Câu 1. (2.0 điểm) Mark Twain từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.”. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:
[Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].
Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.
Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:
- Con đã về đấy ư?
- Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? - Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được.
- Bà ở đây một mình thôi à?
Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:
- Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
- Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? - Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.
- Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
- Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. - Bà cụ yên lặng một lát.
- Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.
Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
- Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?
Tâm nhìn ra ngoài đáp:
- Như thường rồi. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:
- Ở làng có việc gì lạ không? - Bà cụ trả lời:
- Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. […]
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ. Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy.
Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:
- Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
- Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm. - Tâm lại an ủi:
- Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:
- Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho. - Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.
Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. […] Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận.
(Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2004, tr.24-27.)
* Chú thích:
- Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam.
- Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Câu nói của Mark Twain gợi ra một triết lí sống sâu sắc: con người thường hối tiếc không phải vì những điều đã làm, mà vì những cơ hội đã bỏ lỡ. Trong cuộc sống, “bến đỗ an toàn” tượng trưng cho sự quen thuộc, ổn định nhưng cũng dễ khiến ta trì trệ, ngại thay đổi. Nếu chỉ mãi ở trong vùng an toàn, con người sẽ không khám phá được khả năng của bản thân, không dám thử sức với những điều mới mẻ và vì thế đánh mất nhiều cơ hội quý giá. Tuổi trẻ là quãng thời gian thích hợp nhất để “tháo dây, nhổ neo”, dám nghĩ, dám làm và dám thất bại. Thất bại không đáng sợ, bởi nó mang lại bài học và trải nghiệm, giúp ta trưởng thành hơn. Ngược lại, sự do dự, sợ hãi mới là điều khiến ta nuối tiếc lâu dài. Tuy nhiên, dám bước ra không có nghĩa là hành động mù quáng, mà cần có mục tiêu, suy nghĩ chín chắn. Như vậy, câu nói khuyến khích mỗi người sống chủ động, mạnh dạn theo đuổi ước mơ để sau này không phải tiếc nuối vì những điều mình chưa từng thử.
⸻
Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Trong đoạn trích truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp cảm động, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn giàu tình yêu thương và đức hi sinh.
Trước hết, người mẹ là hiện thân của sự tần tảo, lam lũ. Dù thời gian trôi qua, cuộc sống vẫn nghèo khó, bà “vẫn mặc cái bộ áo cũ kĩ”, sống trong ngôi nhà xơ xác, thấp bé. Chi tiết ấy cho thấy cuộc đời vất vả, thiếu thốn nhưng bà vẫn chấp nhận, âm thầm chịu đựng để nuôi con khôn lớn. Sự hi sinh của bà không chỉ ở vật chất mà còn ở tinh thần: sống cô đơn, chỉ có “con Trinh” làm bạn, nhưng vẫn luôn hướng về con trai nơi thành phố.
Bên cạnh đó, người mẹ còn là biểu tượng của tình yêu thương con vô bờ bến. Khi gặp lại con sau nhiều năm xa cách, bà “ứa nước mắt”, xúc động không nói nên lời. Những câu hỏi dồn dập, sự quan tâm ân cần về sức khỏe, công việc của con cho thấy nỗi nhớ thương và lo lắng luôn thường trực trong lòng bà. Dù con vô tâm, lạnh nhạt, bà vẫn không trách móc mà chỉ lặng lẽ yêu thương. Ngay cả khi nhận tiền từ con, bà “run run đỡ lấy”, “rơm rớm nước mắt” – đó không phải niềm vui vì tiền bạc mà là nỗi tủi thân xen lẫn tình thương con sâu sắc.Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.
Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.
Trong dòng chảy của văn học, hình ảnh người mẹ luôn là biểu tượng của sự hy sinh và lòng vị tha vô bờ bến. Qua đoạn trích về nhân vật Tâm, hình ảnh người mẹ hiện lên tuy gián tiếp và qua những chi tiết nhỏ nhưng lại gây xúc động sâu sắc về tình mẫu tử đơn phương, lặng lẽ. Trước hết, người mẹ hiện lên với vẻ đẹp của sự tần tảo và đức hy sinh. Tác giả giới thiệu bà đã "tần tảo sớm khuya nuôi dạy [Tâm] nên người". Cả cuộc đời bà là một sự hy sinh thầm lặng, dồn hết tâm sức để con có cơ hội ra thành phố học tập và làm việc. Sự hy sinh ấy không mong cầu đền đáp, chỉ mong con được thành danh, thoát khỏi cảnh nghèo khó nơi quê nhà. Thứ hai, người mẹ là hiện thân của sự chờ đợi và lòng vị tha nhẫn nại. Suốt sáu năm con đi biệt tích, chỉ gửi tiền mà không một lời hỏi thăm, không báo tin cưới vợ, thậm chí ngó lơ những bức thư mẹ gửi, người mẹ vẫn kiên trì giữ sợi dây liên lạc. Những "bức thư mẹ gửi từ quê ra" chính là những nhịp cầu yêu thương bị đứt đoạn từ một phía. Sự im lặng của Tâm đối lập gay gắt với sự trông ngóng của mẹ, làm nổi bật một tình yêu thương vô điều kiện. Mẹ không trách móc, không đòi hỏi, chỉ lặng lẽ dõi theo con qua những cánh thư không có hồi đáp. Cuối cùng, hình ảnh người mẹ gắn liền với sự khắc khổ và cảnh nghèo bền bỉ. Khi Tâm trở về, hình ảnh ngôi nhà "sụp thấp hơn một chút", "mái gianh xơ xác hơn" chính là hình ảnh phản chiếu sự già nua, héo hắt của người mẹ. Ngôi nhà cũ vẫn thế, như lòng mẹ vẫn mãi vẹn nguyên, nhưng dấu vết thời gian và sự cô đơn đã hằn lên mái gianh, lên không gian tĩnh mịch "bốn bề yên lặng". Người mẹ ấy đã dành cả đời để giữ gìn "cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ" như một nơi trú ẩn cuối cùng chờ đón đứa con trở về. Kết bài: Nhân vật người mẹ trong đoạn trích không xuất hiện bằng lời thoại hay hành động trực tiếp, nhưng qua bối cảnh và thái độ của nhân vật Tâm, ta thấy hiện lên một chân dung mẫu mực của người phụ nữ Việt Nam: hy sinh, chịu đựng và bao dung đến tận cùng. Hình tượng này cũng là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo làm con và sự thức tỉnh trước những giá trị gia đình thiêng liêng.
Câu nói của Mark Twain là một thông điệp mạnh mẽ về tinh thần dấn thân và lòng can đảm. "Bến đỗ an toàn" chính là vùng thoải mái, nơi ta cảm thấy yên ổn nhưng cũng là nơi kìm hãm sự phát triển. Mark Twain muốn nhắc nhở rằng nỗi đau lớn nhất của con người trong tương lai không phải là những thất bại từ việc đã thử, mà là sự nuối tiếc vì đã bỏ lỡ những cơ hội do nỗi sợ hãi. Việc "tháo dây, nhổ neo" tượng trưng cho hành động quyết đoán, sẵn sàng đối mặt với sóng gió để khám phá những "đại dương" tri thức và trải nghiệm mới. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, chúng ta không chỉ có cơ hội đạt được thành công mà còn khám phá ra những giới hạn mới của bản thân. Ngược lại, nếu mãi đắm mình trong sự an phận, cuộc đời sẽ trở nên tẻ nhạt và ta sẽ lỗi nhịp với dòng chảy của thế giới. Tất nhiên, dấn thân không đồng nghĩa với liều lĩnh mù quáng, mà cần sự chuẩn bị và bản lĩnh. Hãy sống một cuộc đời rực rỡ để sau này nhìn lại, chúng ta có thể mỉm cười vì đã sống hết mình thay vì thở dài vì hai chữ "giá như".