K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 11 2025

Mối quan hệ tự nhiên giữa các thành phần tự nhiên ở tỉnh Lào Cai thể hiện sự gắn kết chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau giữa địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật và sông ngòi.

17 tháng 11 2025
  • Địa hình núi cao – trung bình – thấp liên kết chặt chẽ, tạo nên sự phân hoá khí hậu theo độ cao và hướng núi.
  • Khí hậu lạnh ở Sa Pa – Hoàng Liên Sơn ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái rừng và nông nghiệp ôn đới.
  • Hệ thống sông Hồng, sông Chảy điều hoà khí hậu, cung cấp nước cho sản xuất và tạo thung lũng dân cư.
  • Đất, rừng, khí hậu và nguồn nước tương tác giúp hình thành các vùng sinh thái – nông nghiệp đặc trưng (lúa, cây dược liệu, rau ôn đới…).

→ Các yếu tố tự nhiên ở Lào Cai gắn bó chặt chẽ, tạo nên sự đa dạng cảnh quan và sinh thái.

26 tháng 10 2023

- Nguồn nước: Sông Ngòi là nguồn cung cấp nước quan trọng cho Lào Cai. Nó là nguồn nước chính để cung cấp cho cảnh quan sinh thái, nông nghiệp và đời sống hàng ngày của cư dân.

- Nông nghiệp: Lào Cai là một trong những tỉnh có nền nông nghiệp phát triển ở Việt Nam. Sông Ngòi cung cấp nước tưới tiêu quan trọng cho các cánh đồng lúa, cà phê, và các loại cây trồng khác, góp phần quan trọng vào nền kinh tế nông nghiệp của vùng.

- Động lực thủy điện: Sông Ngòi có tiềm năng sản xuất năng lượng thủy điện. Các nhà máy thủy điện đã được xây dựng trên sông Ngòi để tận dụng năng lượng nước và cung cấp điện cho khu vực này.

- Đời sống cá và sinh thái sông: Sông Ngòi cũng là môi trường sống cho nhiều loài cá và động vật sống trong môi trường nước. Quản lý bền vững của sông này rất quan trọng để duy trì sự đa dạng sinh học và cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân.

- Tình hình môi trường: Mối quan hệ này cũng bao gồm việc theo dõi và quản lý môi trường sông Ngòi, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên tự nhiên như rừng, động vật hoang dã và đảm bảo sự cân bằng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

-> Sông Ngòi chơi một vai trò quan trọng trong cuộc sống và phát triển của tỉnh Lào Cai, và việc quản lý và bảo vệ sông này đóng vai trò quan trọng để đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên.

30 tháng 12 2023

- Thắng cố 
- Lợn cắp nách
- Cá hồi Sapa 
- Thịt trâu gác bếp 
- Phở chua Bắc Hà 

30 tháng 12 2023

Thịt châu gác bếp

Nước tương mường khương

Xôi bảy màu

 

26 tháng 10 2023

Mối quan hệ giữa thực vật, động vật, và các thành phần tự nhiên khác như khí hậu và đất ở tỉnh Lâm Đồng có sự tương tác phức tạp và quyết định sự đa dạng sinh học và cân bằng môi trường ở khu vực này.

- Thực vật và Động vật: Thực vật và động vật trong tỉnh Lâm Đồng thường có mối quan hệ cộng sinh. Thực vật cung cấp thức ăn và môi trường sống cho động vật, trong khi động vật có thể giúp trong việc phân tán hạt giống và thậm chí thụ phấn cây trồng. Các mối quan hệ này thường phức tạp và quyết định sự đa dạng sinh học của khu vực.

- Khí Hậu: Lâm Đồng có khí hậu ôn đới và mùa đông khá lạnh, mùa hè mát mẻ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật và động vật đặc hữu của khu vực, bao gồm các loài cây, hoa, và loài động vật như gấu trúc và các loài chim hiếm.

- Đất: Đất ở Lâm Đồng thường phong phú và có khả năng tương thích với nhiều loại cây trồng và cây cỏ. Đất phù hợp cùng với khí hậu làm cho Lâm Đồng trở thành một trong những khu vực chủ yếu sản xuất nông nghiệp và cây cỏ của Việt Nam.

- Nước: Mối quan hệ giữa thực vật và động vật cũng phụ thuộc vào tài nguyên nước. Dòng sông và hồ nước là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sự sống của cả thực vật và động vật. Nước cũng cần thiết cho quá trình sinh sản và phát triển của nhiều loài.

- Đa Dạng Sinh Học và Bảo Tồn: Lâm Đồng có sự đa dạng sinh học cao với nhiều loài cây, động vật và sinh vật biển động. Việc bảo tồn và bảo vệ môi trường tự nhiên trong khu vực này là quan trọng để duy trì sự đa dạng sinh học và cân bằng môi trường.

19 tháng 7 2016

Núi Phan-xi-păng cao hơn núi Tây Côn Lĩnh số mét là:

3143 - 2428 = 715 ( m )

ĐS: 715m

Chúc em học tốt ^_^

19 tháng 7 2016

Vì 3143m > 2428m. Vậy đỉnh Phan-xi-păng cao hơn núi Tây Côn Lĩnh và cao hơn:

3143 - 2428 = 715 ( m )

           Đáp số: 715m.

Núi Phan-xi-păng{ở tỉnh Lào Cai} cao 3143m. Núi Tây Côn Lĩnh{ở tỉnh Hà Giang} cao 2428m. Hỏi núi nào cao hơn và cao hơn bao nhiêu mét ?

Núi Phan - xi - păng cao hơn Núi Tây Côn Lĩnh 715 m 

HT

19 tháng 10 2021

Núi Phan-xi-păng cao hơn và muốn biết cao hơn bao nhiêu thì ta lấy 3143 trừ đi 2428 được 715 m. Vậy núi Phan-xi-păng cao hơn và cao hơn 715 m

10 tháng 8 2017

Núi Phan - xi - păng: cao 3143 m

Núi Tây Côn Lĩnh: cao 2428 m

Vậy : Núi Phan - xi - păng cao hơn Núi Tây Côn Lĩnh

10 tháng 8 2017

Núi Phan-xi-păng cao hơn và cao hơn :

3143 - 2428 = 715 (m)

Đáp số : 715 m

Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng Tây Bắc Bộ, Việt Nam[2][3].

Năm 2018, Lào Cai là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 55 về số dân, xếp thứ 45 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 16 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 11 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 705.600 người dân[4], GRDP đạt 43.634 tỉ Đồng (tương ứng với 1,8951 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 61,84 triệu đồng (tương ứng với 2.686 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,23%.[5]

Tên gọi Lào Cai hình thành từ cuối thế kỷ 19 khi người Pháp để ý đến Việt Nam và khám phá vùng núi Bắc Việt.

Tại vùng đất Lào Cai ở đầu cầu Cốc Lếu ngày nay, thì xưa kia có một khu chợ. Vùng biên giới trở nên nhộn nhịp khi vào những năm 1870 người Pháp như Jean Dupuis [note 1] đến "thám hiểm", mở đường buôn bán vũ khí và mua khoáng sản với Vân Nam, Trung Quốc. Người Pháp dựa vào người H'Mông để tiếp xúc, buôn bán, vận chuyển và tránh mặt giới chức Việt địa phương. Dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ mới. Phố chợ cũ theo tiếng H'Mông là "Lao Cai", người Hoa gọi là ''Lão Nhai'' (老街), Dupuis viết là "Lao-kai". Phố chợ mới gọi là "Xin Cai", người Hoa gọi là Tân Nhai (新街, Phố Mới ngày nay).

Trong bản đồ Bắc Kỳ năm 1879 thì Jean Dupuis ghi chỗ chợ này là "Lao-kai, residence du Chef des Pavillone noirs" (Lao-kai, dinh thủ lĩnh quân Cờ đen). Sau này người Pháp quen dùng nên thành tên của thủ phủ vùng [6]. Giáo sư Đào Duy Anhthì nói khi làm bản đồ, người Pháp viết "Lão Nhai" là "Lao Cai" và sau thành "Lao Kay". Tên "Lao Kay" đã được người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu hành chính.

Sau tháng 11 năm 1950, đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số năm 2007 của tỉnh Lào Cai là 593.600 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động: 314.520 người, chiếm khoảng 53% [1]. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh là 613.075 người.

Dân số năm 2014 của tỉnh Lào Cai là 665.200 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động: 412.600 người, chiếm khoảng 62%

  • Thành thị: 28%
  • Nông thôn: 72

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác nhau đạt 19.287 người, nhiều nhất là đạo Tin Lành có 12.591 người, tiếp theo là Công giáo đạt 5.946 người, Phật giáo có 733 người. Còn lại các tôn giáo khác như Hồi giáocó 12 người, đạo Cao Đài có ba người, Minh Lý đạo và Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi tôn giáo chỉ có một người.[7] Hiện tại (2019), Lào Cai là một trong những địa phương có số dân theo đạo Công giáo thưa nhất miền Bắc Việt Nam với 9.967 tín hữu, chiếm 1,4% dân số toàn tỉnh và cũng là địa phương có số dân theo đạo Tin Lành đông đảo nhất miền Bắc Việt Nam với hơn 22.000 tín hữu.

Dân số tính đến ngày 1/4/2019 của toàn tỉnh đạt 730.420 người, bao gồm dân số thành thị 171.401 người, chiếm 23,5%; dân số nông thôn 559.019 người, chiếm 76,5%; dân số nam 371.306 người, chiếm 50,83%; dân số nữ 359.114 nghìn người, chiếm 49,17%.

Lào Cai là một vùng đất cổ, diện mạo địa hình được hình thành cách nay 50-60 triệu năm, trong đợt tạo sơn cuối cùng, vỏ trái đất vặn mình, đứt gãy. Hơn vạn năm trước, con người đã có mặt tại địa bàn tại đây[cần dẫn nguồn]. Tổ tiên người bản địa Lào Cai nay hồi đó cư trú khá tập trung ở các dải đồi ven sông Hồng, sông Chảy, các cửa ngòi Mi, ngòi Nhù. Các chủ nhân văn hóa Hòa Bình ở Lào Cai đã biết làm nông nghiệp [8]. Trong buổi đầu các bộ tộc xác định ranh giới chủ quyền, thời Hùng Vương thuộc Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang. Thời Âu Lạc thì vùng phía đông và phía nam Lào Cai thuộc bộ lạc Tây Vu, còn một phần đất phía tây và phía bắc Lào Cai hiện nay thuộc phạm vi của các bộ lạc nhỏ hơn không chịu thuần phục Lạc Việt.

Thời Bắc thuộc, ban đầu là địa phận thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Sau này thuộc là quận Tân Hưng, đất Giao Châu (thời Tây Tấn), sau là đất châu Đan Đường, Chu Quý thuộc Giao Chỉ (thời Tùy), tiếp đổi Lâm Tây châu, Đức Hóa châu thuộc phủ An Nam (thời Đường, 679) [note 2].

Trong thời tự chủ phong kiến thuộc đạo Lâm Tây (林西), hay Đại Cồ Việt thời Đinh, Tiền Lê và Đại Việt thời Lý [note 2]); đất Đăng Châu (鐙州) thời Lý; tiếp là huyện Thủy Vĩ, trấn Quy Hóa, đạo Đà Giang (水尾縣光化鎭沱江道) thời nhà Trần. Năm 1397, Hồ Quý Ly làm phụ chính thái sư, sửa đổi chế độ hành chính, đã đổi các bộ phủ làm trấn và Đà Giang đổi thành trấn Thiên Hưng (天興). Trong đó, huyện Thủy Vĩ, huyện Văn Bàn (文盤) được thành lập trực thuộc châu Quan Hóa. Từ nay Thủy Vĩ, Văn Bàn (vùng đất Lào Cai xưa) đã chính thức trở thành tên đơn vị hành chính của nhà nước phong kiến Đại Việt. Triều Lê đổi đổi lộ làm phủ và đổi trấn làm châu, khi đó lộ Quy Hóa đổi thành phủ Quang Hóa, huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vĩ trở thành châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ trực thuộc Phủ Quang Hóa, thừa tuyên Hưng Hóa. Năm Hồng Đức thứ 31 (1490) đạo thừa tuyên Hưng Hóa đổi thành xứ Hưng Hóa. Đến đời Hồng Thuận Lê Tương Dực (1509-1516) đổi xứ Hưng Hóa thành trấn Hưng Hóa (興化鎭)[9].

Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thủy Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa[10].

Sau khi đánh chiếm Lào Cai (tháng 3 năm 1886), đế quốc Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7 tháng 1 năm 1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai [11] Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12 tháng 7 năm 1907, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Emmerich được cử làm Công sứ Pháp đầu tiên của Lào Cai thay tướng Louis Edouard Messager đang làm Tư lệnh Đạo quan binh số 4 Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Ngày 12 tháng 7 năm 1907 được xác định là ngày thành lập tỉnh Lào Cai[12].

Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Sau khi Lào Cai vừa được thành lập, Toàn quyền Pháp ra Nghi định chia lại đơn vị hành chính Lào Cai: phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ; phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai[11].

Đến 1910, dưới thời của Công sứ Emmerich, một số tổng của Lào Cai (ở châu Thủy Vĩ) được trích ra cùng với một số tổng của Lai Châu lập ra châu Than Uyên do Công sứ Pháp Hernández của tỉnh Sơn La quản hạt.

Năm 1930, thời công sứ Pháp ở Lào Cai Henry Wintrebert, địa lý của Lào Cai cơ bản như sau

- Châu Bảo Thắng (bên tả ngạn) có 10 xã và khu tương đương với 34 thôn và 1 khu phố Lào Cai với 3 phố là Tân Bảo, Tân Tèo, Cốc Lếu. 

- Châu Thuỷ Vỹ (bên hữu ngạn) có 4 xã là xã Nhạc Sơn (16 thôn bản), xã Xuân Giao (14 thôn bản), xã Cam Đường (37 thôn bản), xã Gia Phú (16 thôn bản). Tổng cộng là 83 thôn bản. 

- Đại lý Mường Khương có 3 xã là xã Mường Khương (45 thôn bản), xã Pha Long (39 thôn bản), xã Bản Lầu (57 thôn bản). 

- Đại lý Pa Kha (Bắc Hà) có 3 xã là xã Bắc Hà Đông, xã Bắc Hà Tây, xã Si Ma Cai; 149 thôn bản và 1 khu phố với 2 dãy phố. 

- Đại lý Phong Thổ có 4 xã là xã Phong Thổ (có 80 thôn bản), xã Giào San (28 thôn bản), xã Tam Đường (có 58 thôn bản), xã Bình Lư (có 28 thôn bản). Tổng cộng có 194 thôn bản. 

- Đại lý Bát Xát có 3 xã:Bát Xát (8 thôn bản), Trịnh Tường (20 thôn bản), Mường Hum (4 thôn bản). 

- Khu hành chính Sa Pa có 37 thôn bản[13].

     Núi Pang - xi - păng cao hơn núi Tây Côn Lĩnh

Số m Núi Pang - xi - păng cao hơn núi Tây Côn Lĩnh là:

3143-2428=715 m

                    Đáp/số: 715 m