất lực tương tác giữa các nuclon trong hạt nhân là lực tương tác mạnh.

27 tháng 11 2021

Thuyết tiến hóa và di truyền của Darwin

 

19 tháng 1 2022

Linh Từ Quốc mẫu, hay còn gọi là Kiến Gia Hoàng hậu, Thuận Trinh Hoàng hậu hay Huệ hậu, là Hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý với tư cách là vợ của Hoàng đế Lý Huệ Tông Lý Hạo Sảm. bà là mẹ ruột của Lý Chiêu Hoàng và Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, cả hai đều là hoàng hậu của người cháu gọi bà bằng cô, Trần Thái Tông Trần  

Thuyết tương đối miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian trong một thực thể thống nhất là không thời gian cũng như giải thích bản chất của lực hấp dẫn là do sự uốn cong của không thời gian bởi vật chất và năng lượng 

Trong vật lý học, thuyết tương đối hẹp là một lý thuyết vật lý đã được xác nhận bằng thực nghiệm và chấp nhận rộng rãi đề cập về mối quan hệ giữa không gian và thời gian. Theo cách trình bày logic ban đầu của Albert Einstein, thuyết tương đối hẹp dựa trên hai tiên đề 

Thuyết tương đối rộng hay thuyết tương đối tổng quát là lý thuyết hình học của lực hấp dẫn do nhà vật lý Albert Einstein công bố vào năm 1915 và hiện tại được coi là lý thuyết miêu tả hấp dẫn thành công của vật lý hiện đại

19 tháng 1 2022

tham khảo

Linh Từ Quốc mẫu (chữ Hán: 靈慈國母, ? - 1259), hay còn gọi là Kiến Gia Hoàng hậu (建嘉皇后)[note 1]Thuận Trinh Hoàng hậu (順貞皇后) hay Huệ hậu (惠后)[1][2], là Hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý với tư cách là vợ của Hoàng đế Lý Huệ Tông Lý Hạo Sảm. bà là mẹ ruột của Lý Chiêu Hoàng và Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, cả hai đều là hoàng hậu của người cháu gọi bà bằng cô, Trần Thái Tông Trần Cảnh.

Trong lịch sử Việt Nam, bà được biết đến chủ yếu là mẹ của Lý Chiêu Hoàng - vị nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử. Với địa vị hoàng hậu nhà Lý của mình, có vai trò không nhỏ trong việc họ Trần soán ngôi nhà Lý, nhượng ngôi cho cháu trai là Trần Thái Tông để lập ra triều đại nhà Trần. Con gái bà là Chiêu Hoàng được sách lập làm hoàng hậu, trở thành hoàng hậu thứ nhất của Thái Tông. Sau khi nhà Trần được thiết lập, bà bị giáng làm Công chúa để phù hợp vai vế (cô của nhà vua), nhưng Trần Thái Tông vẫn không nỡ gọi bà là "công chúa" như nữ quyến hoàng gia bình thường khác, vì thế đã dùng biệt hiệu "Quốc mẫu" để gọi bà, còn khiến bà được hưởng quy chế ngựa, xe và nghi trượng ngang hàng với hoàng hậu. Sau khi Lý Huệ Tông tự sát, bà bị giáng làm công chúa và chính thức tái hôn với Trần Thủ Độ - một người trong họ nhà Trần, lúc này đang giữ chức Thái sư nắm trọn quyền hành.

Trong vấn đề tranh giành được ngôi vị của họ Trần, các sử gia thường đánh giá vai trò của bà cùng Trần Thủ Độ là như nhau, đều mang tính quyết định dẫn đến sự thành công của họ Trần. Hai sách Việt sử tiêu án cùng Cương mục thậm chí còn nhấn mạnh việc bà đã "thông đồng" cùng Trần Thủ Độ tham gia sự kiện Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng. Về sau, trong sự kiện Chiêu Hoàng bị phế ngôi vị hoàng hậu để Thuận Thiên lên thay, bà cũng tham gia rất tích cực khiến sự việc trôi chảy để Thuận Thiên sinh ra hoàng đế đời sau, thế nhưng cũng đồng thời giúp anh em Trần Thái Tông hòa giải. Hành động của bà được nhìn nhận là toàn bộ vì lợi ích của họ Trần, đối với lịch sử họ Trần có một sự tích cực rất lớn.

Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Toàn thư có đánh giá rất trung lập về Linh Từ, nhìn nhận cái công lao của bà giúp nhà Trần trong việc nội trị, thế nhưng phần báo đáp nhà Lý thì không được bằng, dù bà từng là vợ và là con dâu của họ Lý, đồng thời ca thán: "Thế mới biết trời sinh Linh Từ là để mở nghiệp nhà Trần!".

Thuyết tương đối

Thuyết tương đối miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian trong một thực thể thống nhất là không thời gian cũng như giải thích bản chất của lực hấp dẫn là do sự uốn cong của không thời gian bởi vật chất và năng lượng. Thuyết tương đối gồm hai lý thuyết vật lý do Albert Einstein phát triển, với thuyết tương đối đặc biệt công bố vào năm 1905 và thuyết tương đối tổng quát công bố vào cuối năm 1915 và đầu năm 1916.[1] Thuyết tương đối hẹp miêu tả hành xử của không gian và thời gian và những hiện tượng liên quan từ những quan sát viên chuyển động đều tương đối với nhau. Thuyết tương đối rộng tổng quát các hệ quy chiếu quán tính sang hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc và bao gồm lực hấp dẫn giữa các khối lượng với nhau.[2]

Thuyết tương đối thường phải được tính đến trong những quá trình có vận tốc là lớn đáng kể so với tốc độ ánh sáng (thường là trên 10% tốc độ ánh sáng) hoặc có trường hấp dẫn khá mạnh và không thể bỏ qua được. Ở vận tốc tương đối tính, các hiệu ứng của thuyết tương đối hẹp trở nên quan trọng và ảnh hưởng tới kết quả tiên đoán cũng như miêu tả hiện tượng vật lý.[1]

Thuật ngữ "thuyết tương đối" (tiếng Đức: Relativtheorie) sử dụng lần đầu tiên vào năm 1906 bởi Max Planck khi ông nhấn mạnh trong lý thuyết này có một trong những nền tảng là dựa trên nguyên lý tương đối. Trong phần thảo luận của cùng một bài báo, Alfred Bucherer lần đầu tiên sử dụng cách viết Relativitätstheorie.[2][3]

Thuyết tương đối hẹp

Trong vật lý học, thuyết tương đối hẹp (SR, hay còn gọi là thuyết tương đối đặc biệt hoặc STR) là một lý thuyết vật lý đã được xác nhận bằng thực nghiệm và chấp nhận rộng rãi đề cập về mối quan hệ giữa không gian và thời gian. Theo cách trình bày logic ban đầu của Albert Einstein, thuyết tương đối hẹp dựa trên hai tiên đề:

  1. Các định luật vật lý là bất biến (hay đồng nhất) trong mọi hệ quy chiếu quán tính (hệ quy chiếu chuyển động không có gia tốc).
  2. Tốc độ ánh sáng trong chân không là như nhau đối với mọi quan sát viên, bất kể chuyển động của nguồn phát ánh sáng như thế nào.

Albert Einstein lần đầu tiên đề xuất ra thuyết tương đối hẹp vào năm 1905 trong bài báo "Về điện động lực của các vật thể chuyển động".[1] Sự không phù hợp giữa cơ học Newton với các phương trình Maxwell của điện từ học và thiếu bằng chứng thực nghiệm xác nhận giả thuyết tồn tại môi trường ête siêu sáng đã dẫn tới sự phát triển thuyết tương đối hẹp, lý thuyết đã miêu tả đúng lại cơ học trong những tình huống chuyển động bằng vài phần tốc độ ánh sáng (còn gọi là vận tốc tương đối tính). Ngày nay thuyết tương đối hẹp là lý thuyết miêu tả chính xác nhất chuyển động của vật thể ở tốc độ bất kỳ khi có thể bỏ qua ảnh hưởng của lực hấp dẫn. Tuy vậy, cơ học Newton vẫn được sử dụng (do tính đơn giản và độ chính xác cao) khi chuyển động của vật thể khá nhỏ so với tốc độ ánh sáng.

Cho đến tận khi Einstein phát triển thuyết tương đối rộng, để bao gồm hệ quy chiếu tổng quát (hay chuyển động có gia tốc) và lực hấp dẫn, thuật ngữ "thuyết tương đối hẹp" mới được áp dụng. Có một bản dịch đã sử dụng thuật ngữ "thuyết tương đối giới hạn"; "đặc biệt" thực sự có nghĩa là "trường hợp đặc biệt".[2]

Thuyết tương đối hẹp ẩn chứa các hệ quả rộng lớn, mà đã được xác nhận bằng thực nghiệm,[3] bao gồm hiệu ứng co độ dài, giãn thời gian, khối lượng tương đối tính, sự tương đương khối lượng-năng lượng, giới hạn của tốc độ phổ quát và tính tương đối của sự đồng thời. Lý thuyết đã thay thế khái niệm trước đó là thời gian phổ quát tuyệt đối thành khái niệm thời gian phụ thuộc vào hệ quy chiếu và vị trí không gian. Không còn khoảng thời gian bất biến giữa hai sự kiện mà thay vào đó là khoảng không thời gian bất biến. Kết hợp với các định luật khác của vật lý, hai tiên đề của thuyết tương đối hẹp dự đoán sự tương đương của khối lượng và năng lượng, như thể hiện trong công thức tương đương khối lượng-năng lượng E = mc2, với c là tốc độ ánh sáng trong chân không.[4][5]

Một đặc điểm khác biệt của thuyết tương đối đặc biệt đó là phép biến đổi Galileo của cơ học Newton được thay thế bằng phép biến đổi Lorentz. Thời gian và không gian không còn tách biệt hoàn toàn khỏi nhau trong lý thuyết nữa. Chúng được đan xen vào nhau thành thể thống nhất liên tục là không-thời gian. Các sự kiện xảy ra trong cùng một thời điểm đối với một quan sát viên có thể xảy ra ở thời điểm khác nhau đối với một quan sát viên khác.

Lý thuyết "đặc biệt" là do nó chỉ áp dụng cho những trường hợp đặc biệt mà độ cong của không thời gian do lực hấp dẫn là không đáng kể.[6][7] Để bao hàm cả trường hấp dẫn, Einstein đã thiết lập lên thuyết tương đối rộng vào năm 1915. Thuyết tương đối hẹp vẫn miêu tả được chuyển động có gia tốc cũng như cho các hệ quy chiếu chuyển đối với gia tốc đều (hay tọa độ Rindler).[8][9]

Tính tương đối Galileo bây giờ được xem như là trường hợp xấp xỉ của nguyên lý tương đối Einstein đối với các tốc độ nhỏ, và thuyết tương đối hẹp được xem như là trường hợp xấp xỉ của thuyết tương đối rộng đối với trường hấp dẫn yếu, nghĩa là trong một phạm vi đủ nhỏ và trong điều kiện rơi tự do. Trong khi công cụ của thuyết tương đối rộng là hình học không gian cong Riemann biểu diễn các hiệu ứng hấp dẫn như là độ cong của không thời gian, thuyết tương đối được giới hạn trong không thời gian phẳng hay được gọi là không gian Minkowski. Thuyết tương đối hẹp áp dụng cho một hệ quy chiếu bất biến Lorentz cục bộ có thể được xác định trên phạm vi đủ nhỏ, thậm chí đặt trong không thời gian cong.

Galileo Galilei đã từng suy xét khi cho rằng không có trạng thái nghỉ tuyệt đối và được xác định rõ (hay không có hệ quy chiếu ưu tiên), mà ngày nay các nhà vật lý gọi là nguyên lý tương đối Galileo. Einstein đã mở rộng nguyên lý này để tính tới tốc độ không đổi của ánh sáng,[10] một hiện tượng đã được quan sát và chứng minh trước độ trong thí nghiệm Michelson–Morley. Không chỉ áp dụng cho tốc độ ánh sáng, ông cũng mạnh dạn mở rộng giả thuyết vẫn đúng cho mọi định luật vật lý, bao gồm các định luật của cơ học và của điện động lực học cổ điển.[11]

Thuyết tương đối rộng 

Thuyết tương đối rộng hay thuyết tương đối tổng quát là lý thuyết hình học của lực hấp dẫn do nhà vật lý Albert Einstein công bố vào năm 1915[2] và hiện tại được coi là lý thuyết miêu tả hấp dẫn thành công của vật lý hiện đại. Thuyết tương đối tổng quát thống nhất thuyết tương đối hẹp và định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, đồng thời nó miêu tả lực hấp dẫn (trường hấp dẫn) như là một tính chất hình học của không gian và thời gian, hoặc không thời gian. Đặc biệt, độ cong của không thời gian có liên hệ chặt chẽ trực tiếp với năng lượng và động lượng của vật chất và bức xạ. Liên hệ này được xác định bằng phương trình trường Einstein, một hệ phương trình đạo hàm riêng phi tuyến.

Nhiều tiên đoán và hệ quả của thuyết tương đối rộng khác biệt hẳn so với kết quả của vật lý cổ điển, đặc biệt khi đề cập đến sự trôi đi của thời gian, hình học của không gian, chuyển động của vật thể khi rơi tự do và sự lan truyền của ánh sáng. Những sự khác biệt như vậy bao gồm sự giãn thời gian do hấp dẫn, thấu kính hấp dẫn, dịch chuyển đỏ do hấp dẫn của ánh sán...