Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học:Ông phỗng đá(Nguyễn Khuyễn)
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
"Giàn bầu trước ngõ" là một truyện ngắn của tác giả Nguyễn Ngọc Tư. Câu chuyện xoay quanh một gia đình sống trong một ngôi nhà sang trọng, nhưng lại có một giàn bầu lớn trước cửa nhà. Ban đầu, gia đình rất thích việc trồng và chăm sóc giàn bầu này. Bà nội của nhân vật chính đã trồng giàn bầu từ khi còn ở quê hương, và bà hy vọng rằng việc trồng giàn bầu sẽ giúp giảm nhớ quê hương và truyền thống quê hương cho thế hệ sau. Tuy nhiên, với thời gian, giàn bầu ngày càng mở rộng và trở nên quá lớn, khiến gia đình không thể tiêu thụ hết số lượng quả bầu. Gia đình cảm thấy ngán ngẩm và căng thẳng trước số lượng bầu quá nhiều. Thậm chí, bà nội đã trồng thêm các loại cây khác và làm nhiều loại bánh nhưng chỉ có nhân vật chính là tôi thích ăn. Sự quá tải từ giàn bầu và các hoạt động liên quan đến nó đã tạo ra sự áp lực và căng thẳng trong gia đình. Cuối cùng, gia đình đã quyết định giảm đi giàn bầu trước ngõ. Quyết định này đã mang lại cảm giác nhẹ nhõm và giải tỏa căng thẳng cho gia đình...
Xem thêm: https://topbee.vn/blog/tom-tat-truyen-gian-bau-truoc-ngo-cua-nguyen-ngoc-tu
Tình cảm gia đình là một đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Khai thác mảng đề tài này, Nguyễn Quang Sáng đã có một số tác phẩm đặc sắc như “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”,.. Trong đó, “Chiếc lược ngà” tạo được nhiều ấn tượng hơn cả. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chính - nhân vật bé Thu - một cô bé cá tính, đáng yêu và có tình yêu ba tha thiết.
“Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966 rồi được đưa vào tập truyện cùng tên (Chiếc lược ngà) của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện được xây dựng trên một tình huống hiểu lầm tạo nhiều bất ngờ cảm động: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở vể, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.
Nhân vật cô bé tám tuổi ấy là Thu, mới có tám tuổi nhưng cô đã bướng bỉnh, gan góc và rất có cá tính. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ông Sáu là ba dù cả nhà - trong đó có bà nội - thừa nhận điều đó. Họ đón ông với tất cả tấm lòng chân thành, yêu thương của con người Nam Bộ. Chẳng những thế, ông còn vô cùng xúc động khi gặp nó. Nhưng bỏ qua tất cả, Thu vẫn hét lên sợ hãi khi ông Sáu lập cập đến với nó và lắp bắp gọi: “Thu! Ba đây con...”. Có điều đó bởi Thu thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má.
Không chỉ vậy, qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu Nguyễn Quang Sáng vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm", Thu gọi "trổng" “vô ăn cơm”. Nồi cơm sôi, không tự chắt được con bé nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Nó tìm mọi cách chăt nước không cần nhờ vả. Đặc biệt, tính cách rắn rỏi, ngang bướng vô cùng trẻ con của Thu được thể hiện qua chi tiết bé hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ cùa bé Thu đã trở thành tiền đề để sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, Thu cùng “Chiếc lược ngà" sẽ nằm lẫn vào vô vàn tác phẩm khác viết cho thiếu nhi. Điều khiến nhân vật cùng tác phẩm đi xa hơn trong lòng người đọc là ở chỗ bé Thu có một tình yêu ba nồng nàn, tha thiết.
Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Cô đã nghĩ rằng “người ta” mang đến cho mình một người “ba giả"! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt người “ba giả” ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.
Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa của và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó, vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sẩm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa. " Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó - không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước - nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba., a... a...ba! Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.
Trong quá trình thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật bé Thu có một chi tiết vô cùng quan trọng: chi tiết cái thẹo. Chính cái thẹo là nguyên nhân gây ra những hiểu lầm trong tình cảm của cha con mà Thu dành cho ba. Cái thẹo là vết thương mà giặc Mĩ gây ra cho ba Thu. Sự chia cắt gia đình không chỉ riêng gia đình bé Thu mà còn hàng triệu gia đình người Việt cũng là do giặc Mĩ gây ra. Thấu hiểu sâu sắc điều đó, sau này, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Xây dựng nhân vật bé Thu - một cô bé bướng bỉnh, cá tính nhưng có tình cảm yêu ba tha thiết cảm động - Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ bởi vậy nhà văn đã tạo nên được một nhân vật trẻ thơ thực sự sống động gây nhiều niềm xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm đã tạo nên một tình huống hiểu lầm độc đáo mà chi tiết quan trọng nhất là chi tiết cái thẹo. Chi tiết này có giá trị giống như một “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ hay “chiếc lá cuối cùng” trong truyện ngắn cùng tên của Ô Hen-ri,....
Nhân vật bé Thu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc bởi một tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật này đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Và vì vậy, cùng với tác phẩm, nhân vật bé Thu đã giành được một vị trí riêng trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Việt Nam.
bạn nên hỏi google nhé hoặc lời giải hay chứ viết vào olm tôi sợ tôi viết hơi dài
Đọc truyện ngắn Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, em rất ấn tượng về nhân vật người bố. Ông là một người cha tuyệt vời với những phẩm chất tốt đẹp và cao thượng.
Người cha xuất hiện qua lời kể của nhân vật tôi, với một hình tượng cao lớn và ấm áp. Ông đã truyền cho con trai mình tình yêu chan hòa với thiên nhiên, cây cối xung quanh mình. Ông không truyền những tình cảm ấy một cách sáo rỗng, mà gửi gắm qua những trò chơi thú vị trong chính khu vườn của gia đình. Ông dạy cho con trai mình cách cảm nhận, nhìn ngắm và dạo chơi trong khu vườn bằng khứu giác, bằng vị giác, chứ không chỉ bằng thị giác như thông thường. Nhờ vậy, mà cậu bé đã cảm nhận thiên nhiên bằng cả trái tim và tâm hồn mình. Rồi từ đó, bằng một cách bình dị mà cậu yêu thiên nhiên như một người bạn thân thiết.
Người bố không chỉ làm cha, mà ông còn là một người thầy, một người bạn của con trai mình. Ông đồng hành cạnh bên con trong từng bước trưởng thành của cuộc đời. Ông không chỉ dạy con cách yêu và cảm nhận thiên nhiên, mà còn dạy cho con những điều hay lẽ phải của cuộc sống qua những điều nhỏ nhặt. Tựa như khi ông ân cần giải thích cho con về giá trị của một món quà. Không phải một món quà đắt tiền mới là quý giá. Mà những món quà chứa đựng tâm sức, tình cảm của người tặng mới thực sự quý giá, như trái ổi được lựa chọn kĩ lưỡng, hay một nụ hôn chúc ngủ ngon. Sự sâu sắc và thấu hiểu của tâm hồn người cha đã thể hiện trọn vẹn qua bài học này. Sự gần gũi giữa người bố dành cho con trai mình, còn thể hiện qua những bí mật của riêng hai người. Cái nháy mắt ngầm hiểu của ông với con trai trước người khác, về bí quyết nghe được những âm thanh từ xa khiến em cảm nhận được mối quan hệ sâu sắc của hai cha con họ. Tất cả đã được tạo nên bởi một người bố quá đỗi yêu thương con và giàu sự thấu hiểu.
Không chỉ là một người cha tuyệt vời, người bố trong đoạn trích còn hiện lên với dáng vẻ của một con người mạnh mẽ, cao thượng. Điều đó thể hiện qua hành động ông thả vội bát cơm, chạy vụt ra sông để nhảy xuống nước cứu cu Tí bị đuối nước. Hành động mạnh mẽ và dứt khoát ấy thể hiện bản lĩnh và tình yêu thương con người của ông. Có lẽ chính vì vậy mà ông được mọi người yêu quý, trân trọng. Được bạn của con trai thường ưu ái mang sang tặng những quả ổi ngon nhất. Và cách ông nâng niu những món quà nhỏ bé ấy lại càng khẳng định thêm cho nhân cách cao đẹp ấy.Có thể nói, nhân vật người bố trong đoạn trích Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ là một biểu tượng tuyệt vời về hình tượng người cha trong lòng em. Ông ấy là một vầng sáng ấm áp và vững chãi đồng hành bên cạnh con trai của mình, giúp con có một tuổi thơ tươi đẹp.
Bạn tham khảo nhé!
Nhà thơ Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Văn Thắng. Ông xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng. Nếu như Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” thì Nguyễn Khuyến lại là “nhà thơ của nhân dân, làng cảnh Việt Nam”. Với những bài thơ gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm giữa người với người, phản ánh cuộc sống thuần khổ của người nông dân, châm biếm tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái với dân, với nước. Tình yêu của ông đối với đất nước còn thể hiện qua việc, khi quân Pháp chiếm đóng đất nước, tình thế hoàn toàn rơi vào tay giặc không tài nào cưỡng được ông cáo lệnh từ quan về quê ở ẩn, gói ghém tâm hồn đối với giang sơn vào trong những lời thơ nồng nàn thấm thía.
Trong số tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Khuyến, không thể không kể đến bài thơ “Ông phỗng đá” – đỉnh cao chói sáng trong thơ trào phúng của ông. Bài thơ là lời tự trào của tác giả khi đứng trước hình ảnh ông phỗng đá trên hòn non bộ.
“Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?”
Bài thơ "Ông Phỗng Đá" của nhà thơ Nguyễn Khuyến là một tác phẩm thơ mang ý nghĩa sâu sắc về sự kiên định, cống hiến và tình yêu quê hương, ý thơ phảng phất mỉa mai niềm đắng cay của thời thế. Tác phẩm này được viết theo thể thơ thất ngôn, với sự xen kẽ giữa các phép nghệ thuật như miêu tả, từ láy,...; tạo nên một cấu trúc thơ độc đáo và thu hút người đọc.
“Ông đứng đó làm chi hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng”
Nguyễn Khuyến sử dụng hình ảnh một người đứng như một tảng đá qua câu hỏi tu từ “Ông đứng đó làm chi hỡi ông?”, một người đàn ông đang đứng trên khối đồng. Tác giả hỏi ông phỗng đá đứng đó làm gì, dường như là một câu hỏi vô vọng bởi vì chính bản thân ông phỗng đá cũng đâu biết mình đang làm gì và cũng chả biết sẽ trả lười như thế nào. Thán từ “ hỡi” kết hợp với đại từ “ông” làm cho câu thơ mang giá trị biểu cảm cao, bộc lộ cảm xúc dâng trào. Làm cho câu hỏi được nhắn mạnh hơn, nhằm ý muốn có được câu trả lời. Sử dụng hình ảnh “Ông đứng” diễn tả sự bền vững, kiên định của con người trong cuộc sống. Ông như một biểu tượng của sự ổn định và không thay đổi.
Câu thơ tiếp theo càng làm rõ thêm bức chân dung về ông phỗng đá, Từ láy “trơ trơ”, kết hợp với hình ảnh so sánh “ như đá”, “vững như đồng” càng làm rõ nét thêm hình ảnh của ông phỗng đá cắng rắn và kiên định. Những dòng thơ trào phúng mang giọng điệu phê phán của Nguyễn Khuyến không chỉ xuất hiện trong những câu thơ trên, mà nó như một nỗi ám ảnh, day dứt, khiến nhà thơ trăn trở mãi về những thói xấu ở cái xã hôi lúc bấy giờ, bọn quan lại không biết xót thương tới những cảnh lầm than của người dân trong cái xã hội cùng cực.
“Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?”
Tiếp theo, câu thơ : "Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?" Từ câu hỏi này, tác giả khơi dậy sự tò mò và muốn cậy hỏi “Ông” xem người đứng vững đó để làm gì, có phải đang bảo vệ và giữ gìn cái gì đó cho ai hay không. Ý hỏi ông phỗng đá đang ngày đêm gìn giữ điều gì, có phải đang níu kéo cái đạo lý cương thường một thời của Nho giáo, cái bản sắc dân tộc khi xưa đang mất dần vị thế độc tôn? Nhưng “ông phỗng đá” thực chất chỉ là một tản đá vô chi vô giác làm sao trả lời được câu hỏi của Nguyễn Khuyến. Câu hỏi này tạo ra một tầng ý nghĩa sâu xa về sự cống hiến và trách nhiệm của người đứng đầu. Cuối cùng, câu thơ cuối cùng đặt câu hỏi: "Non nước đầy vơi có biết không?" Câu hỏi này nhấn mạnh công lao, cống hiến và tình yêu quê hương mà người đứng vững đã dành cho non nước. Nhưng liệu có ai thực sự hiểu và trân trọng những điều đó không. Hình ảnh “non nước đầy vơi” gợi mở ra nhiều ý nghĩa. Non nước đầy vơi ấy không chỉ diễn tả cái hình ảnh giang sơn đất nước, núi non trùng trùng đầy vơi như nào, khung cảnh tráng lệ ra sao. Mà ý nghĩa sâu bên trong “non nước đầy vơi” ở đây chính là cái thực trạng xã hội khi đó Nguyễn Khuyến sống. Đó là cái xã hội phong kiến đầy biến động: Thực dân Pháp đang rêu rao xâm lược, triều đình thì bạc nhược suy thoái, quan lại thì bù nhìn, các phong trào đấu tranh yêu nước thì liên tục thất bại bà dập tắt. Với việc sử dụng liên tiếp hai câu hỏi tu từ không chỉ thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả trước sự vô cảm, vô trách nhiệm của đám quan lại, triều đình phong kiến trước an nguy của đất nước, sự suy vọng của dân tộc.Ý nghĩa này đặt câu hỏi về sự đánh giá và trân trọng công lao và nỗ lực của người dân mà không được ai coi trọng.
Trong “Ông phỗng đá” nhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hình ảnh triều đình, quan lại, bạc nhược thờ ơ trước những nỗi đau khốn khổ bần cùng của người dân. Để có được sự thành công khi sử dụng lối trào phúng trong bài thơ, chính Nguyễn Khuyến cũng đưa vào những trải nghiệm của bản thân ông là người trong cuộc, ông cũng là người làm quan trong triều, nhưng trơ trơ như ông phỗng đá không giúp ích gì được cho dân, cho nước. Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Tuy chỉ là một bài thơ ngắn, thế nhưng tác phẩm không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về nghệ thuật thơ trào phúng, mà còn khiến ta cảm nhận rõ hơn thực trạng xã hội phong kiến với sự thờ ơ cảu bọn quan liệu trước vận mệnh của nhân dân. Chính vì thế, lớp bụi thời gian có thể phủ nhòa đi mọi thứ, nhưng bài thơ này cùng giá trị châm biếm, mỉa mai sâu cay thì vẫn còn mãi như minh chứng cho tấm lòng yêu nước, thương dân, chua xót cho tình cảnh “non nước” của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Tổng thể, bài thơ "Ông Phỗng Đá" của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm thơ nhỏ nhưng chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc về sự kiên định, cống hiến và tình yêu quê hương. Khắc họa lên trình trạng xã hội khi bọn thực dân xâm lược lộng hành. Tác giả thông qua việc sử dụng hình ảnh nhân hóa và câu hỏi tu từ, gợi mở sự tò mò và đánh giá về người đứng vững giữa cuộc đời và sự trân trọng công lao và nỗ lực của người khác. Bài thơ này là một lời nhắn nhủ để chúng ta đánh giá và trân trọng những người cống hiến và giữ gìn cho cộng đồng và quê hương.
Bài làm
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến không chỉ được biết đến là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" với chùm thơ thu nức tiếng, mà còn là một cây bút trào phúng sắc sảo, thâm trầm. Thơ trào phúng của ông không chỉ để cười đời, cười người mà chua xót nhất là để cười mình. Bài thơ "Ông phỗng đá" là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Ẩn sau hình ảnh ông phỗng đá vô tri là nỗi niềm thế sự ngổn ngang và bi kịch của một bậc trí thức bất lực trước thời cuộc.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn nhưng hàm súc. Ngay từ câu mở đầu, tác giả đã buông một câu hỏi tu từ đầy vẻ thân mật nhưng cũng đượm màu mỉa mai:
"Ông đứng làm chi đó hỡi ông?"
Câu hỏi "làm chi" vang lên như một sự chất vấn về mục đích tồn tại. "Ông phỗng" trong văn hóa dân gian thường là những tượng người bằng đá hoặc đất nung, đứng chầu ở các đền miếu, lăng tẩm với tư thế cung kính, bất động. Nguyễn Khuyến hỏi "ông" nhưng thực chất là đang tự hỏi về một kiếp người, một tầng lớp trong xã hội. Đến câu thứ hai, hình tượng ông phỗng hiện lên rõ nét hơn qua bút pháp miêu tả:
"Trơ trơ như đá, vững như đồng."
Từ láy "trơ trơ" được đặt ở đầu câu tạo ấn tượng mạnh mẽ. "Trơ" vừa là trơ gan cùng tuế nguyệt, dãi dầu mưa nắng, nhưng cũng gợi lên sự trơ lì, vô cảm, không biết xấu hổ. Biện pháp so sánh "như đá", "như đồng" nhấn mạnh sự cứng cỏi, bền vững về mặt hình thức. Ông phỗng đứng đó, vững chãi, không gì lay chuyển được. Thế nhưng, trong bối cảnh đất nước loạn lạc, sự "vững như đồng" ấy liệu có phải là bản lĩnh hay chỉ là sự vô dụng, vô tri của những kẻ "mũ ni che tai"?
Hai câu thơ sau đẩy tứ thơ đi xa hơn, từ hình dáng bên ngoài đi vào chức năng và nhận thức bên trong:
"Đêm ngày gìn giữ cho ai đó? Non nước đầy vơi có biết không?"
Câu hỏi thứ hai "gìn giữ cho ai đó?" vang lên đầy chua chát. Nhiệm vụ của ông phỗng là canh giữ đền miếu, nhưng ở đây, Nguyễn Khuyến lại đặt ra vấn đề về sự phương hướng. "Ai" ở đây là ai? Là vua, là chúa, hay là những giá trị mục ruỗng của chế độ phong kiến đang suy tàn? Sự tận tụy "đêm ngày" của ông phỗng trở nên vô nghĩa nếu mục đích phục vụ không còn chính nghĩa.
Câu kết bài thơ là một đòn tâm lý nặng nề, xoáy sâu vào tâm can người đọc và chính tác giả: "Non nước đầy vơi có biết không?". "Non nước đầy vơi" là hình ảnh ẩn dụ cho vận mệnh đất nước đang trong cơn bĩ cực, khi thực dân Pháp xâm lược, chủ quyền dân tộc bị đe dọa, lòng người ly tán. Câu hỏi "có biết không" như một lời trách móc nhẹ nhàng mà đau đớn. Ông phỗng đá kia dĩ nhiên là không biết, vì ông là đá. Nhưng những "ông phỗng thịt" – những quan lại, những kẻ sĩ đương thời – đứng đó, mắt thấy tai nghe mà lòng lại dửng dưng như đá thì thật đáng trách.
Tuy nhiên, đỉnh cao của bài thơ này không nằm ở việc phê phán người khác, mà nằm ở sự tự trào (cười mình). Nguyễn Khuyến là một đại quan của triều Nguyễn, đỗ đầu ba kỳ thi (Tam Nguyên Yên Đổ), nhưng trước cảnh nước mất nhà tan, ông chọn cách cáo quan về ở ẩn để giữ khí tiết. Tuy nhiên, trong sâu thẳm lương tâm của một nhà nho, ông vẫn day dứt vì mình không giúp gì được cho đời.
Ông ví mình như "ông phỗng đá": cũng có mắt, có tai, cũng mang tiếng là kẻ sĩ đứng trong trời đất, nhưng rốt cuộc lại bất lực, "trơ trơ" nhìn non nước đầy vơi mà không thể xoay chuyển tình thế. Tiếng cười trào phúng ở đây đã chuyển hóa thành giọt nước mắt lặn vào trong. Đó là nỗi đau của một nhân cách lớn, một người yêu nước nhưng mang nỗi bi kịch của thời đại.
"Ông phỗng đá" là một bài thơ đa nghĩa và sâu sắc. Bằng ngôn ngữ giản dị, giọng điệu vừa hóm hỉnh vừa chua xót, Nguyễn Khuyến đã mượn hình tượng ông phỗng đá để gửi gắm tâm sự u hoài về vận nước. Bài thơ là bức chân dung tinh thần của cụ Tam Nguyên Yên Đổ: bên ngoài thì cười cợt thế thái nhân tình, nhưng bên trong là một trái tim rỉ máu vì non sông.