II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Viết bài văn (khoảng 300 – 400 chữ) kể lại một câu chuyện cổ tích mà em yêu thích.
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm
Ngày xưa, có một người con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thần có sức khỏe vô địch, lại nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.
Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăn trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường. Lạc Long Quân vốn quen sống ở dưới nước, nên thường xuyên trở về dưới thuỷ cung.
Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:
- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao. Nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.
Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:
- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.
Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:
- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.
Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói
- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.
Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:
- Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.
Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.
Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên.
Những năm tháng Tiểu học luôn là quãng thời gian hồn nhiên và đáng nhớ nhất trong cuộc đời em. Trong rất nhiều kỷ niệm đẹp ấy, em nhớ nhất là lần đầu tiên em được tham gia Hội thi “Kể chuyện Bác Hồ” của trường vào năm lớp 4.
Hôm đó, khi cô giáo chủ nhiệm thông báo em được chọn đại diện lớp đi thi, em vừa vui mừng vừa lo lắng. Em sợ mình nói sai hoặc quên bài trước đông người. Thế nhưng cô giáo luôn động viên, giúp em luyện tập mỗi ngày sau giờ học. Cô còn chỉ cho em cách đứng thẳng, mỉm cười, và nói thật tự nhiên để tạo thiện cảm với khán giả. Em chọn kể câu chuyện “Chiếc áo ấm tặng Bác” – một câu chuyện cảm động nói về tấm lòng nhân hậu của Bác Hồ đối với các cháu thiếu nhi.
Đến ngày thi, sân trường rợp cờ hoa, các lớp ngồi ngay ngắn cổ vũ. Khi bước lên sân khấu, em run lắm, tim đập nhanh đến mức tưởng như ai cũng nghe thấy. Nhưng khi nhìn thấy cô giáo đang mỉm cười động viên dưới hàng ghế khán giả, em bỗng cảm thấy bình tĩnh hơn. Em bắt đầu kể, giọng nói dần rõ ràng, truyền cảm, và em cố gắng thể hiện cảm xúc bằng cả trái tim. Khi em vừa dứt lời, mọi người vỗ tay vang dội, khiến em xúc động đến suýt rơi nước mắt.
Kết quả, em đạt giải Nhì toàn trường. Cô giáo ôm em và khen em rất dũng cảm. Ba mẹ cũng tự hào và thưởng cho em một quyển truyện mới. Từ lần đó, em hiểu rằng: nếu mình tin tưởng vào bản thân và chăm chỉ luyện tập, nhất định sẽ thành công.
Kỷ niệm ấy mãi là một trải nghiệm đáng nhớ trong tuổi thơ học trò của em — nơi em học được sự tự tin, lòng kiên trì và niềm vui khi vượt qua chính mình.
Trong những năm tháng học Tiểu học, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi là lần đầu tiên em tham gia hội thi văn nghệ của trường. Đó là một kỉ niệm vừa hồi hộp, vừa vui sướng mà em không bao giờ quên.
Hôm đó, lớp em được chọn biểu diễn múa trong buổi chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngay từ những buổi tập đầu tiên, em đã cảm thấy rất lo lắng vì sợ mình làm sai động tác, ảnh hưởng đến cả đội. Tan học, em cùng các bạn ở lại tập luyện cùng cô giáo. Có hôm chân đau, người mệt nhưng em vẫn cố gắng vì không muốn bỏ cuộc. Cô giáo luôn nhẹ nhàng động viên chúng em, nhờ vậy em cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.
Đến ngày biểu diễn, khi đứng sau cánh gà nhìn xuống sân trường đông kín người, tim em đập rất nhanh. Em hồi hộp đến mức hai tay run lên. Nhưng khi tiếng nhạc vang lên, em nhớ lại lời cô dặn và bắt đầu thực hiện từng động tác. Mọi lo lắng dần tan biến, em cảm thấy mình đang hòa vào bài múa. Khi tiết mục kết thúc, em nghe thấy những tràng pháo tay vang lên khắp sân trường và lòng em tràn ngập niềm vui.
Từ trải nghiệm ấy, em rút ra bài học cho bản thân rằng: chỉ cần cố gắng, kiên trì và tin vào chính mình thì em sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi. Kỉ niệm này đã giúp em trưởng thành hơn và trở thành một trải nghiệm đáng nhớ trong những năm tháng học Tiểu học của em.
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Ta hẵng còn nhớ câu chuyện kể về chàng thủ lĩnh Danko đã lấy trái tim mình làm ngọn đèn soi sáng cho dân tộc đi qua hang tối để tìm về miền đất hứa. Ôi trái tim Danko – trái tim lửa thiêng sáng ngời chất sử thi hào hùng, nhưng cũng thấm đượm nơi đó một dòng máu đỏ tươi của tình nhân loại, tình yêu thương to lớn. Đúng vậy, tình yêu thương chính là một trong những điều không thể nào thiếu được trong cuộc sống, giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn biết nhường nào.
Từ khi còn rất nhỏ, chúng ta đã được cha mẹ, thầy cô giáo dục rất nhiều về tình yêu thương. Tuy nhiên tình yêu thương là gì thực chất vẫn luôn làm chúng ta bỡ ngỡ dù là khi đã trưởng thành. Tình yêu thương không chỉ là sự lãng mạn, mà nó chính là tiếng nói chung cho: Lòng bác ái, tính vị tha, sự san sẻ, cảm thông, quan tâm và “sống vì người khác”. Thực sự trong cuộc sống này thì chính tình yêu thương có vô vàn hình trạng, nó như một viên đá ngũ sắc lung linh và đẹp đến mê mẩn.
Tình yêu thương thật giản dị hiện diện mọi ngày, mọi nơi, mọi thời điểm nhưng chúng lại có những sức mạnh phi thường. Đó là tình cảm gia đình, khi ông bà cha mẹ chấp nhận hy sinh, chấp nhận bao vất vả cực nhọc để nuôi dạy con cháu nên người, là lòng biết ơn sâu sắc của con cháu đối với ông bà cha mẹ. Ngoài ra, tình yêu thương còn được biểu hiện ở sự hòa thuận quý mến lẫn nhau của anh chị em một nhà. Bên cạnh đó, trong toàn xã hội, tình yêu thương còn là khi những người hàng xóm láng giềng giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn hay thầy cô luôn cố gắng dành trọn vẹn kiến thức mình có cho học sinh, luôn đồng cảm giúp đỡ các em khi vấp ngã. Ngày nay, tuy đã hòa bình nhưng đất nước ta vẫn phải chịu đựng thiên tai hoành hành, lòng yêu thương ấy lại được thể hiện qua những cuộc từ thiện từ chiếc quần áo, sách vở hay gói đồ ăn... Tình yêu thương cũng được thể hiện ở tình yêu đôi lứa, hay khi ta lên án, đấu tranh chống lại những thế lực đày đọa, bóc lột, ngược đãi con người.
Như loài chim phân biệt mình bằng tiếng hót, như loài hoa kiêu hãnh bởi mỗi một hương sắc riêng mình, mỗi người chúng ta sinh ra đều có một trái tim. Và như lời liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng nói: “Chỉ có trái tim yêu thương mới gieo mầm hạnh phúc”. Đúng thế, tình yêu thương trước hết mang lại niềm hạnh phúc cho nhân loại. Mỗi người yêu thương sẽ gieo mầm cho một xã hội tốt đẹp và văn minh. Người cho đi tình thương cũng sẽ cảm thấy thanh thản trong tâm hồn. Đối với con người, tình yêu thương còn là sợi dây gắn kết và thu hẹp khoảng cách với nhau. Từ đó, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn nhờ sự ngập tràn trong tình yêu thương. Ai đó đã từng nói: “Chúng ta đều là những thiên thần chỉ có một chiếc cánh, và ta phải ôm lấy lẫn nhau để học bay.”. Thật vậy, chỉ khi yêu thương thì ta mới có thể cảm nhận được thế giới, cảm nhận được những điều tìm ẩn và được giấu kín bên trong vẻ ngoài ấy là những bước tiến, là những bài học mới, bổ ích và đầy kinh nghiệm phục vụ cho ước mơ vươn tới những tầm xa của mỗi một con người, mỗi một cá nhân trong cuộc sống này. Tình yêu thương giúp xây dựng nên nhân cách con người, là cả quá trình cảm nhận cuộc sống này tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn nếu con người nhận ra được vai trò thực sự của tình yêu thương. Thêm nữa, một chút sự đồng cảm, chia sẻ gửi đến cho người có hoàn cảnh khó khăn cũng sẽ là nguồn động lực to lớn giúp họ có thêm niềm tin vào cuộc sống, để tự tin và lạc quan vượt qua tất cả. Đồng thời, tình yêu thương còn tạo sức mạnh cảm hoá kỳ diệu đối với những người “lầm đường lạc lối”, mang lại niềm tin và cơ hội để có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thực tế cuộc sống, đã có biết bao câu chuyện cảm động kể về tình yêu thương. Có thể kể đến trận bão lũ vừa qua của miền Trung, khi người dân miền Trung đang đối diện với tổn thất về tinh thần, vật chất rất lớn thì có không ít nhà hảo tâm đã quyên góp vật tư và đồ ăn đến nơi lũ lụt. Không kể già trẻ hay gái trai mọi người đều hướng về miền Trung thân yêu bằng nhiều chương trình từ thiện khác nhau. Hay như tình yêu thương chân thành, nhẹ nhàng của Thị Nở đã chạm đến trái tim cằn khô, sỏi đá của Chí Phèo và thức dậy trong anh những giây phút người nhất. Mỗi câu chuyện dẫu khác nhau về hoàn cảnh, cách thức hay con người nhưng đều thống nhất ở một trái tim nhân ái, một lòng yêu thương nồng nàn.
Không những thế cuộc đời muôn hình vạn trạng, có người tốt cũng có kẻ xấu. Tuy xã hội có rất nhiều người tình yêu thương vô bờ đối với mọi người xung quanh nhưng cũng tồn tại những kẻ ích kỷ. Những người đó chỉ biết cuộc sống của mình, họ không quan tâm đến bất cứ ai. Họ sống vì bản thân và cảm thấy bản thân không cần có trách nhiệm phải chia sẻ với ai, phải giúp đỡ ai. Họ bị sự ồn ào của cuộc sống, bị lu mờ bởi vật chất nên để tình yêu thương nguội lạnh. Vì cái tôi, vì cuộc sống đơn điệu của bản thân mà họ bỏ mặc những thứ xung quanh. Có nhiều người đã mắc căn bệnh “vô cảm”, dửng dưng trước những hoàn cảnh đáng thương, sợ giúp đỡ người khác, sợ bị mang vạ vào thân…. Vì vậy, họ không biết nói tiếng sẻ chia, cứ khư khư trong vỏ bọc của riêng mình. Và từ đó, luôn sống trong ngờ vực, đố kỵ, ganh ghét,…Đó là một lối sống ích kỷ cần được phê phán và chấn chỉnh. Thử hỏi nếu trên thế giới này mọi người thờ ơ chỉ sống cho riêng mình thì cuộc sống ấy sẽ thế nào? Con người sẽ chẳng khác gì máy móc. Những người như thế sẽ bị mọi người xa lánh, ghét bỏ, sống cô độc trong chính bóng tối mà mình tạo ra.
“Thế giới này sẽ trở nên tươi đẹp biết bao khi con người biết đặt mình vào vị trí của nhau”. Chỉ với tình yêu thương chân thành sẽ giúp cuộc sống trở nên tươi đẹp và ý nghĩa biết chừng nào. Vì lẽ đó, lòng yêu thương cần phải được nhân rộng và trân quý, ca ngợi trong cuộc sống hôm nay. Mỗi chúng ta hãy sống có lòng yêu thương với tất cả mọi người, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ người khác. Song song đó, chúng ta cũng cần phải lên án lối sống thiếu tình yêu thương, ích kỉ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, và thẳng thắn phê phán những kẻ lợi dụng tình thương để thể hiện những ý đồ đen tối, để tự đánh bóng tên tuổi mình.
Dàn ý:
Dàn ý:
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Kể lại câu chuyện cổ tích "Cô bé quàng khăn đỏ"
Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan và xinh xắn, mọi người gọi em là Cô bé quàng khăn đỏ vì em luôn đội chiếc khăn đỏ xinh xắn do bà ngoại tặng. Một hôm, mẹ cô bé nhờ em mang giỏ bánh và bình sữa sang cho bà ngoại đang ốm nằm một mình trong rừng.
Trên đường đi, cô bé quàng khăn đỏ gặp một con sói gian ác. Con sói nảy ra kế hoạch bắt bà và cô bé. Nó đi trước đến nhà bà, ăn thịt bà và giả làm bà nằm trên giường đợi cô bé. Khi cô bé đến, cô cảm thấy có gì đó lạ, nhưng chưa kịp phản ứng thì con sói định ăn thịt cô.
May mắn thay, một người thợ săn đi qua nghe tiếng kêu của cô bé, đã chạy đến cứu cô và bà ngoại. Người thợ săn giết con sói hung dữ, cứu cả hai bà cháu an toàn. Từ đó, cô bé quàng khăn đỏ luôn nhớ lời mẹ dặn là không được nói chuyện hay đi lối khác khi qua rừng.
Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” dạy chúng ta bài học quý giá về sự cảnh giác và vâng lời người lớn để giữ an toàn cho bản thân. Em rất thích câu chuyện này vì nó vừa hấp dẫn vừa có ý nghĩa sâu sắc.