Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
So với văn nghị luận hiện đại, văn nghị luận trung đại có những sự khác biệt:
- Từ ngữ cổ, cách diễn đạt cổ, những hình ảnh có tính ước lệ, câu văn được viết theo lối biền ngẫu, sóng đôi nhịp nhàng, sử dụng nhiều điển tích, điển cố. Viết bằng chữ Hán, thường được chia ra theo chức năng và mục đích sử dụng, thường gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại.
- Nghị luận trung đại thể hiện rõ thế giới quan con người trung đại: tư tưởng "mệnh trời", đạo "thần chú", lí tưởng nhân nghĩa…
Ngược lại với những đặc điểm trên, văn nghị luận hiện đại thường có lối viết giản dị, câu văn gần với đời sống hằng ngày.
- Văn bản nghị luận là kiểu văn bản có mục đích xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó
- Văn bản nghị luận bao giờ cũng có đè tài nghị luận, luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận
- Các phương pháp lập luận gồm: những lí lẽ, bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới
- Văn bản nghị luận là kiểu văn bản có mục đích. xác lập cho người đọc người nghe 1 tư tương, 1 quan điểm nào đó
- Văn bản nghị luận bao giờ cũng có đề tài nghị luận, luận điểm phải hướng tới giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống thì mới có ý nghĩa và phương pháp lập luận
- Các phương pháp lập luận gồm:
Văn bản thông tin
-Tập 1: Giới thiệu về những truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam
-Tập 2: Giới thiệu những đặc điểm về phương tiện giao thông và tình hình giao thông ở các vùng miền
Cách nhận diện dấu hiệu và đặc điểm của nghị luận trong văn bản tự sự và văn bản nghị luận
+ Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại, trong đó người viết nêu lên những nhận xét, phán đoán, lí lẽ nhằm thuyết phục người nghe, người đọc về một vấn đề, một quan điểm, tư tưởng... nào đó.
+ Trong văn bản nghị luận, người viết ít dùng câu văn miêu tả, câu trần thuật mà thường dùng câu khẳng định, câu phủ định, câu ghép có cặp từ hô ứng: nếu... thì; không những... mà còn; càng.... càng; Vì thế.... cho nên...Trong văn nghị luận người viết thường dùng các từ lập luận: tại sao, thật vậy, tuy thế, trước hết,...
+Trong văn bản tự sự, để người đọc (người nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết (người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến, nhận xét, cùng những lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện mang tính triết lí.
tham khảo
Khi nhắc đến văn chương đã có biết bao nhiêu công trình nghiên cứu, định nghĩa, xác định công dụng chức năng của nó đối với đời sống của con người chúng ta. Một trong những bài nghiên cứu ấy phải nói đến “Ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh. Trong bài viết, những luận điểm rõ ràng về nguồn gốc cũng như chức năng của văn chương sẽ khiến cho chúng ta hiểu sâu hơn về ý nghĩa của nó.
Thứ nhất, tác giả đề cập về nguồn gốc của văn chương. Bằng việc dẫn ra một câu chuyện Ấn Độ, nhà nghiên cứu nhận định đó là nguồn gốc của văn chương. Theo đó, nguồn gốc văn chương xuất hiện khi con người có cảm xúc mãnh liệt trước một hiện tượng đời sống nào đó. Văn chương là niềm xót thương của con người trước những điều đáng thương. Có thể nói nguồn gốc văn chương chính là lòng yêu thương. Vậy văn chương bắt nguồn từ đâu?. Theo Hoài Thanh văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động hàng ngày từ những bài ca dao về “Trâu ơi ta bảo trâu này…” cho đến những tác phẩm lớn. Không những thế văn chương còn bắt nguồn từ cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và chống giặc ngoại xâm. Hơn nữa, văn chương còn bắt nguồn bởi những văn hóa, lễ hội truyền thống. Tóm lại văn chương có nguồn gốc từ tình yêu thương của con người đối với cuộc sống. Hoài Thanh đã thật khéo léo khi biến bài nghị luận trở thành một bài văn giàu sức thuyết phục mà vô cùng hấp dẫn. Cách dẫn vào vấn đề của tác giả vô cùng tự nhiên.
Thứ hai, tác giả đề cập đến công dụng và nhiệm vụ của văn chương đối với đời sống con người. Về nhiệm vụ của văn chương Hoài Thanh chỉ ra rằng, văn chương phản ánh hiện thực và sáng tạo hiện thực. Từ hình ảnh chú bé Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu cho đến cánh cò trong ca dao đều phản ánh hiện thực đời sống. Từ truyện Thạch Sanh cho đến truyện Cây bút thần đều phản ánh ước mơ công lý, cải tạo hiện thực đời sống cho người lao động. Về công dụng của văn chương, Hoài Thanh chỉ ra rằng văn chương giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha; văn chương gây cho ta những tình cảm không có và luyện cho ta những tình cảm sẵn có. Để chứng minh cho điều này, tác giả dẫn ra hai câu chuyện Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài và Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài. Nhà phê bình thật đúng khi nhận định rằng “Một người hàng ngày chỉ lo cặm cụi vì mình, thế mà khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui, mừng, buồn, giận cùng với những người ở đâu đâu…hay sao”.
Tóm lại, qua bài viết của nhà phê bình Hoài Thanh ta có thể hiểu rõ về ý nghĩa của văn chương. Nguồn gốc của văn chương chính là lòng thương mến, công dụng của văn chương là gợi lòng vị tha và rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp. Nhiệm vụ của văn chương là phản ánh hiện thực và sáng tạo hiện thực.
Đặc điểm | Văn bản nghị luận về một kịch bản văn học: | Văn bản nghị luận về một tác phẩm phim truyện: |
Giống nhau | Nội dung và hình thức của 1 kịch bản văn học hoặc một tác phẩm phim truyện đều có nhiều khía cạnh, vấn đề có thể gợi lên một hay nhiều vấn đề cần bàn luận. | |
Khác nhau | Nội dung chính: xung đột bi kịch và hành động trong bi kịch. Từ xung đột, cốt truyện và hành động của các nhân vật chính → Gửi gắm thông điệp về xã hội, vấn đề. | Nội dung chính thể hiện qua hình ảnh và hành động của nhân vật vì vậy ít chi tiết hơn là ngôn ngữ trong kịch. |
c) Yếu tố nào không thuộc đặc trưng của văn bản nghị luận
A. Luận điểm
B. Luận cứ
C. Phương pháp, lập luận
D. Hình ảnh, cảm xúc
d)Viết tiếp vào chỗ trống đặc điểm của văn bản ghị luận
- Văn bản nghị luận là kiểu văn bản có mục đích xác lập cho người đọc , người nghe một tư tưởng , quan điểm nào đó
- Văn bản nghị luận bao giờ cũng có đề tài nghị luận, luận điểm , luận cứ và phương pháp lập luận
- Các phương pháp lập luận gồm: những lí lẽ , bằng chứng chân thực , đã đc thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới .
Trong cuộc sống chúng ta, chỉ vì tính kiêu ngạo mà nhiều người đã phải chịu hậu quả là thất bại đắng cay. Chúng ta cứ nghĩ ta là nhất, là đầu, nhưng tất cả chỉ là sự tự mãn mà thôi. Ông cha ta đã khuyên chúng ta không được tự kiêu, tự đại quá trớn, quá mức qua câu: "Chớ nên tự phụ".
Tự phụ là tự kiêu, tự đại, tự đắc, đánh giá một cách thái quá về bản thân mình trước người khác. Tự phụ là thiếu tôn trọng người khác, không xem ai ra gì cả. Như vậy lời khuyên nhẹ nhàng mà thấm thía: chúng ta không nên kiêu căng, tự mãn để rồi sẽ làm hại, làm tổn thương chính bản thân mình.
"Chớ nên tự phụ" là kiến hoàn toàn đúng vì tự phụ là một thói xấu của con người mà ai cũng cần tránh. Tự phụ là một thói quen xấu khá phổ biến trong xã hội. Người tự phụ luôn đề cao quá mức về bản thân mình mà không coi ai ra gì cả. Có nhiều người làm ở công ty, công sở nhưng lúc nào cũng tỏ ra là mình thông minh mà thực chất lại không được như thế. Họ luôn khinh thường người dưới để rồi khi được giao nhiệm vụ quan trọng, họ đã thất bại, làm uy tín của công ty giảm sút chỉ vì tính tự phụ cá nhân của họ. Người tự phụ sẽ khiến mọi người xa lánh, không muốn gần gũi, gắn bó và vì thế họ không hợp tác được với người khác trong công việc bởi một điều tự nhiên người khác nghĩ rằng khi bạn kiêu ngạo thì bạn sẽ chẳng cần biết cần nghe ai nói gì và luôn cho là mình đúng.
Người tự phụ sẽ không bao giờ có thể bước tới đỉnh vinh quang của thành công. Trong câu chuyện "Ếch ngồi đáy giếng", chỉ vì tự kiêu luôn cho mình là nhất, là chúa mà khi được ra ngoài giếng, ếch ta không chịu thích nghi với môi trường, vẫn huyênh hoang, tự đắc mà nó đã phải nhận sự trả giá bằng chính cái chết của mình. Bởi vậy nếu ai kia quá tự phụ như con ếch trong truyện thì hậu quả xảy ra với sự tự phụ ấy chính là một cái kết thúc đầy thảm bại.
Chúng ta tồn tại tính tự phụ bởi quá kiêu căng, tự mãn, lúc nào cũng cho mình là nhất mà không chịu học hỏi, khiêm tốn trước người khác. Chỉ vì nghĩ rằng mình là nhất và họ vô tình không tôn trọng người khác dù có thể đó là đàn anh, đàn chị của chính mình. Lời khuyên trên đầy chí lí, chí tình giúp thuyết phục con người: tự phụ là thói xấu, cần phải tránh. Chúng ta phải sống khiêm tốn, hòa nhã với mọi người, không được đánh giá mình quá cao, vượt mức giới hạn trước người khác nếu không sẽ chuốc lấy hậu quả khó lường.
Càng nghĩ tôi lại càng trách mình. Có đôi lúc tôi đã tỏ ra kiêu căng trước mặt bạn bè mà tôi không hề biết để rồi tôi đã nhiều lần mà vô tình suýt đánh mất tình bạn đẹp của mình. Các bạn ơi đừng ai như tôi nhé, tự phụ không hề giúp chúng ta tiến bộ mà nó còn vô tình tự đánh mất những tình cảm đẹp trong cuộc đời ta.
Lời khuyên, lời nhắn nhủ chân tình và sâu sắc biết bao. Chắc hẳn khi hiểu được lời nhắn nhủ này, nhiều người sẽ tự nhìn lại mình để thay đổi bản thân và có lẽ sẽ tự nhủ lòng mình sẽ không bao giờ là người tự phụ dù đôi lúc chỉ là vô tình.
Câu 1 (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về nhân vật người tiêu phu trong đoạn trích sau: Trong đoạn trích, nhân vật người tiêu phu là một hình ảnh đầy ấn tượng, đại diện cho sự vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng thể hiện sự kiên cường và nghị lực sống phi thường. Cô bé trong đoạn trích dù phải di chuyển khó khăn bằng đôi nạng gỗ, nhưng vẫn luôn nở nụ cười tươi, không để hoàn cảnh ngăn cản cuộc sống của mình. Cậu bé giúp mẹ bán hàng mặc dù không thể nói nhưng vẫn tươi cười, thể hiện sự lạc quan dù gặp phải khiếm khuyết. Cậu bé khác không thể nghe được lời nói nhưng vẫn vui vẻ nhìn các bạn chơi đùa, thể hiện sự hòa nhập và niềm vui từ những điều giản dị. Các nhân vật này tuy mang trong mình những khiếm khuyết về thể chất, nhưng họ không để mình trở thành nạn nhân của số phận, ngược lại họ luôn sống lạc quan và yêu đời. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh giá trị của sức mạnh tinh thần, tinh thần kiên cường và lòng yêu đời dù trong hoàn cảnh khó khăn. Các nhân vật này đã giúp tác giả nhận ra giá trị của bản thân và những gì mình có. Câu 2 (4,0 điểm) Trong cuộc sống không phải ai cũng hiểu biết về chính bản thân mình trên các phương diện. Tự nhận thức về bản thân có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định cách sống, hành động và sự thành công. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc tự nhận thức bản thân của giới trẻ ngày nay. Bài viết tham khảo: Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc tự nhận thức về bản thân là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là giới trẻ. Tự nhận thức không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về những ưu điểm và nhược điểm của bản thân, mà còn giúp định hướng tương lai và hành động một cách đúng đắn. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, sự hiểu biết về bản thân càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, tự nhận thức giúp chúng ta biết được khả năng, sở thích và mục tiêu sống của mình. Khi hiểu rõ bản thân, giới trẻ có thể lựa chọn được con đường phù hợp với sở thích và năng lực, thay vì chạy theo xu hướng hay những quyết định sai lầm do ảnh hưởng từ người khác. Việc nhận thức rõ về bản thân còn giúp mỗi người có thể đối mặt với thất bại, chấp nhận những thử thách và không bị lạc lối trong những cám dỗ tạm thời của cuộc sống. Thứ hai, tự nhận thức giúp chúng ta xây dựng những mối quan hệ lành mạnh với những người xung quanh. Khi hiểu mình, chúng ta có thể giao tiếp và ứng xử một cách phù hợp, thể hiện sự tôn trọng với những giá trị khác biệt của người khác mà không bị áp lực xã hội. Những mối quan hệ tốt đẹp sẽ là yếu tố quan trọng giúp giới trẻ phát triển trong công việc và cuộc sống. Cuối cùng, việc tự nhận thức bản thân giúp giới trẻ có thể định hình được mục tiêu sống rõ ràng và quyết đoán. Một người có thể sống và hành động có mục đích sẽ không dễ bị lung lay bởi những tác động bên ngoài. Họ sẽ hiểu rằng sự thành công không đến từ những lối tắt, mà là từ sự nỗ lực bền bỉ và kiên trì, luôn giữ vững niềm tin vào bản thân. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể dễ dàng tự nhận thức về bản thân, đặc biệt là trong môi trường xã hội hiện nay với rất nhiều sự so sánh và áp lực. Vì vậy, giới trẻ cần phải học cách lắng nghe bản thân, chấp nhận sự khác biệt, và đôi khi là sự sai lầm trong hành trình phát triển bản thân. Bởi vì, tự nhận thức không phải là một kết quả cuối cùng, mà là một quá trình học hỏi và hoàn thiện bản thân không ngừng nghỉ. Tóm lại, tự nhận thức về bản thân đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển cá nhân và xây dựng một cuộc sống ý nghĩa. Giới trẻ ngày nay cần nhận thức được giá trị của việc này và không ngừng nỗ lực để hiểu rõ bản thân, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn, không bị lạc lõng trong thế giới đầy thay đổi.
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) (NGUYỄN DUY THỊ)
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình trong đoạn văn bản trên.
Nhân vật trữ tình là "tôi", thể hiện những cảm xúc về tình yêu đối với đất nước, về những người đã sống gắn bó với đất nước.
Câu 2: Liệt kê một số từ ngữ về hình ảnh đất nước trong quan niệm của “những thằng con trai mười tám tuổi” được nói đến trong văn bản.
Một số từ ngữ về hình ảnh đất nước:
"Đất nước là nhịp tim có thể thở thường"
"Là mùi mờ hồi thật thà của lính"
"Đất nước đẹp mênh mang"
"Đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt"
Câu 3: “Người” mà tác giả nhắc đến trong câu thơ cuối là Đất nước. “Người” được viết hoa trang trọng như vậy có ý nghĩa như thế nào?
Từ "Người" viết hoa trang trọng thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với đất nước, là cách tác giả thể hiện sự gần gũi, thân thiết và sự thiêng liêng của Tổ quốc.
Câu 4: Hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong đoạn trích trên.
Tình cảm của tác giả đối với đất nước rất sâu sắc và thiêng liêng. Qua những hình ảnh gần gũi, đầy sức sống, tác giả bày tỏ sự yêu mến vô bờ đối với đất nước, coi đất nước như một phần máu thịt của mình. Tình cảm này được thể hiện bằng những từ ngữ giản dị nhưng đầy cảm động và mạnh mẽ.
Câu 5: Qua văn bản, hãy chia sẻ những điều thế hệ trẻ cần làm để khẳng định trách nhiệm của tuổi trẻ đối với non sông đất nước.
Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ và phát triển đất nước. Họ cần học hỏi, cống hiến, xây dựng đất nước bằng trí thức, sức lực và lòng yêu nước, tạo ra những đóng góp to lớn cho sự phát triển bền vững của đất nước.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1:
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về nhân vật người tiêu phu trong đoạn trích sau:
Đoạn văn nghị luận:
Đoạn trích đã miêu tả người tiêu phu với hình ảnh vất vả, cuộc sống lam lũ. Cảnh vật xung quanh như những ngọn núi cao vút, đất đai khô cằn không che chở, nhưng người tiêu phu vẫn kiên cường sống, làm việc để mưu sinh. Dù có những khó khăn không thể vượt qua, họ vẫn không ngừng gắng gỏi trong cuộc sống. Qua đó, tác giả muốn khắc họa sự kiên cường, bất khuất của những con người lam lũ, nghèo khó nhưng có tinh thần vươn lên mạnh mẽ, dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu. Họ là những nhân vật tiêu biểu cho tầng lớp lao động bình dị nhưng vô cùng đáng trân trọng.