K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 5 2025

Các bước thực hiện động tác vươn thở

  1. Tư thế chuẩn bị:
    • Đứng thẳng, hai chân mở rộng bằng vai, hai tay buông xuôi tự nhiên theo thân người.
  2. Bước 1:
    • Hít sâu, đồng thời đưa hai tay lên cao qua đầu, lòng bàn tay hướng vào nhau hoặc hướng ra phía trước.
  3. Bước 2:
    • Vươn người lên cao hết mức, có thể kiễng chân lên (nếu yêu cầu), giữ tư thế trong 1-2 giây.
  4. Bước 3:
    • Thở ra, đồng thời hạ hai tay xuống, trở về tư thế ban đầu.
  5. Lặp lại động tác theo nhịp hướng dẫn (thường 2-4 lần).

Lưu ý khi thực hiện:

  • Khi đưa tay lên thì hít vào, khi hạ tay xuống thì thở ra.
  • Động tác thực hiện nhẹ nhàng, nhịp nhàng, không gắng sức.
  • Giữ lưng thẳng, mắt nhìn thẳng về phía trước.


22 tháng 5 2025

Gọi giá ban đầu của một cái bàn là là x(nghìn đồng)

(ĐIều kiện: x>0; x<900)

Giá ban đầu của một cái quạt điện là 900-x(nghìn đồng)

Giá của một cái bàn là sau khi giảm giá là:

\(x\left(1-15\%\right)=0,85x\) (nghìn đồng)

Giá của một cái quạt điện sau khi giảm giá là:

\(\left(900-x\right)\left(1-25\%\right)=0,75\left(900-x\right)=675-0,75x\) (nghìn đồng)

Tổng số tiền phải trả là 900-135=765 nghìn đồng nên ta có:

675-0,75x+0,85x=765

=>675+0,1x=765

=>0,1x=765-675=90

=>x=900(loại)

=>Đề sai rồi bạn

Câu 1. (2.0 điểm) Mark Twain từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.”. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:   ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Mark Twain từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.”. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên. 

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:

     [Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].

     Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.

     Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

     - Con đã về đấy ư?

     - Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? - Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được.

     - Bà ở đây một mình thôi à?

     Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:

     - Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.

     - Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? - Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.

     - Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.

     Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:

     - Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. - Bà cụ yên lặng một lát.

     - Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.

     Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.

     Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:

     - Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?

     Tâm nhìn ra ngoài đáp:

     - Như thường rồi. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:

     - Ở làng có việc gì lạ không? - Bà cụ trả lời:

     - Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. […]

     Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ. Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy.

     Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:

     - Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.

     - Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm. - Tâm lại an ủi:

     - Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.

     Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:

     - Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho. - Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.

     Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. […] Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận.

                            (Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2004, tr.24-27.)

* Chú thích:

- Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam.

- Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.

20
31 tháng 3

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Câu nói của Mark Twain gợi ra một triết lí sống sâu sắc: con người thường hối tiếc không phải vì những điều đã làm, mà vì những cơ hội đã bỏ lỡ. Trong cuộc sống, “bến đỗ an toàn” tượng trưng cho sự quen thuộc, ổn định nhưng cũng dễ khiến ta trì trệ, ngại thay đổi. Nếu chỉ mãi ở trong vùng an toàn, con người sẽ không khám phá được khả năng của bản thân, không dám thử sức với những điều mới mẻ và vì thế đánh mất nhiều cơ hội quý giá. Tuổi trẻ là quãng thời gian thích hợp nhất để “tháo dây, nhổ neo”, dám nghĩ, dám làm và dám thất bại. Thất bại không đáng sợ, bởi nó mang lại bài học và trải nghiệm, giúp ta trưởng thành hơn. Ngược lại, sự do dự, sợ hãi mới là điều khiến ta nuối tiếc lâu dài. Tuy nhiên, dám bước ra không có nghĩa là hành động mù quáng, mà cần có mục tiêu, suy nghĩ chín chắn. Như vậy, câu nói khuyến khích mỗi người sống chủ động, mạnh dạn theo đuổi ước mơ để sau này không phải tiếc nuối vì những điều mình chưa từng thử.



Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Trong đoạn trích truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp cảm động, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn giàu tình yêu thương và đức hi sinh.


Trước hết, người mẹ là hiện thân của sự tần tảo, lam lũ. Dù thời gian trôi qua, cuộc sống vẫn nghèo khó, bà “vẫn mặc cái bộ áo cũ kĩ”, sống trong ngôi nhà xơ xác, thấp bé. Chi tiết ấy cho thấy cuộc đời vất vả, thiếu thốn nhưng bà vẫn chấp nhận, âm thầm chịu đựng để nuôi con khôn lớn. Sự hi sinh của bà không chỉ ở vật chất mà còn ở tinh thần: sống cô đơn, chỉ có “con Trinh” làm bạn, nhưng vẫn luôn hướng về con trai nơi thành phố.


Bên cạnh đó, người mẹ còn là biểu tượng của tình yêu thương con vô bờ bến. Khi gặp lại con sau nhiều năm xa cách, bà “ứa nước mắt”, xúc động không nói nên lời. Những câu hỏi dồn dập, sự quan tâm ân cần về sức khỏe, công việc của con cho thấy nỗi nhớ thương và lo lắng luôn thường trực trong lòng bà. Dù con vô tâm, lạnh nhạt, bà vẫn không trách móc mà chỉ lặng lẽ yêu thương. Ngay cả khi nhận tiền từ con, bà “run run đỡ lấy”, “rơm rớm nước mắt” – đó không phải niềm vui vì tiền bạc mà là nỗi tủi thân xen lẫn tình thương con sâu sắc.Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.


Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.

31 tháng 3

Trong dòng chảy của văn học, hình ảnh người mẹ luôn là biểu tượng của sự hy sinh và lòng vị tha vô bờ bến. Qua đoạn trích về nhân vật Tâm, hình ảnh người mẹ hiện lên tuy gián tiếp và qua những chi tiết nhỏ nhưng lại gây xúc động sâu sắc về tình mẫu tử đơn phương, lặng lẽ. Trước hết, người mẹ hiện lên với vẻ đẹp của sự tần tảo và đức hy sinh. Tác giả giới thiệu bà đã "tần tảo sớm khuya nuôi dạy [Tâm] nên người". Cả cuộc đời bà là một sự hy sinh thầm lặng, dồn hết tâm sức để con có cơ hội ra thành phố học tập và làm việc. Sự hy sinh ấy không mong cầu đền đáp, chỉ mong con được thành danh, thoát khỏi cảnh nghèo khó nơi quê nhà. Thứ hai, người mẹ là hiện thân của sự chờ đợi và lòng vị tha nhẫn nại. Suốt sáu năm con đi biệt tích, chỉ gửi tiền mà không một lời hỏi thăm, không báo tin cưới vợ, thậm chí ngó lơ những bức thư mẹ gửi, người mẹ vẫn kiên trì giữ sợi dây liên lạc. Những "bức thư mẹ gửi từ quê ra" chính là những nhịp cầu yêu thương bị đứt đoạn từ một phía. Sự im lặng của Tâm đối lập gay gắt với sự trông ngóng của mẹ, làm nổi bật một tình yêu thương vô điều kiện. Mẹ không trách móc, không đòi hỏi, chỉ lặng lẽ dõi theo con qua những cánh thư không có hồi đáp. Cuối cùng, hình ảnh người mẹ gắn liền với sự khắc khổ và cảnh nghèo bền bỉ. Khi Tâm trở về, hình ảnh ngôi nhà "sụp thấp hơn một chút", "mái gianh xơ xác hơn" chính là hình ảnh phản chiếu sự già nua, héo hắt của người mẹ. Ngôi nhà cũ vẫn thế, như lòng mẹ vẫn mãi vẹn nguyên, nhưng dấu vết thời gian và sự cô đơn đã hằn lên mái gianh, lên không gian tĩnh mịch "bốn bề yên lặng". Người mẹ ấy đã dành cả đời để giữ gìn "cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ" như một nơi trú ẩn cuối cùng chờ đón đứa con trở về. Kết bài: Nhân vật người mẹ trong đoạn trích không xuất hiện bằng lời thoại hay hành động trực tiếp, nhưng qua bối cảnh và thái độ của nhân vật Tâm, ta thấy hiện lên một chân dung mẫu mực của người phụ nữ Việt Nam: hy sinh, chịu đựng và bao dung đến tận cùng. Hình tượng này cũng là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo làm con và sự thức tỉnh trước những giá trị gia đình thiêng liêng.








Câu nói của Mark Twain là một thông điệp mạnh mẽ về tinh thần dấn thân và lòng can đảm. "Bến đỗ an toàn" chính là vùng thoải mái, nơi ta cảm thấy yên ổn nhưng cũng là nơi kìm hãm sự phát triển. Mark Twain muốn nhắc nhở rằng nỗi đau lớn nhất của con người trong tương lai không phải là những thất bại từ việc đã thử, mà là sự nuối tiếc vì đã bỏ lỡ những cơ hội do nỗi sợ hãi. Việc "tháo dây, nhổ neo" tượng trưng cho hành động quyết đoán, sẵn sàng đối mặt với sóng gió để khám phá những "đại dương" tri thức và trải nghiệm mới. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, chúng ta không chỉ có cơ hội đạt được thành công mà còn khám phá ra những giới hạn mới của bản thân. Ngược lại, nếu mãi đắm mình trong sự an phận, cuộc đời sẽ trở nên tẻ nhạt và ta sẽ lỗi nhịp với dòng chảy của thế giới. Tất nhiên, dấn thân không đồng nghĩa với liều lĩnh mù quáng, mà cần sự chuẩn bị và bản lĩnh. Hãy sống một cuộc đời rực rỡ để sau này nhìn lại, chúng ta có thể mỉm cười vì đã sống hết mình thay vì thở dài vì hai chữ "giá như".

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:       Bạn có từng đôi lần như thế?      Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?      Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

     Bạn có từng đôi lần như thế?

     Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?

     Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy? Như dòng sông muộn phiền quanh vách núi?

     Như chính cái đầm lầy?

     Như cái hồ dài kì dị sống đời thực vật?

     Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng. Còn gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền. Khước từ trải nghiệm. Khước từ nắng gió. Khước từ đi tới. Khước từ sự vận động.

     Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi. Như dòng sông tha thiết trôi.

(Trích Ngày trong sương mù - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.38)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Chỉ ra hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích. 

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về “tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.”?

Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học nào? Vì sao?

24
31 tháng 3

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm).

Câu 2.

Hai lối sống được nêu trong đoạn trích:

Lối sống thụ động, trì trệ, ngại vận động, thu mình trong vùng an toàn.

Lối sống chủ động, dám trải nghiệm, luôn vận động và hướng tới những điều lớn lao.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là so sánh (“Sông như đời người”, “tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng”).

Tác dụng:

Làm cho ý tưởng trở nên sinh động, dễ hiểu.

Nhấn mạnh quy luật: cũng như dòng sông phải chảy ra biển, con người – đặc biệt là tuổi trẻ – cần vận động, trải nghiệm và phát triển.

Gợi suy ngẫm sâu sắc về lẽ sống, khơi dậy ý chí vươn lên.

Câu 4.

“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là tiếng gọi thôi thúc từ bên trong mỗi con người:

Kêu gọi ta không được đứng yên, không sống thụ động.

Thúc đẩy ta bước đi, trải nghiệm, vượt qua giới hạn của bản thân.

→ Đó chính là tiếng gọi của khát vọng sống, khát vọng vươn ra thế giới rộng lớn.

Câu 5.

Bài học rút ra:

Mỗi người, đặc biệt là tuổi trẻ, cần sống chủ động, không ngại khó khăn, dám trải nghiệm và không tự giam mình trong vùng an toàn.

Vì:

Nếu sống thụ động, con người sẽ trở nên trì trệ, mất cơ hội phát triển.

Ngược lại, khi dám bước đi và trải nghiệm, ta sẽ trưởng thành, hiểu bản thân và chạm tới những giá trị lớn hơn trong cuộc sống.

Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự bao dung và vị tha. Trước thái độ hờ hững, dửng dưng của Tâm, bà vẫn cố gắng níu giữ con bằng lời mời “ở đây ăn cơm đã”, mong có thêm chút thời gian sum họp. Dù bị tổn thương, bà không hề oán trách mà chỉ âm thầm chấp nhận. Chính sự im lặng ấy lại càng làm nổi bật nỗi đau và tình mẫu tử thiêng liêng.


Qua hình tượng người mẹ, nhà văn đã bày tỏ niềm xót thương đối với những người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự vô tâm, ích kỉ của những người con như Tâm. Nhân vật người mẹ không chỉ khiến người đọc xúc động mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng tình thân, sống có trách nhiệm và yêu thương gia đình.

31 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận (kết hợp với yếu tố biểu cảm). Tác giả đưa ra những suy ngẫm, quan điểm về cách sống và thái độ sống của con người. Câu 2: Hai lối sống được nêu trong đoạn trích Dựa trên ngữ cảnh của tác phẩm, hai lối sống mà con người từng trải qua là: Lối sống tĩnh tại, ngại thay đổi (khước từ sự vận động): Trạng thái muốn dừng lại, không muốn nỗ lực hay đối mặt với thử thách. Lối sống vận động, dấn thân: Trạng thái luôn tiến về phía trước, hành động và cống hiến giống như dòng sông phải chảy ra biển lớn. Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ Trong đoạn: "Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng." Biện pháp tu từ: So sánh (Sông như đời người; Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng). Tác dụng: Về nội dung: Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình gợi cảm. Khẳng định một quy luật tất yếu: đời người cũng như dòng sông, bản chất là sự vận động không ngừng. Tuổi trẻ cần phải có khát vọng, hoài bão và dám dấn thân vào "biển rộng" của cuộc đời để khẳng định giá trị bản thân. Về tư tưởng: Khích lệ thái độ sống tích cực, chủ động và đầy nhiệt huyết của mỗi cá nhân. Câu 4: Cách hiểu về cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi" Cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi" có thể được hiểu là: Tiếng gọi của bản năng và sứ mệnh: Đó là sự thúc giục từ bên trong tâm hồn mỗi người, nhắc nhở chúng ta không được lười biếng hay gục ngã. Khát vọng vươn tới: Là động lực thôi thúc con người vượt qua những khó khăn, trở ngại thường nhật để tiếp tục hành trình đi tới tương lai, đi tới những đích đến cao đẹp hơn trong cuộc sống. Câu 5: Bài học rút ra và giải thích Bài học: Đừng bao giờ dừng lại hay từ bỏ việc nỗ lực; hãy luôn giữ cho mình một tinh thần vận động và khát vọng cống hiến. Vì sao: Bởi vì cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta vận động. Sự dừng lại đồng nghĩa với sự trì trệ và lụi tàn. Giống như dòng sông nếu không chảy sẽ trở thành mặt hồ tĩnh lặng và dần cạn kiệt, con người nếu không bước đi sẽ không bao giờ nhìn thấy được sự bao la của "biển lớn" tri thức và trải nghiệm. Ghi

20 tháng 3 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!


Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.   Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.    CHUYỆN CỦA MẸ                      Nguyễn Ba    mẹ có năm lần chia li    chồng mẹ ra đi    rồi hóa thành ngàn lau    bời bời nơi địa đầu Tây Bắc  ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.  

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

   CHUYỆN CỦA MẸ

                     Nguyễn Ba

   mẹ có năm lần chia li

   chồng mẹ ra đi
   rồi hóa thành ngàn lau
   bời bời nơi địa đầu Tây Bắc

   đứa trai đầu
   đã thành con sóng nát
   trên dòng Thạch Hãn
   hoàng hôn buông lại táp đỏ trời

   đứa trai thứ hai
   đã băng hết Trường Sơn
   chết gần sát Sài Gòn
   thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc

   chị gái trước tôi
   là dân công hoả tuyến
   dầm suối làm cây mốc sống
   dẫn xe bộ đội lội ngầm
   tuổi thanh xuân nhiều mộng mơ của chị
   xanh vào vời vợi trong xanh

   tôi là mỏi mòn chờ đợi thứ năm
   may mắn được trở về bên mẹ
   tôi đi về bằng đôi mông đít
   chân của tôi
   đồng đội chôn trên đồi đất Vị Xuyên

   đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc
   dù về sau đôi mắt bị loà
   mẹ thương tôi không có đàn bà
   mẹ lo mẹ chết đi
   ai người nước nôi, cơm cháo
   căn nhà tình nghĩa này
   có đủ vững vàng mưa bão
   đèn, lửa xóm giềng
   chẳng ấm nỗi gối chăn

   tôi gắng đùa vui
   mong mẹ chút yên lòng
   mẹ yêu của con ơi
   không chỉ là mẹ của con
   mẹ đã là
   mẹ của non sông đất nước
   cháu chắt của mẹ giờ líu lo
   khắp ba miền Trung, Nam, Bắc
   anh em của con tấp nập mọi miền
   dân tộc mình
   tồn tại đến giờ
   nhờ đùm bọc, yêu thương

   móm mém mẹ cười
   khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương...

                                   1-2021

6
31 tháng 3

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng để mỗi người trưởng thành và sống ý nghĩa hơn. Khi hiểu rõ bản thân, ta biết mình là ai, điểm mạnh – điểm yếu ở đâu, từ đó có thể lựa chọn con đường phù hợp. Nhiều người trẻ thường chạy theo kỳ vọng của người khác mà quên lắng nghe chính mình, dẫn đến cảm giác mơ hồ, mất phương hướng. Thực tế, thấu hiểu bản thân không phải là điều dễ dàng, bởi nó đòi hỏi sự trung thực và dũng cảm nhìn nhận cả những thiếu sót của mình. Khi hiểu mình, ta sẽ tự tin hơn trong quyết định, biết kiểm soát cảm xúc và tránh bị cuốn theo những áp lực bên ngoài. Đồng thời, việc này còn giúp ta xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp hơn, vì khi hiểu mình, ta cũng dễ cảm thông với người khác. Tuy nhiên, thấu hiểu bản thân không có nghĩa là tự mãn hay khép kín, mà cần không ngừng học hỏi, thay đổi để hoàn thiện. Có thể nói, hiểu mình chính là chìa khóa để sống đúng với giá trị của bản thân và hướng tới một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn hơn.



Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Bài thơ Chuyện của mẹ của Nguyễn Ba là khúc ca xúc động về hình tượng người mẹ Việt Nam trong chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi đau mất mát và vẻ đẹp hi sinh cao cả.


Về nội dung, trước hết, bài thơ khắc họa số phận đầy bi kịch của người mẹ với “năm lần chia li”. Chồng và các con lần lượt ra đi, hóa thân vào đất nước: người thành “ngàn lau” nơi Tây Bắc, người hóa “con sóng nát” trên dòng Thạch Hãn, người nằm lại ở Xuân Lộc. Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, vừa mang tính biểu tượng, cho thấy sự hi sinh to lớn của cả một thế hệ trong chiến tranh. Không chỉ mất mát về người thân, người mẹ còn phải chịu đựng nỗi cô đơn, đau đớn kéo dài theo năm tháng.


Bên cạnh đó, bài thơ còn làm nổi bật tình mẫu tử sâu nặng. Dù đã trải qua quá nhiều mất mát, mẹ vẫn âm thầm yêu thương, lo lắng cho người con còn sống. Hình ảnh “đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc” hay nỗi lo “ai người nước nôi, cơm cháo” thể hiện tình thương giản dị mà thấm thía. Đó là tình cảm rất đỗi đời thường nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ.


31 tháng 3

Thấu hiểu chính mình là chìa khóa quan trọng nhất để mở ra cánh cửa của hạnh phúc và thành công. Đó là quá trình chúng ta tự quan sát, lắng nghe và nhận thức rõ ràng về những ưu điểm, khuyết điểm, đam mê cũng như những giới hạn của bản thân. Khi thấu hiểu chính mình, ta không còn bị cuốn theo những kỳ vọng của người khác hay những trào lưu nhất thời của xã hội. Ta biết mình thực sự muốn gì, từ đó xác định được mục tiêu sống đúng đắn và kiên định với con đường đã chọn. Hơn nữa, việc hiểu rõ nội tâm giúp ta dễ dàng kiểm soát cảm ứng, tự chữa lành những tổn thương và xây dựng lòng tự tin vững chắc. Nếu không hiểu mình, con người dễ rơi vào trạng thái hoang mang, lạc lối và luôn cảm thấy trống rỗng dù có đạt được những thành tựu bên ngoài. Tuy nhiên, thấu hiểu bản thân không phải là một đích đến mà là một hành trình dài đòi hỏi sự trung thực và lòng can đảm để đối diện với cả những mảng tối trong tâm hồn. Hãy dành thời gian tĩnh lặng để kết nối với chính mình, bởi lẽ "biết người là thông minh, biết mình là trí tuệ".








Trong hành trình trưởng thành đầy biến động, nếu có một hành trang quý giá nhất mà mỗi người trẻ cần mang theo, đó chắc chắn không phải là tiền bạc hay địa vị, mà chính là niềm tin vào bản thân. Giữa một thế giới phẳng với vô vàn cơ hội và cũng không ít áp lực, niềm tin vào chính mình đã trở thành "kim chỉ nam" giúp thế hệ trẻ định vị giá trị và khẳng định bản sắc cá nhân. Niềm tin vào bản thân, hay sự tự tin, không đơn thuần là cảm giác hài lòng về vẻ ngoài hay tài năng sẵn có. Đó là một thái độ sống tích cực, dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về năng lực, sở trường và cả những khiếm khuyết của chính mình. Người có niềm tin vào bản thân là người dám đặt ra mục tiêu và kiên trì theo đuổi, dù biết con đường phía trước đầy rẫy chông gai. Nhìn vào giới trẻ hiện nay, chúng ta thấy một diện mạo đầy khởi sắc của niềm tin. Khác với thế hệ đi trước thường ưu tiên sự ổn định, người trẻ ngày nay dám bứt phá khỏi "vùng an toàn". Chúng ta thấy những bạn trẻ gen Z khởi nghiệp khi còn ngồi trên ghế nhà trường, những nghệ sĩ độc lập kiên trì với dòng nhạc kén người nghe, hay những tình nguyện viên trẻ tuổi dám dấn thân vào những vùng khó khăn. Họ tin rằng mình có thể thay đổi thế giới, hoặc ít nhất là thay đổi cuộc đời mình theo cách mình muốn. Chính niềm tin ấy là nguồn năng lượng khổng lồ, biến những ý tưởng "điên rồ" trên giấy thành những dự án có sức tác động thực tế. Ý nghĩa của niềm tin vào bản thân còn nằm ở sức mạnh chữa lành và vực dậy sau thất bại. Trong thời đại mà mạng xã hội dễ khiến con người rơi vào cái bẫy so sánh "peer pressure" (áp lực đồng trang lứa), niềm tin giúp người trẻ giữ vững lập trường. Khi đứng trước một cánh cửa đóng lại, người tự tin sẽ không dành thời gian để oán trách số phận, họ sẽ tin rằng mình đủ khả năng để tìm thấy một lối đi khác hoặc tự tạo ra một cánh cửa mới cho chính mình. Tuy nhiên, cần phân định rạch ròi giữa niềm tin bản thân và sự tự phụ thái quá. Tự tin phải đi đôi với khiêm tốn và không ngừng học hỏi. Nếu niềm tin không dựa trên thực lực mà chỉ là sự ảo tưởng về sức mạnh cá nhân, nó sẽ biến thành sự kiêu ngạo, dẫn đến những quyết định sai lầm. Ngược lại, sự tự ti – kẻ thù của niềm tin – cũng là một rào cản lớn khiến nhiều bạn trẻ đánh mất cơ hội quý giá chỉ vì câu hỏi: "Liệu mình có làm được không?". Tóm lại, niềm tin vào bản thân không phải là một món quà bẩm sinh, mà là một "cơ bắp" cần được rèn luyện mỗi ngày thông qua trải nghiệm và kiến thức. Mỗi người trẻ hãy như một cái cây, bén rễ thật sâu vào lòng đất của sự hiểu biết để vươn cành thật cao giữa bầu trời của khát vọng. Đừng để tiếng ồn của những ý kiến bên ngoài lấn át tiếng nói bên trong bạn. Hãy tin vào chính mình, bởi nếu bạn không tin vào khả năng của mình, liệu có ai khác dám đặt niềm tin vào bạn?

Câu 1. (2.0 điểm) Trong cuốn Nhà giả kim, Paul Coelho có viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.”. Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.       Bảo kính cảnh giới (Bài 33) Rộng khơi ngại...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Trong cuốn Nhà giả kim, Paul Coelho có viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.”. Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

      Bảo kính cảnh giới (Bài 33)

Rộng khơi ngại vượt bể triều quan(1),

Lui tới đòi thì(2) miễn(3) phận an.

Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày lệ(4) bóng hoa tan.

Đời dùng người có tài Y, Phó(5),

Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan(6).

Kham hạ(7) hiền(8) xưa toan lẩn được,

Ngâm câu:“danh lợi bất như nhàn”

               (Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)

Chú thích:

(1) Triều quan: Quan lớn trong triều đình.

(2) Đòi thì: Từ cổ - thuận ứng với thời thế, thuận theo thời.

(3) Miễn: Chỉ cần.

(4) : Sợ ngại.

(5) Y, Phó: Tức Y Doãn và Phó Duyệt những người có tài bên Trung Quốc.

(6) Khổng, Nhan: Đạo Khổng, đạo Nho.

(7) Kham hạ: Chịu ở dưới, chịu thua, chịu ở địa vị thấp kém.

(8) Hiền: Kẻ sĩ có tài, đức. 

38
10 tháng 4

Câu 2 :

10 tháng 4

Câu 1:

Câu nói của Paul Coelho: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, bởi mỗi con người đều phải trải qua những thử thách, khó khăn trên hành trình trưởng thành. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Đứng dậy sau thất bại giúp con người rút ra bài học, tích lũy kinh nghiệm và trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, ta sẽ không bao giờ đạt được thành công. Trong thực tế, nhiều người nổi tiếng đã từng thất bại nhiều lần trước khi thành công, chính sự kiên trì đã giúp họ chạm tới ước mơ. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện ý chí, không sợ sai, không nản chí trước khó khăn. Câu nói là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải luôn vững vàng, lạc quan và không ngừng cố gắng để vươn tới mục tiêu trong cuộc sống.

Câu 2:

Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tư tưởng sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và đề cao nhân nghĩa của tác giả.

Trước hết, về nội dung, bài thơ mở đầu bằng tâm thế rời bỏ chốn quan trường:

“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,

Lui tới dời thì miễn phận an.”

Nguyễn Trãi chủ động xa lánh chốn quan trường đầy bon chen, chọn cuộc sống ẩn dật để giữ sự bình yên cho tâm hồn. Đây không phải là thái độ trốn tránh mà là sự lựa chọn của một nhân cách lớn, hiểu rõ thời cuộc.

Hai câu tiếp theo khắc họa cuộc sống giản dị mà thanh cao:

“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”

Hình ảnh thiên nhiên tinh tế, giàu chất thơ cho thấy tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên của tác giả.

Ở hai câu luận, Nguyễn Trãi bày tỏ quan niệm về cách dùng người và con đường đạo đức:

“Đời dùng người có tài Y, Phó,

Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”

Ông nhắc đến những bậc hiền tài để khẳng định giá trị của người có đức, có tài, đồng thời giữ vững đạo lý Nho gia trong mọi hoàn cảnh.

Hai câu kết thể hiện triết lí sống sâu sắc:

“Kham hạ hiền xưa toan lấn được,

Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn.”

Tác giả khẳng định danh lợi không bằng cuộc sống nhàn tĩnh, an nhiên. Đây là kết tinh của một nhân sinh quan cao đẹp, đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh giàu tính biểu tượng. Giọng điệu trầm lắng, suy tư giúp thể hiện rõ chiều sâu tư tưởng.

Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh về cuộc sống ẩn dật mà còn là lời khẳng định nhân cách cao quý của Nguyễn Trãi: sống thanh bạch, giữ vững đạo lý và coi nhẹ danh lợi. Đây là bài học ý nghĩa cho mỗi con người trong cuộc sống hôm nay.

24 tháng 5 2025

Dưới đây là lời giải chi tiết cho từng bài:


Bài 1:

Phản ứng:

\(2 A l \left(\right. s \left.\right) + \frac{3}{2} O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow A l_{2} O_{3} \left(\right. s \left.\right) \Delta H = - 1675,7 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

Khối lượng \(A l_{2} O_{3}\) cho: 10,2 gam

Bước 1: Tính số mol Al₂O₃:

  • \(M \left(\right. A l_{2} O_{3} \left.\right) = 2 \times 27 + 3 \times 16 = 102 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)
  • \(n = \frac{10,2}{102} = 0,1 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Dựa vào phản ứng, ta thấy:

  • 1 mol \(A l_{2} O_{3}\) tạo ra → tỏa ra \(1675,7 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

→ 0,1 mol sẽ tỏa ra:

\(Q = 0,1 \times 1675,7 = \boxed{167,57 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


Bài 2:

Phản ứng:

\(S O_{2} \left(\right. g \left.\right) + \frac{1}{2} O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow S O_{3} \left(\right. g \left.\right) \Delta H = - 98,5 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

Cho: \(m_{S O_{2}} = 74,6 \&\text{nbsp};\text{gam}\)

Bước 1: Tính số mol SO₂:

\(M \left(\right. S O_{2} \left.\right) = 32 + 2 \times 16 = 64 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\) \(n = \frac{74,6}{64} = 1,165625 \approx 1,166 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Tính nhiệt lượng tỏa ra:

\(Q = 1,166 \times 98,5 \approx \boxed{114,88 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


Bài 3:

Phản ứng:

\(2 S O_{2} \left(\right. g \left.\right) + O_{2} \left(\right. g \left.\right) \rightarrow 2 S O_{3} \left(\right. g \left.\right) \Delta H = - 197,0 \&\text{nbsp};\text{kJ} \left(\right. \text{g} \overset{ˊ}{\hat{\text{a}}} \text{p}\&\text{nbsp};đ \hat{\text{o}} \text{i}\&\text{nbsp};\text{ph}ả\text{n}\&\text{nbsp};ứ\text{ng}\&\text{nbsp};\text{b} \overset{ˋ}{\text{a}} \text{i}\&\text{nbsp};\text{2} \left.\right)\)

Cho: \(m_{S O_{2}} = 7,68 \&\text{nbsp};\text{gam}\)

Bước 1: Tính số mol SO₂:

\(n = \frac{7,68}{64} = 0,12 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Bước 2: Phản ứng sinh ra bao nhiêu nhiệt?

  • Phản ứng: 2 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra 197,0 kJ
    ⇒ 1 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra \(\frac{197,0}{2} = 98,5 \&\text{nbsp};\text{kJ}\)

⇒ 0,12 mol \(S O_{2}\) → tỏa ra:

\(Q = 0,12 \times 98,5 = \boxed{11,82 \&\text{nbsp};\text{kJ}}\)


✅ Tóm tắt đáp án:

  • Bài 1: 167,57 kJ
  • Bài 2: 114,88 kJ
  • Bài 3: 11,82 kJ (tỏa ra)
27 tháng 1

Trong khổ thơ, biện pháp liệt kê được sử dụng qua hàng loạt hình ảnh như yếm đào, nón quai thao, tay bí tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu. Việc liệt kê những chi tiết quen thuộc trong đời sống lao động đã làm nổi bật hình ảnh người mẹ nông thôn nghèo khó, lam lũ, quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Nhờ đó, vẻ đẹp giản dị, mộc mạc và sự hi sinh thầm lặng của người mẹ được khắc họa rõ nét hơn, đồng thời gợi lên trong lòng người đọc niềm thương yêu, trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với mẹ.

27 tháng 1

Hình ảnh hoa khế trong bài thơ Hoa khế nở của Nguyễn Mỹ mang một ý nghĩa sâu sắc và gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc. Hoa khế không rực rỡ như hoa phượng, không kiêu sa như hoa hồng mà nhỏ bé, mộc mạc, mang màu tím dịu dàng. Chính sự giản dị ấy đã làm nên vẻ đẹp riêng, tượng trưng cho những con người bình thường nhưng giàu tình cảm, đặc biệt là hình ảnh người mẹ, người bà nơi làng quê Việt Nam. Hoa khế gắn liền với vườn nhà, với tuổi thơ, với những kỉ niệm thân thương và yên bình, vì thế nó trở thành biểu tượng của quê hương, của cội nguồn. Trong bài thơ, hoa khế còn gợi lên sự hi sinh thầm lặng. Hoa nở âm thầm, không phô trương nhưng vẫn tỏa hương, giống như những con người lặng lẽ cống hiến cho gia đình và đất nước mà không đòi hỏi được ghi công. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Mỹ thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị bình dị trong cuộc sống, nhắc nhở con người không nên chạy theo những điều hào nhoáng mà quên đi những gì gần gũi, bền lâu. Hình ảnh hoa khế còn mang ý nghĩa về sức sống bền bỉ. Dù trải qua nắng mưa, hoa vẫn nở đúng mùa, nhẹ nhàng mà kiên cường. Điều đó gợi cho em suy nghĩ về con người Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn giữ được tình yêu cuộc sống và niềm tin vào tương lai. Có thể nói, hoa khế trong bài thơ không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà còn là biểu tượng đẹp của quê hương, của con người và những giá trị nhân văn sâu sắc.