TU CO ''đọc ngược lại''
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
DÀN BÀI
I. Mở bài:
- Giới thiệu hình ảnh ông Bụt trong các truyện cổ tích Việt Nam.
- Cảm nghĩ chung: Bụt giúp đỡ người hiền lành chiến thắng kẻ ác.
II. Thân bài:
1. Bụt trong các truyện cổ tích nào?
Truyện Tấm Cám, truyện Cây tre trăm đốt.
2. Cảm nghĩ về nhân vật Bụt:
Trong xã hội cũ, Tấm bị hãm hại, bóc lột: trút trộm tôm tép, giết bống, trộn thóc với gạo bắt cô ngồi nhặt… Anh Khoai bị bóc lột, lừa dối, trở mặt nuốt lời, bị bắt phải tìm ra cây tre trăm đốt, tuyệt vọng ngồi khóc hu hu trong rừng vắng. Nhân dân ta đã sáng tạo ra hình ảnh ông Bụt đề giúp đỡ kẻ khó người hiền thắng bọn hung ác.
Ngày nay nhân dân không còn mong chờ ở Bụt mà tin tưởng vào đường lối cách mạng, tổ chức và luật pháp cách mạng nghiêm minh để xã hội công bằng phát triển.
BÀI THAM KHẢO
Có một hình ảnh nhân vật mà trong đời sống thường ngày xưa nay, mọi người chưa hề được gặp, nhưng lại rất quen thuộc trong các truyện dân gian của chúng ta. Nhân vật này đã từng biết bao lần giúp đỡ cô Tấm hiền lành, siêng năng, chăm chỉ trong truyện Tấm Cám và anh Khoai chân thực, chất phác trong truyện Cây tre trăm đốt. Đó là Bụt mỗi lần xuất hiện là mồi lần Bụt cứu khổ cứu nạn cho người hiền lành chiến thắng kẻ ác giúp cho cái tốt đẩy lùi cái xấu.
Ngày nay chính quyền nằm trong tay nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi những người lao động nghèo khổ. Cả pháp luật cũng đứng về phía giới người này. Người xấu và kẻ ác dù giòi tài lừa dối, tráo trở đến đâu trước sau gì cũng bị toà ăn kêu đúng tên, trị đúng tội mà thôi. Đó là chuyện thời nay chứ còn thời xưa cô Tấm và anh Khoai đau đớn ức oan còn biết kêu ai nữa nếu không phải là nhờ đến Bụt, một hình ảnh nhân vật do trí tưởng tượng của nhân dân đã sáng tạo nên. Ta thử nhớ lại: mẹ con Cám trong truyện Tấm Cám trước đã dùng mọi hành động nhó nhen độc ác để hãm hại cô Tấm. Họ đã trút lén giỏ tép, giết con Bống vô tội, lại trộn thóc với gạo bắt cô ngồi nhặt để không có thời gian dự hội ướm giày. Khó mà kể xiết những tội ác khó dung tha của bọn họ. Làm sao mà nhớ xuể hết biết bao lần cô Tấm một mình ngồi khóc, nước mắt giọt ngắn giọt dài thảm thiết. Hoàn cảnh của anh Khoai trong truyện Cây tre trăm đốt nào khá chi hơn. Anh bị lão phú nông lừa dối lường công. Hắn hứa gả con gái. út cho anh rồi tráo trở nuốt lời. Sau đó lại lừa gạt bắt anh phải vào rừng tìm cho ra cây tre trăm đốt thì việc cưới hỏi mới thành. Nhưng làm gì có cây tre trăm đốt mà hòng kiếm tìm? Phải chăng là biết như vậy nên anh ngồi lại trong rừng vắng mà khóc hu hu một mình. Anh khóc cho vơi đi nỗi đau khổ cho riêng mình. Làm chi đây? Đâu lẽ kẻ ác cứ hoành hành mãi để cho người hiền lành, chân thật cứ khốn khổ mãi sao. Đâu chỉ riêng anh mà cả đông đảo nhân dân đều mơ ước một xã hội công bằng, tốt đẹp. Muốn có sự thay đổi để đạt đến ước mơ vừa nói nhưng nhân dân ngày xưa không có điều kiện biến ước mơ thành hiện thực. Biết làm sao hơn ngoài việc kí thác tâm tư, nguyện vọng của mình vào lời ca, truyện kế trong đó có truyện cổ tích. Nhân dân đã sáng tạo nên hình ảnh ông Bụt đầy phép nhiệm màu có thể làm thay đổicuộc đời của mỗi nhân vật trong hiện thực đời sống chưa thể có điều kiện đổi thay. Do đó mà trong truyện Tấm Cám, mỗi lần cô Tấm lên tiếng khóc vì bị ức hiếp đau khổ là mỗi lần Bụt hiện lên an ủi và giúp đỡ. Bụt đã cho gà bới tìm xương bống rồi bảo cô cho vào lọ chôn dưới chân giường. Bụt cũng đã cho đàn chim xuống nhặt thóc giúp cô để cô còn kịp giờ đi dự hội. Từ chiếc xương bống, Bụt đã biến giúp cho cô Tấm có đầy đủ cả quần áo đẹp, giày thêu, ngựa hồng các thứ “lễ bộ” để cô thêm xinh đẹp, có điều kiện gặp gỡ nhà vua và trở thành hoàng hậu. Trong truyện Cây tre trăm đốt cũng thế, khi anh Khoai một mình ngồi khóc hu hu thì Bụt cũng đã kịp thời hiện ra giúp anh phép lạ có thể nhập trăm đốt tre lại thành cây tre trăm đốt và ngược lại cũng có thể tách rời cây tre “vô tiền khoáng hậu” ấy thành ra trăm đốt tre rời, đủ để trừng phạt lão phú ông, khiến lão một phen khiếp vía đành phải gả cô út cho anh. Bụt, như vậy, đã hồ trợ người hiền lành, chân thật, giúp cho Thiện thắng Ác và
công lí được thực hiện dầu chỉ là thực hiện bằng tưởng tượng và mơ ước.
Hình ảnh nhân vật Bụt trong truyện cổ tích đúng là dấu ấn của một thời xa xưa cho thấy khát vọng lớn của nhân dân ta khi ấy.
Ngày nay, nhân dân ta tuy vẫn mong muôn một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ, trong đó người hiền lành, chân thật được biếu dương, khen ngợi, kẻ gian ác bất nhân bị lên án và bị trừng phạt. Duy có điều khác xưa nhân dân ta không còn mong chờ vào lực lượng siêu hình mà tin tưởng vào hiện thực với đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, tổ chức trong sạch, pháp luật nghiêm minh nhất định từng bước xã hội tốt đẹp, hạnh phúc sẽ đến với tất cả mọi người.
Sau khi chú cá bống nhỏ xinh bị mẹ con mụ dì ghẻ độc ác ăn thịt, cô Tấm đau khổ lắm. Thế là cô đã mất một người bạn thân, một nguồn an ủi. Cô ôm mặt khóc nức nở. Bỗng nhiên một cơn gió mạnh nổi lên, Tiên ông hiện ra giữa vầng hào quang và làn hương thơm ngát. Mái tóc Tiên ông bạc phơ, búi cao trên đỉnh đầu, bộ râu ba chòm trắng như bông thả dài trước ngực. Trong tay Tiên ông là cây gậy trúc nâu bóng. Tiên ông bước đi, nhẹ như gió thoảng. Đôi hài vải màu lam lướt trên mặt đất.
Đến bên cô Tấm, Tiên ông mỉm cười, cất giọng trầm ấm hỏi:
Cô Tấm ngẩng mặt lên nhìn. Nụ cười hiền từ làm cho gương mặt của Tiên ông càng thêm phúc hậu. Cô Tấm chắp tay lạy Tiên ông rồi kể đầu đuôi sự việc. Nghe xong, Tiên ông khuyên nhủ:
Dứt lời, Tiên ông biến mất, chỉ còn khói sương lãng đãng và mùi hương phảng phất đâu đây.
Ngày hội lớn đầu xuân đã đến. Tấm muốn đi dự hội nhưng khổ thay, cô không có quần áo mới. Đã thế, mụ dì ghẻ độc ác lại trộn thóc lẫn gạo, bắt Tấm nhặt xong mới cho đi. Tủi thân, tủi phận, Tấm chỉ biết âm thầm khóc. Tiên ông hiện ra an ủi rồi sai một bầy chim sẻ giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo. Rồi Tiên ông bảo Tấm hãy đào bốn chiếc lọ đựng xương bống lên, sẽ có đủ quần áo đẹp mặc đi dự hội.
Với phép thuật và tài năng của mình, Tiên ông đã giúp Tấm vượt qua bao khốn khó, hiểm nguy. Mấy lần cô Tấm bị mẹ con Cám hãm hại là mấy lần Tiên ông cho cô sống lại dưới hình hài khác: chim vàng anh, cây xoan đào, trái thị… Để rồi cuối cùng, Tấm trở lại với nguyên vẹn hình hài xinh đẹp ban đầu và được đoàn tụ với nhà vua.
thík biết nó dài bao nhiêu thì ik mk hỏi nó
cái kia thik chết ko mk đăng câu đó
Vì 15 = 3 . 5 nên số cần tìm phải có chữ số tận cùng và chữ số đầu tiên là 5 ( vì số 0 không thể đứng ở hàng đầu tiên )
Số cần tìm có dạng 5aa5
Vì 5aa5 chia hết cho 3 nên a { 1 ; 4 ; 7 }
Vậy có 3 số là 5115 ; 5445 ; 5775
15 = 3 x 5 nên số đó có chữ số đầu và chữ số cuối cùng phải là 5
Vậy số đó có dạng: 5aa5
5 + 5 = 10 nên số đó phải chia hết cho 3
Vậy các số đó là: 5115,5775,5445
Gọi số cần tìm là abcd (a,d ∈ N* ; b,c ∈ N ; a,b,c,d < 10 )
Số viết theo thứ tự ngược lại là dcba
Theo bài ra , ta có : abcd . 6 = dcba
Ta thấy 6d có tận cùng là a nên a là số chẵn (1)
Mặt khác , a > 0 vì nếu a >1 thì dcba là số có nhiều hơn 4 chữ số .
Mà a thuộc tập hợp các số tự nhiên khác 0
=> a = 1
=> a là số lẻ , mâu thuẫn với (1)
=> abcd không có giá trị thỏa mãn đề bài
Vậy không có số nào thỏa mãn đề bài.
CHÚC BẠN HỌC GIỎI
TK MÌNH NHÉ
Bài thơ Những cánh buồm của tác giả Xuân Quỳnh là một tác phẩm nổi bật với hình ảnh những cánh buồm, mang trong mình nhiều hình ảnh ẩn dụ và ý nghĩa sâu sắc. Trong bài thơ này, tác giả sử dụng một số biện pháp tu từ để làm nổi bật chủ đề về ước mơ, khát vọng và cuộc sống.
Các phép tu từ trong bài thơ:-
So sánh:
- Trong bài thơ, hình ảnh "cánh buồm" được so sánh với những ước mơ, khát vọng của con người. Cánh buồm không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà còn là biểu tượng cho sự vươn lên, khát khao vươn tới những chân trời mới. Ví dụ:
- "Những cánh buồm trắng trên biển,
Vươn ra xa khơi" - So sánh này giúp nhấn mạnh sự rộng lớn, sự tự do và khát vọng vươn lên của những con người trẻ, khát khao tìm kiếm một hướng đi mới trong cuộc đời.
- "Những cánh buồm trắng trên biển,
- Trong bài thơ, hình ảnh "cánh buồm" được so sánh với những ước mơ, khát vọng của con người. Cánh buồm không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà còn là biểu tượng cho sự vươn lên, khát khao vươn tới những chân trời mới. Ví dụ:
-
Nhân hoá:
- Bài thơ cũng sử dụng phép nhân hoá khi nói về cánh buồm, khiến chúng như có đời sống riêng, có cảm xúc, có "lòng yêu" và có "chuyến đi xa". Đây là một biện pháp tu từ mạnh mẽ để làm nổi bật sự liên kết giữa con người với thiên nhiên, đồng thời thể hiện sự mạnh mẽ, kiên cường của những ước mơ.
- "Cánh buồm yêu biển"
- "Cánh buồm đi ra khơi"
- Phép nhân hoá này giúp cho cánh buồm trở thành một nhân vật sống động, mang theo những khát khao, ước mơ.
- Bài thơ cũng sử dụng phép nhân hoá khi nói về cánh buồm, khiến chúng như có đời sống riêng, có cảm xúc, có "lòng yêu" và có "chuyến đi xa". Đây là một biện pháp tu từ mạnh mẽ để làm nổi bật sự liên kết giữa con người với thiên nhiên, đồng thời thể hiện sự mạnh mẽ, kiên cường của những ước mơ.
-
Điệp ngữ:
- Điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ khi tác giả lặp lại các từ "cánh buồm" và "biển cả". Phép điệp này nhằm tạo nhịp điệu, gây ấn tượng mạnh và làm nổi bật sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên, biển cả, đồng thời thể hiện ước mơ luôn cháy bỏng trong lòng mỗi con người.
- "Cánh buồm đi ra khơi"
- "Những cánh buồm trắng"
- Điệp ngữ này khiến thông điệp về hành trình vươn ra biển rộng, về những ước mơ mãnh liệt thêm phần mạnh mẽ, sâu sắc.
- Điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ khi tác giả lặp lại các từ "cánh buồm" và "biển cả". Phép điệp này nhằm tạo nhịp điệu, gây ấn tượng mạnh và làm nổi bật sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên, biển cả, đồng thời thể hiện ước mơ luôn cháy bỏng trong lòng mỗi con người.
- So sánh giúp làm rõ và làm nổi bật những ý tưởng trừu tượng như ước mơ, khát vọng, khiến chúng trở nên dễ hình dung và gần gũi hơn với người đọc.
- Nhân hoá làm cho hình ảnh cánh buồm trở nên sống động và có cảm xúc, giúp người đọc cảm nhận được sự khát khao, động lực và ý chí mãnh liệt của nhân vật trong bài thơ.
- Điệp ngữ tạo ra sự nhấn mạnh, khiến người đọc dễ dàng cảm nhận được thông điệp của bài thơ và tạo ra một âm hưởng mạnh mẽ, lặp đi lặp lại, như một sự thúc giục, khuyến khích con người không ngừng vươn tới những khát vọng cao cả.
Tóm lại, các biện pháp tu từ trong bài thơ "Những cánh buồm" đã góp phần làm nổi bật những thông điệp sâu sắc về khát vọng sống, sự vươn lên và cuộc hành trình không ngừng nghỉ trong cuộc sống của mỗi con người.
'' Những cánh buồm '' là của Hoàng Trung Thông mà có phải Xuân Quỳnh đâu.
Tu co