K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:               NHÀNMột mai, một cuốc, một cần câu,Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.Ta...
Đọc tiếp

II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:

               NHÀN

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. 

(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)

132

II. VIẾT

Câu 1:

Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà còn là không gian sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của mỗi người. Khi môi trường bị ô nhiễm hay tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về mặt cảm xúc, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh. Bên cạnh đó, nhà nước và các tổ chức cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau.

Câu 2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi và tìm về với thiên nhiên. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt, thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của mỗi tác giả.

Trước hết, điểm gặp gỡ giữa hai nhà thơ là ở lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa cuộc sống giản dị với “một mai, một cuốc, một cần câu”, tự do, ung dung giữa cảnh quê thanh bình. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên hiện lên với bầu trời thu xanh, làn nước trong và không gian tĩnh lặng. Cả hai đều thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tâm hồn, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống. Điều đó cho thấy vẻ đẹp chung của người ẩn sĩ: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và không bị cuốn theo vòng xoáy danh lợi.

Tuy nhiên, đằng sau sự tương đồng ấy lại là những khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc lựa chọn cuộc sống “nhàn” là một sự chủ động và đầy bản lĩnh. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại” của người khôn, biết tránh xa danh lợi để giữ trọn khí tiết. Giọng thơ của ông vì thế mang vẻ ung dung, nhẹ nhàng và có phần triết lí. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn dật lại gắn với tâm trạng buồn bã, bất lực trước thời cuộc. Là một người từng làm quan nhưng chứng kiến xã hội rối ren, ông lui về quê sống ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu nỗi niềm. Cảnh thu trong thơ ông tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn và tiếc nuối. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thấy sự an nhiên thực sự trong cuộc sống ẩn dật, thì Nguyễn Khuyến lại mang theo nỗi đau thời thế vào trong từng vần thơ.

Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, giọng điệu thơ có sự khác biệt: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí, nhẹ nhàng; còn thơ Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, sâu lắng và man mác buồn.

Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, biết giữ mình trước danh lợi, đồng thời cũng phản ánh những tâm trạng khác nhau của các nhà nho trước thời cuộc. Điều đó không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về con người và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, mà còn gợi nhắc về giá trị của một lối sống giản dị, thanh sạch và giàu ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.

30 tháng 3

C1:

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn nhân loại. Môi trường là không gian sống của con người và muôn loài sinh vật, cung cấp không khí, nước, đất và các nguồn tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Khi môi trường bị ô nhiễm hoặc tàn phá, không chỉ thiên nhiên bị tổn hại mà sức khỏe và đời sống tinh thần của con người cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Những hiện tượng như biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng hay ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiếu ý thức. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh, phân loại rác thải hay nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Khi mỗi cá nhân thay đổi nhận thức và hành động tích cực, môi trường sống sẽ dần được cải thiện. Như vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính con người hôm nay và cả các thế hệ mai sau, vì thế mỗi chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp.

C2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một hình tượng quen thuộc, thể hiện nhân cách thanh cao và thái độ sống của các nhà nho trước những biến động của xã hội. Khi con đường công danh không còn phù hợp với lý tưởng đạo đức, nhiều trí thức đã lựa chọn lối sống ẩn dật, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Qua hai tác phẩm, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng về lối sống và nhân cách, vừa có những nét khác biệt về tâm trạng và cảm xúc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của các trí thức xưa.

Trước hết, trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, thanh thản và chủ động lựa chọn cuộc sống xa rời danh lợi. Ngay từ những câu thơ mở đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

Những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê. Điệp từ “một” được lặp lại ba lần không chỉ tạo nhịp điệu khoan thai mà còn nhấn mạnh sự đơn sơ trong cuộc sống của người ẩn sĩ. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm trạng ung dung, tự tại, không bị ràng buộc bởi những bon chen nơi chốn quan trường. Đặc biệt, quan niệm sống của tác giả được thể hiện sâu sắc qua hai câu thơ:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.”

Ở đây, cách nói “ta dại” là một lối nói ngược, thể hiện sự tự ý thức của tác giả. Người đời cho rằng tìm nơi vắng vẻ là “dại”, nhưng thực chất đó lại là lựa chọn khôn ngoan của người hiểu rõ giá trị của sự thanh thản. Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế hiện lên với tư thế chủ động, coi thường danh lợi và hướng đến đời sống tinh thần trong sạch.

Cuộc sống của người ẩn sĩ trong bài thơ còn gắn bó mật thiết với thiên nhiên bốn mùa:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi đã khắc họa cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giản dị mà thanh cao. Người ẩn sĩ tìm niềm vui trong những sinh hoạt bình thường, không bị chi phối bởi vật chất hay danh vọng. Điều này được khẳng định rõ hơn trong hai câu thơ cuối:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Qua hình ảnh “phú quý tựa chiêm bao”, tác giả thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi, xem giàu sang chỉ là điều phù phiếm, không đáng để đánh đổi sự bình yên của tâm hồn. Như vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của sự ung dung, tự tại và lạc quan.

Nếu người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung và thanh thản thì trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại gắn liền với tâm trạng sâu lắng và nỗi niềm riêng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng và trong trẻo:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”

Không gian mùa thu được mở ra với màu sắc trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác vắng lặng. Những từ ngữ như “lơ phơ”, “hắt hiu” đã tạo nên không khí buồn nhẹ, gợi lên tâm trạng cô đơn của người ẩn sĩ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là nơi để sống mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng của con người.

Những câu thơ tiếp theo tiếp tục khắc họa vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh vật:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.”

Cảnh vật hiện lên mờ ảo, yên tĩnh, mang vẻ đẹp tinh tế và giàu chất trữ tình. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là tâm trạng suy tư của tác giả. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Hình ảnh “thẹn với ông Đào” (Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng với lối sống ẩn dật) cho thấy sự tự ý thức về nhân cách và lý tưởng sống. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ thưởng thức thiên nhiên mà còn suy ngẫm về bản thân, mang trong lòng nỗi niềm trăn trở trước cuộc đời.

So sánh hai bài thơ, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả hai đều lựa chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách thanh cao. Thiên nhiên trong hai bài thơ đều trở thành không gian sống lý tưởng, giúp con người tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Đồng thời, cả hai tác giả đều thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao giá trị của đời sống tinh thần.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ cũng có những nét khác biệt rõ rệt. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, lạc quan và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, thể hiện thái độ sống tích cực và bình thản. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng trầm lắng, có phần cô đơn và suy tư. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm màu tâm trạng, thể hiện nỗi buồn trước thời cuộc và sự bất lực trước thực tại.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ đều mang vẻ đẹp của nhân cách cao quý và tâm hồn thanh sạch. Qua đó, các tác giả đã thể hiện quan niệm sống đề cao sự thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Đồng thời, hai tác phẩm cũng góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.

Nhìn chung, hai bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người. Hình tượng người ẩn sĩ qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lối sống và nhân cách của các nhà nho xưa. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp mà cha ông đã để lại cho nền văn học dân tộc.

18 tháng 11 2021

đoạn trích nào?

21 tháng 4 2022

 

ヽ༼ຈل͜ຈ༽ノ chịu

 

Cô fake rồi má ưi

27 tháng 9 2025

cẩn thận thật thì sao

21 tháng 9 2025

Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
    • Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
  2. Thân bài:
    • Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
    • Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
    • Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
    • Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
  3. Kết bài:
    • Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
    • Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.


Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
  2. Thân bài:
    • Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
    • Diễn biến:
      • Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
      • Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
      • Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
    • Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
      • Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
      • Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
  3. Kết bài:
    • Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
    • Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
25 tháng 12 2025

Bài làm

Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau

PHẦN I: Đọc - hiểu và thực hành tiếng Việt (6.0 điểm)Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:     … “ Một năm sau khi đuổi được giặc Minh, một hôm Lê Lợi – cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân dịp đó, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua,...
Đọc tiếp

PHẦN I: Đọc - hiểu và thực hành tiếng Việt (6.0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

     … “ Một năm sau khi đuổi được giặc Minh, một hôm Lê Lợi – cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân dịp đó, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy. Con Rùa Vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!”.

     Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.

     Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.”

                                                         ( Sự tích Hồ Gươm- theo Nguyễn Đổng Chi)

Câu 1( 2 điểm): Đoạn trích trên  thuộc thể loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết cơ bản về thể loại đó? Kể tên tác phẩm có cùng thể loại?

Câu 2(0,5 điểm): Từ “ le lói” trong câu: “ người ta vẫn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh” là loại từ nào?

 Câu 3( 0,5 điểm): Ngoài văn bản được trích trên, em hãy kể tên 2 truyền thuyết mà em biết có sự xuất hiện của nhân vật Lạc Long Quân ( Long Quân, Đức Long Quân) hoặc Rùa Vàng (Rùa Thần, Đức Kim Quy).

Câu 4(2 điểm): Em hãy chỉ ra yếu tố tưởng tượng kì ảo và cốt lõi lịch sử trong đoạn văn trên? Ý nghĩa của chi tiết đó?

Câu 5( 1 điểm): Tai sao truyện có tên Sự tích Hồ Gươm?

PHẦN II: Viết (4,0 điểm)

     Đóng vai nhân vật trong câu chuyện cổ tích mà em thích và kể lại câu chuyện đó.

1
14 tháng 3 2022

Câu 1 : thể loại : truyền thuyết

`-` Dấu hiệu nhận biết : Truyền thuyết là các loại truyện dân gian, lịch sử và liên quan đến quá khứ.

`-` Tác phẩm : Con rồng cháu tiên, Sơn Tinh Thủy Tinh,..

Câu 2 : Từ loại : tính từ

Câu 3 :

2 truyền thuyết mà em biết có sự xuất hiện của nhân vật Lạc Long Quân ( Long Quân, Đức Long Quân) hoặc Rùa Vàng (Rùa Thần, Đức Kim Quy) : An Dương Vương và thành Cổ Loa, con Rồng cháu Tiên

Câu 4 :

Kì ảo :

- Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi lên trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm cho Long Quân!”

-Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp thanh gươm và lặn xuống.

Cốt lõi lịch sử : 

-Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.”

-Giặc Minh, Lê Lợi, địa danh hồ Tả Vọng – hồ Gươm – hồ Hoàn Kiếm.

Câu 5 : Vì truyện muốn nói lên sự hình thành của Hồ Gươm(Hồ Hoàn Kiếm), đồng thời thể hiện sự ca ngợi tính chính nghĩa và tính nhân dân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn .

Phần II :

Tham khảo:

Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Vì chăm chỉ làm lụng nên bố mẹ tội cũng có bát ăn bát để, hi vọng sau này cho anh em tôi làm vốn sinh nhai. Nhưng rồi cha mẹ tôi mất đột ngột. Anh trai tôi đã không làm như lời cha mẹ dặn trước lúc lâm chung là chia đều tài sản cho hai anh em mà chiếm hết gia tài, chỉ để lại cho tôi một túp lều nhỏ và cây khế còi cọc ở góc vườn.

Tôi chấp nhận mà không hề kêu ca, than phiền gì. Hằng ngày, tôi phải mò cua bắt ốc, cày thuê, cuốc mướn để sống. Cây khế trở thành tài sản quý giá nhất và là người bạn thân thiết của tôi. Tôi chăm sóc nó chu đáo, tận tình như người bạn. Vì vậy mà cây khế lớn rất nhanh và chẳng bao lâu đã ra hoa kết quả. Đến mùa khế chín, những chùm khế chín vàng óng, thơm lừng báo hiệu một mùa khế bội thu. Không thể nào nói hết được niềm hạnh phúc của mọi người trong gia đình tôi. Tôi đã đan những chiếc sọt để ngày mai đem khế ra chợ đổi lấy gạo. Sáng hôm đó, khi vừa thức dậy, tôi đã nhìn thấy trên cây khế có một con chim to với bộ lông sặc sỡ đang ăn những quả khế chín. Lòng tôi đau như cắt. Tôi chạy đến dưới gốc cây và nói: “Chim ơi! Ngươi ăn khế của ta thì gia đình ta biết lấy gì để sống?”. Chim bỗng ngừng ăn và cất tiếng trả lời: “Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi và đựng”. Nói rồi chim bay đi. Tôi không tin lắm vào chuyện lạ lùng đó nhưng vẫn bảo vợ may cho mình một chiếc túi ba gang. Sáng hôm sau, chim đến từ sớm và đưa tôi ra một hòn đảo nhỏ giữa biển. Tôi không thể tin vào những gì hiện ra trước mắt. Cả hòn đảo toàn vàng bạc châu báu chất đống. Cả hòn đảo ánh lên màu vàng làm tôi bị lóa mắt. Không hề có một bóng người. Tôi cảm thấy lo sợ, cứ đứng yên một chỗ. Nhưng rồi chim vỗ cánh và giục giã: “Anh hãy lấy vàng bạc, châu báu vào túi, rồi tôi đưa về.” Lúc đó tôi mới dám nhặt vàng cho vào đầy túi ba gang rồi lên lưng chim để trở về đất liền.

Từ đó, gia đình tôi không còn phải ăn đói mặc rách nữa. Tôi dựng một căn nhà khang trang ngay trong khu vườn, nhưng vẫn giữ lại túp lều và cây khế.

Tôi dùng số của cải đó chia cho những người dân nghèo khổ trong làng. Cũng không hiểu sao từ bữa đó, chim không còn đến ăn khế nữa. Cây khế bây giờ đã to lớn, toả bóng mát xuống cả một góc vườn. Mùa khế nào tôi cũng chờ chim thần đến để bày tỏ lòng biết ơn.

Tiếng lành đồn xa, câu chuyện lan đến tai người anh trai tôi. Một sáng, anh đến nhà tôi rất sớm. Đây là lần đầu tiên anh tới thăm tôi kể từ ngày bố mẹ mất. Anh đòi tôi đổi toàn bộ gia sản của anh lấy túp lều và cây khế. Tôi rất buồn khi phải chia tay với căn nhà và cây khế. Nhưng trước lời cầu khẩn của anh, tôi đành bằng lòng. Cả gia đình anh chuyển về túp lều cũ của tôi. Ngày nào anh cũng ra dưới gốc khế chờ chim thần đến. Mùa khế chín, chim cũng trở về ăn khế. Vừa thấy chim, anh tôi đã khóc lóc, kêu gào thảm thiết và đòi chim phải trả vàng. Chim cũng hứa sáng mai sẽ đưa anh tôi ra đảo vàng và dặn may túi ba gang. Tối hôm đó, anh tôi thức cả đêm để may túi mười gang ngày mai đi lấy vàng. Sáng hôm sau, vừa ra tới đảo vàng, anh tôi đã hoa mắt bởi vàng bạc châu báu của hòn đảo. Anh tôi vội nhét vàng vào đầy túi mười gang, vào túi quần, túi áo và mồm cũng ngậm vàng nữa. Trên đường trở về nhà, chim nặng quá, kêu anh tôi vứt bớt vàng xuống biển cho đỡ nặng. Vốn tính tham lam, anh không những không vứt bớt xuống mà còn bắt chim bay nhanh hơn. Nặng quá, chim càng lúc càng mệt. Đôi cánh trở nên quá sức, yếu dần. Cuối cùng, không còn gắng được nữa, chim chao đảo rồi hất luôn người anh xuống biển cùng với số vàng.

Tôi trở lại sống ở nhà cũ, cùng túp lều và cây khế. Nhưng chim thần không bao giờ còn quay trở lại nữa…Anh trai tôi đã không thể quay trở về chỉ vì lòng tham vô đáy. Một nỗi buồn man mác dâng lên trong lòng tôi.

  PHẦN I: ĐỌC HIỂU ( 6.0 điểm)Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:“… Quê hương là vòng tay ấmCon nằm ngủ giữa mưa đêmQuê hương là đêm trăng tỏHoa cau rụng trắng ngoài thềm.…Quê hương mỗi người chỉ mộtNhư là chỉ một mẹ thôiQuê hương nếu ai không nhớSẽ không lớn nổi thành người.”(Trích bài thơ “Quê hương” - Đỗ Trung Quân)Câu 1: (0.5 điểm) Xác định phương thức...
Đọc tiếp

 

 

PHẦN I: ĐỌC HIỂU ( 6.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

“… Quê hương là vòng tay ấm

Con nằm ngủ giữa mưa đêm

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.”

(Trích bài thơ “Quê hương” - Đỗ Trung Quân)

Câu 1: (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ?

Câu 2: (1.0 điểm) Xác định nội dung của đoạn thơ?

Câu 3: (2.5 điểm) Tìm và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ?

Câu 4: (2.0 điểm) Qua đoạn thơ tác giả muốn gửi tới người đọc thông điệp gì?

PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (14.0 điểm)

Câu 1 (4.0 điểm) Từ nội dung đoạn thơ phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tình yêu quê hương của mỗi người.

Câu 2 (10.0 điểm) Hoài Thanh nhận xét: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”. Qua bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

1
21 tháng 1 2022

Tham Khảo 
 

1. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm                             

2.  - Đoạn thơ đã thể hiện được tình cảm yêu thương, gắn bó tha  thiết, sâu nặng với quê  hương của tác giả.

3. - Biện pháp tu từ: 

+ Điệp ngữ “quê hương” được lặp lại 4 lần.

+ So sánh: Quê hương là vòng tay ấm; là đêm trăng tỏ; như là chỉ một mẹ thôi.

- Tác dụng: 

Nhấn mạnh tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu nặng với quê hương của tác giả. Đồng thời đã làm nổi bật hình ảnh quê hương thật bình dị, mộc mạc nhưng cũng thật ấm áp, gần gũi, thân thương, máu thịt, thắm thiết. 

4. + Vai trò của quê hương.

     + Giáo dục tình yêu quê hương.

28 tháng 12 2025

Kể lại câu chuyện cổ tích "Cô bé quàng khăn đỏ"

Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan và xinh xắn, mọi người gọi em là Cô bé quàng khăn đỏ vì em luôn đội chiếc khăn đỏ xinh xắn do bà ngoại tặng. Một hôm, mẹ cô bé nhờ em mang giỏ bánh và bình sữa sang cho bà ngoại đang ốm nằm một mình trong rừng.

Trên đường đi, cô bé quàng khăn đỏ gặp một con sói gian ác. Con sói nảy ra kế hoạch bắt bà và cô bé. Nó đi trước đến nhà bà, ăn thịt bà và giả làm bà nằm trên giường đợi cô bé. Khi cô bé đến, cô cảm thấy có gì đó lạ, nhưng chưa kịp phản ứng thì con sói định ăn thịt cô.

May mắn thay, một người thợ săn đi qua nghe tiếng kêu của cô bé, đã chạy đến cứu cô và bà ngoại. Người thợ săn giết con sói hung dữ, cứu cả hai bà cháu an toàn. Từ đó, cô bé quàng khăn đỏ luôn nhớ lời mẹ dặn là không được nói chuyện hay đi lối khác khi qua rừng.

Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” dạy chúng ta bài học quý giá về sự cảnh giác và vâng lời người lớn để giữ an toàn cho bản thân. Em rất thích câu chuyện này vì nó vừa hấp dẫn vừa có ý nghĩa sâu sắc.



Người hiền gặp lành: Câu chuyện Cây khế và bài học muôn đời Mở bài: Khởi nguồn của một câu chuyện Trong thế giới truyện cổ tích Việt Nam, nơi thiện và ác luôn đối đầu, nơi lòng tốt được đền đáp và tham lam bị trừng trị, có một câu chuyện đã gắn liền với tuổi thơ của biết bao thế hệ, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ bằng những bài học đạo đức giản dị mà sâu sắc. Đó chính là truyện "Cây khế" – câu chuyện về hai anh em, về sự tham lam tột cùng và lòng hiền lành chất phác, về phép màu kỳ diệu và sự công bằng của tạo hóa. Mỗi lần nghe lại câu chuyện này, tôi lại cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc, vững tin hơn vào triết lý sống "ở hiền gặp lành". Thân bài: Diễn biến câu chuyện 1. Hoàn cảnh gia đình và sự phân chia bất công Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ, có hai anh em trai. Cha mẹ mất sớm, để lại cho hai anh em một khối gia sản khá lớn. Người anh vốn tính tham lam, ích kỷ, luôn muốn chiếm trọn mọi thứ, trong khi người em lại hiền lành, thật thà và chịu khó.  www.bachhoaxanh.com Sau khi lấy vợ, người anh không muốn sống chung với người em nữa. Sợ em trai đòi chia gia tài, người anh vợ chồng tham lam bàn mưu tính kế chiếm hết nhà cao cửa rộng, ruộng vườn màu mỡ, chỉ để lại cho vợ chồng người em một túp lều tranh lụp xụp và một cây khế ngọt ở góc vườn.  www.bachhoaxanh.com Vợ chồng người em hiền lành, không một lời than vãn, chấp nhận sự phân chia bất công đó. Họ dọn đến túp lều tranh, hàng ngày chăm chỉ làm lụng, thuê mướn cho người khác để kiếm sống. Cây khế trước túp lều được người em chăm sóc chu đáo, tưới nước, bón phân mỗi ngày. Nhờ vậy, cây khế lớn nhanh như thổi, xanh tươi và ra rất nhiều trái.  www.avakids.com 2. Phép màu và lời hứa của chim thần Năm đó, cây khế sai trĩu quả, từng chùm khế vàng ươm, mọng nước treo lủng lẳng. Vợ chồng người em định bụng hái khế đem bán lấy tiền mua gạo. Thế nhưng, chẳng biết từ đâu, một con chim phượng hoàng rất lớn bay đến, ăn hết quả này đến quả khác.  www.avakids.com Thấy bao công sức chăm sóc bấy lâu nay sắp tan thành mây khói, người em buồn bã than thở:
  • "Chim ơi, nhà tôi chỉ có cây khế này là tài sản quý giá nhất. Chim ăn hết khế, tôi lấy gì mà sống?"
Thật bất ngờ, chim phượng hoàng dừng ăn, cất tiếng nói như người:
  • "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng."
Vợ chồng người em nghe vậy thì bán tín bán nghi, nhưng vẫn tin lời chim. Họ liền may một cái túi vải nhỏ đúng ba gang tay theo lời chim dặn.  www.avakids.com Sáng hôm sau, chim phượng hoàng lại bay đến, bảo người em leo lên lưng. Chim bay vút lên cao, bay qua những ngọn núi cao ngất, vượt qua những đại dương bao la, cuối cùng đáp xuống một hòn đảo hoang nằm giữa biển khơi. Trên đảo, vàng bạc, châu báu nhiều vô kể, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chim bảo người em lấy vàng. Người em chỉ lấy đủ số vàng bỏ vừa túi ba gang rồi leo lên lưng chim bay về nhà. Từ đó, vợ chồng người em trở nên giàu có, họ dùng tiền giúp đỡ những người nghèo khổ trong làng. 3. Sự tham lam của người anh và kết cục bi thảm Tin người em trở nên giàu có nhanh chóng lọt đến tai vợ chồng người anh. Họ vô cùng kinh ngạc và ghen tị. Cả hai liền sang nhà người em giả vờ hỏi thăm, nhưng thực chất là để tìm hiểu nguyên nhân. Người em thật thà kể lại toàn bộ câu chuyện chim thần ăn khế trả vàng. Vợ chồng người anh mừng rỡ, nài nỉ xin đổi cả cơ nghiệp, nhà cao cửa rộng lấy túp lều tranh và cây khế. Người em vui vẻ đồng ý. Vợ chồng người anh chuyển sang nhà mới, ngày đêm mong chờ chim phượng hoàng đến. Cuối cùng, chim cũng đến ăn khế. Người anh giả vờ than khóc, chim phượng hoàng lại dặn: "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng".  www.avakids.com Nhưng vì tham lam, người anh không may túi ba gang mà may hẳn một cái túi mười hai gang to tướng. Hôm sau, chim phượng hoàng đưa người anh đến đảo vàng. Thấy vàng, mắt người anh sáng rực, tham lam vơ vét hết số vàng này đến số vàng khác, nhét đầy túi mười hai gang, lại còn nhét thêm vào túi áo, túi quần. Người anh tham lam đến mức gần như không thể nhấc nổi mình. Trên đường về, vì túi vàng quá nặng, chim phượng hoàng bay nặng nề. Khi bay qua đại dương mênh mông, gặp gió lớn, chim bảo người anh bỏ bớt vàng xuống cho nhẹ. Nhưng người anh tham lam nhất quyết không chịu, ôm khư khư túi vàng. Chim phượng hoàng tức giận, nghiêng cánh. Người anh tham lam cùng túi vàng nặng trịch rơi xuống biển sâu, bị sóng cuốn trôi, không bao giờ trở về được nữa.  Kết bài: Bài học nhân sinh Câu chuyện kết thúc bằng hình ảnh người em sống hạnh phúc, còn người anh phải trả giá cho sự tham lam của mình. Truyện "Cây khế" là bài học quý giá về đạo lý "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo". Nó nhắc nhở chúng ta không nên tham lam, ích kỷ, mà hãy sống chân thành, thật thà và biết chia sẻ. Lòng tốt, sự chăm chỉ, chịu khó sẽ luôn được đền đáp xứng đáng. Hình ảnh con chim phượng hoàng công bằng là biểu tượng của công lý, mang đến hy vọng và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.


     ĐỀ KIỂM TRA  HỌC KÌ I                                             Môn Ngữ văn lớp 7I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)     Đọc văn bản sau:                                                  ...
Đọc tiếp

     ĐỀ KIỂM TRA  HỌC KÌ I

                                             Môn Ngữ văn lớp 7

I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

     Đọc văn bản sau:

                                                   LƯỢM

                                                                                                                                           

Ngày Huế đổ máu

Chú Hà Nội về,

Tình cờ chú cháu,

Gặp nhau Hàng Bè.

 

Chú bé loắt choắt,
Cái xắc xinh xinh,
Cái chân thoăn thoắt,
Cái đầu nghênh nghênh,

 

Ca-lô đội lệch,
Mồm huýt sáo vang,
Như con chim chích,
Nhảy trên đường vàng…

 

- “Cháu đi liên lạc,
Vui lắm chú à.
Ở đồn Mang Cá,
Thích hơn ở nhà!”

Cháu cười híp mí,
Má đỏ bồ quân:
- “Thôi, chào đồng chí!”
Cháu đi xa dần…

Cháu đi đường cháu,
Chú lên đường ra,
Ðến nay tháng sáu,
Chợt nghe tin nhà.

Ra thế,
Lượm ơi!...

 

Một hôm nào đó

Như bao hôm nào

Chú đồng chí nhỏ

Bỏ thư vào bao

 

Vụt qua mặt trận,
Ðạn bay vèo vèo,
Thư đề “Thượng khẩn”,
Sợ chi hiểm nghèo!

 

Ðường quê vắng vẻ,
Lúa trổ đòng đòng,
Ca-lô chú bé,
Nhấp nhô trên đồng…

Bỗng loè chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi!

 

 

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng…

 

Lượm ơi, còn không?

 

Chú bé loắt choắt,
Cái xắc xinh xinh,
Cái chân thoăn thoắt,
Cái đầu nghênh nghênh,

 

Ca-lô đội lệch,
Mồm huýt sáo vang,
Như con chim chích,
Nhảy trên đường vàng…

 

 

 

                     ( Tố Hữu, Thơ, NXB Giáo dục, 1994)                              

Lựa chọn đáp án đúng nhất

Câu 1. Văn bản chứa đoạn trích trên thuộc thể loại nào?

A. Thơ tự do.               B. Thơ bốn chữ.            C. Thơ năm chữ.                       D. Thơ lục bát.

Câu 2. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong bốn câu thơ sau:

Ca-lô đội lệch,
Mồm huýt sáo vang,
Như con chim chích,
Nhảy trên đường vàng…

A. Nhân hoá.               B. Hoán dụ.                     C. So sánh.                              D. Ẩn dụ.

Câu 3. Chú bé trong bài thơ làm công việc gì?

A. Du kích.                 B. Dân công.                     C. Liên lạc.                             D. Bộ đội.

Câu 4. Những câu, khổ thơ có cấu tạo đặc biệt (Ra thế/Lượm ơi!...; Thôi rồi, Lượm ơi !) thể hiện cảm xúc gì ở người chú?

A. Sự hồi hộp, lo lắng.                                          B. Sự bàng hoàng, xót xa

C. Sự ngạc nhiên, bất ngờ                                     D. Sự đau đớn, sửng sốt đến lặng người.

Câu 5. Hình ảnh và công việc của chú bé Lượm trong bài thơ gần giống với nhân vật  nào sau đây?

A. Lê Văn Tám.          B. Võ Thị Sáu.             C. Bế Văn Đàn.                D. Kim Đồng.

Câu 6. Trong khổ thơ sau có bao nhiêu từ láy?

Chú bé loắt choắt,

Cái xắc xinh xinh,
    Cái chân thoăn thoắt,
        Cái đầu nghênh nghênh,

A. 3.                          B. 4.                              C. 5.                                              D. 6.

Câu 7. Nhân vật Lượm trong bài thơ được tác giả khắc họa như thế nào?

A. Hồn nhiên, vui tươi, hăng hái và dũng cảm.

B. Hồn nhiên, vui tươi và siêng năng.

C. Yêu đời, yêu thiên nhiên và con người.

D. Có tính tự lập, biết cống hiến sức mình cho đất nước.

 

Câu 8. Bài thơ Lượm được sáng tác vào thời kì nào?

A. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

B. Thời kì kháng chiến chống đế quốc M.

C. Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

D. Sau khi đất nước thống nhất.

Trả lời câu hỏi / Thực hiện yêu cầu:

Câu 9. Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Lượm?

Câu 10. Là người đội viên, em cần phải làm gì để thể hiện tình yêu quê hương, đất nước?

II. VIẾT (4.0 điểm)

Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về một người bạn mà em cho là thân nhất.

0
Phần I. Đọc hiểu (2.0 điểm) Đọc văn sau và thực hiện các yêu cầu: Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những chỗ sâu sắc, bị ẩn của thế giới xung quanh, từ sông ngòi, rừng núi cho tới vũ trụ bao la. Sách đưa ta vào những thế giới cực lớn, như thiên hà, hoặc cực nhỏ, như thế giới của những hạt vật chất. Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn trong...
Đọc tiếp

Phần I. Đọc hiểu (2.0 điểm) Đọc văn sau và thực hiện các yêu cầu: Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những chỗ sâu sắc, bị ẩn của thế giới xung quanh, từ sông ngòi, rừng núi cho tới vũ trụ bao la. Sách đưa ta vào những thế giới cực lớn, như thiên hà, hoặc cực nhỏ, như thế giới của những hạt vật chất. Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn trong cuộc đời bận rộn, bươn chải. Sách làm cho ta được thưởng thức những vẻ đẹp của thế giới và con người. Sách cho ta hưởng vẻ đẹp và thú chơi ngôn ngữ, giúp ta biết nghĩ những ý hay, dùng những lời đẹp, mở rộng con đường giao tiếp với mọi người xung quanh. Sách là báu vật không thể thiếu đối với mỗi người. Câu 1. Tìm câu chủ đề của đoạn văn? Từ đó cho biết đoạn văn được trình bày theo cách nào? Câu 2. Tìm phép liên kết được sử dụng trong đoạn trích? Câu 3. Xác định thành phần chính của câu văn sau và cho biết nó thuộc kiểu câu gì: Sách cho ta hưởng vẻ đẹp và thú chơi ngôn ngữ, giúp ta biết nghĩ những ý hay, dùng những lời đẹp, mở rộng con đường giao tiếp với mọi người xung quanh. Câu 4. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn? Tác dụng của biện pháp tu từ đó? Câu 5. Đoạn trích gửi đến em bức thông điệp gì?

0