K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

7 tháng 1

Hướng dấn dinh dưỡng của vi sinh vật dựa trên nguồn cacbon và nguồn năng lượng:

- Quang tự dưỡng: lấy cacbon từ CO2 và lấy năng lượng từ ánh sáng. Vi dị nhữ bao gồm tảo lam, tảo lục, vi khuẩn lục láy CO2 có diếp.

- Hóa tự dưỡng: lấy cacbon từ CO2 nhưng năng lượng lấy từ sự oxy hóa các chất vô cơ (như NH3, H2S...). Vi dụ như bao gồm vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn lẩu cầu, ...

- Quang dị dưỡng: sử dụng chất hữu cơ làm nguồn cacbon, nhưng năng lượng lấy từ ánh sáng. Ví dụ: một số vi khuẩn tím.

- Hóa dị dượng: vừa lấy cacbon vừa lấy năng lượng từ chất hữu cơ. Đa số vi khuẩn, nấm và động vật vi nhỏ thuộc nhóm này. Ta phân biệt các nhóm này dựa vào nguồn carbon (CO2 hay chất hữu cơ) và nguồn năng lượng (ánh sáng hay phản ứng hóa học).

Phần thí nghiệm trong câu hỏi mô tả quy trình nhuộm vi khuẩn Gram: sử dụng cân iốt, rượu etylic, xanh methylen để nhuộm vi khuẩn.

Kết quả nhuộm giúp phân biệt vi khuẩn Gram dương (màu tím) và Gram âm (màu hồng) dựa trên cấu trúc vách tế bào.

Quy trình này không thể hiện vi khuẩn sinh sản theo kiểu nào. Vi khuẩn thường sinh sản bằng phương thức phân đôi (đối với nhiều loại), ngoài ra còn có nẩy chồi, nẩy bào tử hoặc cải vô tính. Hình vẽ tải phần ba cho thấy tế bào 2n=4 đang ở kỳ giữa của nguyên phân (metaphase). Mỗi nhiễm sắc thể gồm hai crômatit dính nhau, xếp thành mặt phẳng xích đạo. ở kỳ giữa tế bào 2n=4 có 4 nhiễm sắc thể hay 8 crômatit. Nếu tổng cộng thu được 192 nhiễm sắc thể ở kỳ này thì số tế bào đang bị quan sát là 192 : 8 = 24 tế bào. Như vậy có 24 tế bào đang ở kỳ giữa nguyên phân.

Em hoàn toàn đồng ý Vì văn minh Đại Việt chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ nhưng đã tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo theo bản sắc riêng của dân tộc

 Trong chính trị, Đại Việt xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh, kết hợp giữa Nho giáo và tinh thần tự chủ dân tộc

 Trong văn hóa, chữ Hán được sử dụng nhưng người Việt cũng sáng tạo ra chữ Nôm để ghi chép tiếng nói dân tộc

 Các phong tục, tín ngưỡng bản địa như thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu vẫn được duy trì song song với Phật giáo, Nho giáo

Kiến trúc mang đậm dấu ấn riêng với những công trình như Hoàng thành Thăng Long, chùa Một Cột, Văn Miếu -Quốc Tử Giám

Đặc biệt, tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm đã hun đúc nên một nền văn minh kiên cường, độc lập. Những điều đó thể hiện rõ sự kế thừa tinh hoa bên ngoài nhưng vẫn phát triển theo hướng riêng, khẳng định bản sắc dân tộc Đại Việt

2 tháng 4

Câu 1.

Bài thơ "Chiếc lá đầu tiên" của Hoàng Nhuận Cầm là một bản giao hưởng đầy hoài niệm về tuổi học trò hồn nhiên và rực rỡ. Về mặt nội dung, bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người đã trưởng thành nhìn lại quá khứ, mà còn là sự trân trọng những kỷ niệm thiêng liêng: tiếng ve ngân, hoa phượng hồng, và những rung động đầu đời trong sáng. Tác giả khéo léo đan xen giữa hiện tại và quá khứ, tạo nên một nỗi buồn man mác nhưng không bi lụy. Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt như dòng chảy của ký ức. Hình ảnh ẩn dụ "chiếc lá đầu tiên" mang tính biểu tượng cao, gợi mở về sự khởi đầu của tình yêu và sự kết thúc của một thời niên thiếu. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ (như "Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu") càng làm đậm thêm sự nuối tiếc khôn nguôi về một thời "hoa đỏ" đã xa.

Câu 2.

Trong cuốn tiểu thuyết "Sáu người đi khắp thế gian", James Michener đã để lại một dòng tư duy đầy ám ảnh: "Mặc dù bọn trẻ ném đá vào lũ ếch để đùa vui, nhưng lũ ếch không chết đùa mà chết thật". Câu văn giản đơn nhưng đã bóc trần một sự thật nghiệt ngã về sự vô tâm và khoảng cách mênh mông giữa ý định của người hành động với hậu quả mà nạn nhân phải gánh chịu. ​Hình ảnh "bọn trẻ ném đá" tượng trưng cho những hành động xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, sự đùa cợt vô ý thức hoặc lối sống ích kỷ, coi niềm vui của bản thân là trên hết. Ngược lại, "lũ ếch chết thật" chính là những tổn thương hiện hữu, những nỗi đau không thể vãn hồi mà nạn nhân phải chịu đựng. Câu nói nhắc nhở chúng ta rằng: Một lời chế giễu, một hành động "vui thôi mà" của người này có thể là nhát dao chí mạng cắt sâu vào cuộc đời của người khác. ​Trong thực tế xã hội hiện đại, hiện tượng "ném đá" này không chỉ nằm ở hành động vật lý. Đó có thể là những lời bình luận ác ý trên mạng xã hội (cyberbullying), là những trò đùa dai về khiếm khuyết ngoại hình, hay việc cô lập một cá nhân trong tập thể. Người nói có thể quên ngay sau vài giây, nhưng người nghe có thể mang theo vết sẹo tâm lý suốt đời. Sự nguy hiểm nhất không phải là ác ý, mà là sự "vô can" – khi chúng ta làm hại người khác mà vẫn ngây thơ nghĩ rằng mình chỉ đang "đùa vui". ​Để không trở thành "bọn trẻ ném đá", mỗi chúng ta cần học cách thấu cảm. Thấu cảm là khả năng đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu rằng mỗi hòn đá ném đi đều mang theo sức nặng của sự hủy diệt. Trước khi định phát ngôn hay hành động nhắm vào ai đó, hãy tự hỏi: "Nếu mình là người nhận, mình có thấy vui không?". Sự tử tế không nhất thiết phải là những điều lớn lao, đôi khi nó chỉ đơn giản là việc kiềm chế một trò đùa rẻ rúng để bảo vệ lòng tự trọng của người đối diện. ​Tóm lại, thế giới sẽ bớt đi những "lũ ếch chết thật" nếu mỗi người biết tự kỷ luật cảm xúc và ý thức được trách nhiệm của mình. Đừng để sự vô tâm biến chúng ta thành những kẻ sát nhân nhân danh niềm vui, bởi nỗi đau thì luôn thật, dù cái cớ có là "đùa" đi chăng nữa.

3 tháng 4

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Bài thơ “Chiếc lá đầu tiên” thể hiện những rung động trong trẻo, tinh khôi của tuổi học trò khi đứng trước những kỉ niệm đầu đời. Nội dung bài thơ gợi nhớ về tình bạn, tình thầy trò và đặc biệt là những cảm xúc bâng khuâng của mối tình đầu. Hình ảnh “chiếc lá đầu tiên” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự khởi đầu, cho những cảm xúc non nớt nhưng chân thành và đáng nhớ. Qua đó, tác giả thể hiện sự trân trọng những kỉ niệm đẹp của tuổi trẻ – quãng thời gian mà mỗi con người đều đi qua nhưng không thể quay lại.


Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, gần gũi với đời sống học sinh. Hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng, gợi nhiều liên tưởng. Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, pha chút tiếc nuối đã góp phần làm nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Ngoài ra, việc sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh giúp tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Tất cả đã tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc, để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc.




Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Câu nói: “Mặc dù bọn trẻ ném đá vào lũ ếch để đùa vui, nhưng lũ ếch không chết đùa mà chết thật” đã gợi lên một bài học sâu sắc về hậu quả của những hành động tưởng chừng vô ý. Đối với những đứa trẻ, việc ném đá chỉ là trò chơi, là sự giải trí nhất thời. Nhưng đối với những con ếch – nạn nhân của hành động đó – thì đó lại là sự đau đớn, thậm chí là cái chết. Câu nói nhấn mạnh rằng: có những hành động ta cho là nhỏ bé, vô hại nhưng lại gây ra tổn thương nghiêm trọng cho người khác.


Trong cuộc sống, không ít người vô tình làm tổn thương người khác bằng lời nói hay hành động của mình. Một câu trêu chọc, một lời nói thiếu suy nghĩ hay một hành động bạo lực học đường có thể để lại hậu quả lâu dài về cả thể chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, trong môi trường học đường, tình trạng bắt nạt, trêu ghẹo bạn bè đôi khi bị xem nhẹ như “đùa vui”, nhưng thực chất lại gây ra những tổn thương sâu sắc cho nạn nhân.


Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong hành vi và lời nói. Trước khi làm một điều gì đó, hãy đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ: liệu hành động này có làm họ đau không? Bên cạnh đó, cần xây dựng lối sống nhân ái, biết yêu thương và tôn trọng mọi người xung quanh.


Tóm lại, câu nói trên là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải cẩn trọng trong hành động, bởi điều ta xem là trò đùa có thể là nỗi đau thật sự của người khác. Sống có ý thức và biết đồng cảm sẽ giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn.


19 tháng 3 2025

Câu 5. Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XV, lịch sử dân tộc ta đã ghi nhận những thành công trong cuộc kháng chiến và khởi nghĩa lớn nào? Trình bày ý nghĩa trận đánh quyết định kết thúc các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa đó. Hướng dẫn trả lời Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XV, lịch sử dân tộc ta đã ghi nhận những thành công trong cuộc kháng chiến và lchởi nghĩa to lớn đó là kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của nhà Trần (thế kỉ XIII) và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi (thế kỉ XV). Diẻn biến chính và ý nghĩa trận đánh quyết định kết thúc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên: - Trận đánh quyết định trong cuộc kháng chiến chổng quân Mông - Nguyên là chiến tháng Bạch Đàng năm 1288: - Ý nghĩa: Chiến tháng Bạch Đàng năm 1288 đi vào lịch sử như một kì tích vĩ đại, không chỉ đánh dấu sự thất bại của cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên mà còn chấm dứt hoàn toàn cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên của quân dân nhà Trân. Diễn biến chính và ý nghĩa trận đánh quyết định kết thúc khởi nghĩa Lam Sơn chóng quân Minh: - Ý nghĩa: Chiến tháng Chi Lăng - Xương Giang đã đánh dấu sự kết thúc tháng lợi hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.


Câu 1.

Tình yêu quê hương của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tên làng hiện lên vô cùng chân thực và sâu nặng. Đó là tình yêu gắn liền với lòng biết ơn sâu sắc, khi quê hương được ví như người mẹ hiền dùng cây cỏ chữa lành những vết thương và cơn sốt cao nguyên từ mặt trận trở về. Nhân vật trữ tình không chỉ yêu vẻ đẹp hữu hình của làng với ngôi nhà đá hộc, con đường trâu bò đi kịt kịt, mà còn yêu cả những giá trị tinh thần thiêng liêng. Tình yêu ấy mạnh mẽ tới mức có thể tan thành tiếng thác, vang trời vọng đất. Điệp ngữ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ khẳng định một niềm tự hào mãnh liệt về nguồn cội. Với nhân vật, quê hương chính là bệ đỡ, là nơi bắt đầu của mọi ý nghĩ khôn lên và là đích đến cuối cùng của sự bình yên. Tình cảm ấy hòa quyện giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của cộng đồng, tạo nên một sợi dây liên kết bền chặt, vĩnh cửu

Câu 2:

Quê hương vốn không chỉ là một danh từ chỉ nơi chốn trên bản đồ, mà là một phần máu thịt, là hơi thở trong tâm hồn mỗi con người. Bàn về sợi dây liên kết thiêng liêng ấy, nhà văn Raxun Gamzatov từng để lại một chiêm nghiệm đầy sức gợi: "Người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người"

Lời khẳng định ấy trước hết thừa nhận một thực tế khách quan: vì những bước ngoặt của cuộc đời, vì mưu sinh hay khát vọng khám phá, con người có thể rời xa mảnh đất chôn nhau cắt rốn để đến với những chân trời mới. Đó là sự chia cắt về mặt địa lý, về khoảng cách không gian. Thế nhưng, điều kỳ diệu và bền bỉ nhất chính là vế sau của câu nói: quê hương luôn hiện hữu vĩnh cửu trong tâm khảm mỗi người.

Quê hương ẩn mình trong tiếng mẹ ru hời, trong mùi khói bếp nồng đượm buổi chiều tà, hay trong những phong tục tập quán đã thấm sâu vào huyết quản từ thuở thiếu thời. Những điều bình dị ấy chính là chất liệu nhào nặn nên nhân cách và bản sắc của mỗi cá nhân. Dù ta có đi xa đến đâu, khoác lên mình những bộ trang phục lộng lẫy hay nói những ngôn ngữ khác nhau, thì "chất" quê hương vẫn luôn là bộ nhận diện cốt lõi giúp ta không bị hòa tan giữa dòng đời vạn biến. Một người con xa xứ vẫn thổn thức khi nghe một điệu dân ca, vẫn đau đáu nhớ về một món ăn đạm bạc quê nhà, đó chính là minh chứng cho việc quê hương đã hóa thân thành tâm hồn, thành nhịp đập trái tim.

Ngược lại, nếu một người cố tình rũ bỏ gốc gác, họ sẽ giống như một cánh diều đứt dây, dù bay cao đến mấy cũng dễ dàng chao đảo và lạc lối vì thiếu đi điểm tựa tinh thần. Quê hương chính là bệ phóng, là bến đỗ bình yên nhất để mỗi chúng ta soi mình và tìm lại chính mình sau những dông bão.

Quê hương chính là hành trang quý giá nhất mà con người mang theo suốt cuộc đời. Hiểu được điều đó, chúng ta càng thêm trân trọng những giá trị truyền thống, để dù có bay cao, bay xa đến đâu, lòng vẫn luôn hướng về cội nguồn với tất cả tình yêu và lòng biết ơn sâu sắc nhất.



(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:            Tên làng                               - Y Phương - Con là con trai của mẹ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ Ba mươi tuổi từ mặt trận về Vội vàng cưới vợ Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa Rào miếng vườn trồng cây rau Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi Con là con...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

          Tên làng

                              - Y Phương -

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ

Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên

Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên

Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con.

Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Nhan đề của bài thơ gợi cho em những cảm nhận gì? Nhan đề ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung bài thơ?

Câu 4. Phân tích tác dụng của việc lặp lại nhiều lần dòng thơ: “Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ”.

Câu 5. Nội dung của bài thơ này là gì?

90

Câu 1. Thể thơ: Tự do.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ: Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả.

Câu 3.

- Cảm nhận: Nhan đề Tên làng gợi sự tò mò về một địa danh cụ thể, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng và chứa đựng niềm tự hào về nguồn cội.

+ Tác dụng: Nhan đề đóng vai trò là mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm, giúp thể hiện tư tưởng chủ đạo là tình yêu và sự gắn bó máu thịt của con người đối với quê hương (làng Hiếu Lễ).

Câu 4. Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:

+ Tạo nhịp điệu da diết, nồng nàn cho bài thơ.

+ Nhấn mạnh bản sắc, gốc gác và niềm tự hào của nhân vật trữ tình khi tự định nghĩa bản thân là người đàn ông ở làng Hiếu Lễ.

=> Khẳng định dù đi xa (chiến tranh) hay trở về, dù trải qua bao thăng trầm, con người vẫn luôn gắn bó và mang trong mình linh hồn của quê hương

Câu 5. Nội dung của bài thơ: Bài thơ là lời tâm tình của một người con trai gửi đến mẹ và quê hương. Qua những kỷ niệm về sự trưởng thành, những vết thương sau chiến tranh và cuộc sống đời thường bình dị, tác giả khẳng định sức mạnh nuôi dưỡng của quê hương và tình cảm gắn bó không thể tách rời giữa con người với nơi mình sinh ra


Câu 1. Thể thơ: thơ tự do. Câu 2. Các phương thức biểu đạt: biểu cảm (chính), kết hợp tự sự và miêu tả. Câu 3. Nhan đề “Tên làng” gợi cho em cảm nhận về tình yêu quê hương sâu nặng, thiêng liêng; tên làng không chỉ là địa danh mà còn là cội nguồn, là nơi gắn bó với cuộc đời nhân vật trữ tình. → Nhan đề có tác dụng khái quát nội dung bài thơ, nhấn mạnh niềm tự hào, tình yêu tha thiết với quê hương; đồng thời làm nổi bật ý nghĩa: quê hương trở thành một phần máu thịt, in dấu trong cuộc đời con người. Câu 4. Việc lặp lại nhiều lần dòng thơ “Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ” là biện pháp điệp ngữ. Tác dụng: nhấn mạnh thân phận, nguồn gốc của nhân vật trữ tình; khắc sâu hình ảnh người con của quê hương Hiếu Lễ; thể hiện niềm tự hào, tình cảm gắn bó sâu nặng với làng quê; đồng thời tạo nhịp điệu da diết, tăng sức biểu cảm cho bài thơ. Câu 5. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhân vật trữ tình. Qua hình ảnh người đàn ông từ chiến trường trở về, mang thương tích nhưng được quê hương che chở, nuôi dưỡng, tác giả khẳng định quê hương là cội nguồn yêu thương, là nơi nâng đỡ con người. Đồng thời bài thơ bộc lộ niềm tự hào về tên làng Hiếu Lễ và ý thức gắn bó máu thịt với quê hương.

19 tháng 3 2025

The red car is more expensive than the black car

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.   Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.    CHUYỆN CỦA MẸ                      Nguyễn Ba    mẹ có năm lần chia li    chồng mẹ ra đi    rồi hóa thành ngàn lau    bời bời nơi địa đầu Tây Bắc  ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.  

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

   CHUYỆN CỦA MẸ

                     Nguyễn Ba

   mẹ có năm lần chia li

   chồng mẹ ra đi
   rồi hóa thành ngàn lau
   bời bời nơi địa đầu Tây Bắc

   đứa trai đầu
   đã thành con sóng nát
   trên dòng Thạch Hãn
   hoàng hôn buông lại táp đỏ trời

   đứa trai thứ hai
   đã băng hết Trường Sơn
   chết gần sát Sài Gòn
   thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc

   chị gái trước tôi
   là dân công hoả tuyến
   dầm suối làm cây mốc sống
   dẫn xe bộ đội lội ngầm
   tuổi thanh xuân nhiều mộng mơ của chị
   xanh vào vời vợi trong xanh

   tôi là mỏi mòn chờ đợi thứ năm
   may mắn được trở về bên mẹ
   tôi đi về bằng đôi mông đít
   chân của tôi
   đồng đội chôn trên đồi đất Vị Xuyên

   đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc
   dù về sau đôi mắt bị loà
   mẹ thương tôi không có đàn bà
   mẹ lo mẹ chết đi
   ai người nước nôi, cơm cháo
   căn nhà tình nghĩa này
   có đủ vững vàng mưa bão
   đèn, lửa xóm giềng
   chẳng ấm nỗi gối chăn

   tôi gắng đùa vui
   mong mẹ chút yên lòng
   mẹ yêu của con ơi
   không chỉ là mẹ của con
   mẹ đã là
   mẹ của non sông đất nước
   cháu chắt của mẹ giờ líu lo
   khắp ba miền Trung, Nam, Bắc
   anh em của con tấp nập mọi miền
   dân tộc mình
   tồn tại đến giờ
   nhờ đùm bọc, yêu thương

   móm mém mẹ cười
   khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương...

                                   1-2021

36

Câu 1: Trong cuộc sống, việc thấu hiểu chính mình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Thấu hiểu bản thân là nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, cảm xúc và mong muốn thật sự của mình. Khi hiểu rõ chính mình, ta sẽ biết mình cần gì, muốn gì và nên đi theo hướng nào, từ đó tránh được những lựa chọn sai lầm hoặc chạy theo người khác một cách mù quáng. Không ít người sống mà luôn cố gắng làm hài lòng người khác, nhưng lại không biết bản thân thực sự mong muốn điều gì, dẫn đến cảm giác mệt mỏi, mất phương hướng. Ngược lại, khi thấu hiểu chính mình, ta sẽ tự tin hơn trong quyết định, biết cách phát huy thế mạnh và cải thiện hạn chế. Tuy nhiên, hành trình này không hề dễ dàng, đòi hỏi mỗi người phải biết lắng nghe bản thân, dám đối diện với sự thật và không ngừng trải nghiệm. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện khả năng tự nhận thức, xác định mục tiêu rõ ràng để phát triển bản thân một cách toàn diện. Thấu hiểu chính mình chính là chìa khóa để sống đúng với giá trị của bản thân và đạt được thành công bền vững.

Câu 2: Trước hết, bài thơ khắc họa những gian khổ, nhọc nhằn của người mẹ trong quá trình sinh nở. Những hình ảnh như “chống gậy mà đi”, “bị bỏ lại giữa đèo Tây Bắc”, “đứa trai đầu ra đời trên lưng” gợi lên một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Người mẹ phải đối mặt với thiên nhiên hiểm trở, thiếu thốn đủ bề nhưng vẫn kiên cường vượt qua để sinh con. Qua đó, ta cảm nhận được sự hi sinh lớn lao và tình yêu thương con vô điều kiện của mẹ.Không chỉ dừng lại ở đó, bài thơ còn thể hiện hành trình nuôi con đầy vất vả. Người mẹ lam lũ, tảo tần, dành trọn cuộc đời cho con. Đứa con lớn lên, được ăn học,trưởng thành và bước ra thế giới rộng lớn. Tuy nhiên, nghịch lí đau lòng xuất hiện khi đứa con dần trở nên xa cách, quên đi những hi sinh của mẹ. Trong khi đó, người mẹ vẫn luôn âm thầm dõi theo, yêu thương và chờ đợi con trở về. Điều này làm nổi bật vẻ đẹp của tình mẫu tử: lặng lẽ, bao dung và không đòi hỏi sự đáp trả.Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi giọng điệu kể chuyện tự nhiên, chân thực như lời tâm sự. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, mang tính hiện thực cao, giúp người đọc dễ dàng hình dung và xúc động. Biện pháp điệp cấu trúc “mẹ kể” được lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu mà còn nhấn mạnh dòng hồi ức, làm nổi bật câu chuyện đời mẹ. Ngoài ra, sự tương phản giữa quá khứ gian khổ của mẹ và hiện tại vô tâm của con càng làm tăng giá trị biểu cảm cho bài thơ.

Tóm lại, “Chuyện của mẹ” không chỉ là câu chuyện riêng của một người mẹ mà còn là tiếng lòng chung của biết bao bà mẹ Việt Nam.Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ – người đã hi sinh cả cuộc đời vì con.Bài thơ “Chuyện của mẹ” của Nguyễn Ba là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc tình mẹ thiêng liêng, bền bỉ và đầy hi sinh. Qua lời kể giản dị mà chân thực, tác giả đã tái hiện hành trình đầy gian khó của người mẹ từ khi sinh con cho đến lúc con trưởng thành.

15 tháng 4

Bài 2:

Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam, đề tài về người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận. Nếu như các nhà thơ khác thường ca ngợi vẻ đẹp tảo tần, sương gió, thì Nguyễn Ba trong bài thơ "Chuyện của mẹ" lại chọn một góc nhìn đầy đau thương nhưng vô cùng oai hùng: hình tượng người mẹ Việt Nam Anh hùng gắn liền với những mất mát sau chiến tranh. Bài thơ là một bản tráng ca buồn, tôn vinh sự hy sinh vô bờ bến của người mẹ dành cho non sông. Trước hết, về mặt nội dung, bài thơ đã tái hiện cuộc đời của mẹ như một cuốn nhật ký ghi lại những vết thương của dân tộc. Mẹ đã trải qua "năm lần chia ly" – một con số cụ thể nhưng sức gợi lại mênh mông. Đó là năm lần mẹ tiễn những người thân yêu nhất lên đường mà không có ngày trở lại: "chồng mẹ ra đi / rồi hóa thành ngàn lau" "đứa trai đầu / đã thành con sóng nát trên dòng Thạch Hãn" Những địa danh như Tây Bắc, Thạch Hãn, Trường Sơn, Xuân Lộc, Vị Xuyên xuất hiện liên tiếp, vẽ nên một bản đồ máu và nước mắt. Mỗi người thân của mẹ ngã xuống ở một phương trời, thịt xương họ đã hòa vào đất đai, sông núi để nuôi dưỡng sự sống. Nỗi đau của mẹ không chỉ dừng lại ở sự mất mát người thân, mà còn là nỗi đau thể xác khi bản thân mẹ cũng chịu thương tật, "đôi mắt bị loà". Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, mẹ vẫn lo lắng cho con, cho "ai người nước nồi, cơm cháo" khi mẹ mất đi. Tấm lòng ấy đã nâng tầm người mẹ từ một cá nhân trở thành "mẹ của non sông đất nước", là hiện thân của tinh thần đùm bọc, yêu thương đã giúp dân tộc Việt Nam tồn tại qua hàng ngàn năm. Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Ba đã sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi, như một lời tâm tình, kể lể nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc người đọc. Cách sử dụng các hình ảnh ẩn dụ như "ngàn lau", "con sóng nát", "cây mốc sống" không chỉ làm giảm nhẹ sự khốc liệt của cái chết mà còn bất tử hóa sự hy sinh của các anh hùng. Đặc biệt, biện pháp tu từ liệt kê các địa danh chiến trường khốc liệt kết hợp với giọng điệu vừa xót xa, vừa thành kính đã tạo nên một không gian nghệ thuật đầy tính sử thi. Những câu thơ cuối bài: "móm mém mẹ cười / khoe mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương..." là một hình ảnh đẹp đến ám ảnh. Ánh sáng từ đôi mắt loà ấy chính là ánh sáng của niềm tin, của sự mãn nguyện khi nhìn thấy "anh em của con tấp nập mọi miền". Tóm lại, bài thơ "Chuyện của mẹ" là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn. Bằng ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi, Nguyễn Ba không chỉ khắc họa thành công bức chân dung người mẹ Việt Nam chịu đựng, hy sinh mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình. Mẹ chính là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh để đất nước trường tồn.


Bài 1:

Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng nhất của mỗi con người. Đó không chỉ đơn thuần là việc biết mình thích gì, ghét gì mà là sự can đảm nhìn sâu vào tâm hồn để thừa nhận cả những ưu điểm lẫn những khiếm khuyết vẹn nguyên. Như câu chuyện về 'đèn và trăng', nếu không thấu hiểu giới hạn của bản thân, con người dễ rơi vào kiêu ngạo hoặc tự ti. Khi hiểu rõ 'ngón dài ngón ngắn' của chính mình, ta sẽ ngừng so sánh bản thân với người khác và bắt đầu tập trung vào việc tự hoàn thiện. Thấu hiểu chính mình giúp ta chọn đúng nghề nghiệp, xây dựng những mối quan hệ chân thành và sống một cuộc đời bình yên, chủ động. Ngược lại, kẻ không hiểu mình sẽ giống như con thuyền mất lái giữa đại dương. Vì vậy, hãy học cách lắng nghe tiếng nói nội tâm để có thể 'sửa mình' và phát triển bền vững giữa thế giới đầy biến động.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Đèn và trăng     Đây là một câu ca dao, cũng là một cuộc đối thoại tay ba nhiều kịch tính.     Thoạt đầu, đây là một cuộc tranh tài, khoe khôn, khoe giỏi của đèn và trăng (chắc là chẳng ai chịu kém cạnh, chẳng ai muốn thừa nhận bên kia). Nhân vật thứ ba, có thể gọi là trí khôn của nhân dân, phân xử bằng cách...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Đèn và trăng

     Đây là một câu ca dao, cũng là một cuộc đối thoại tay ba nhiều kịch tính.

     Thoạt đầu, đây là một cuộc tranh tài, khoe khôn, khoe giỏi của đèn và trăng (chắc là chẳng ai chịu kém cạnh, chẳng ai muốn thừa nhận bên kia). Nhân vật thứ ba, có thể gọi là trí khôn của nhân dân, phân xử bằng cách đặt ra cho mỗi bên một câu hỏi. Hỏi để được trả lời. Và có thể không trả lời cũng vẫn phải ngẫm nghĩ về câu hỏi ấy, rồi tự rút ra kết luận... Cái khéo của câu ca dao có kịch tính và triết lí chính ở chỗ này.

        Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
   Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?
       Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
  Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?

     Thế là ai cũng giỏi và ai cũng có những mặt kém. Chuyện trăng và đèn, cũng là chuyện con người thôi! Các cụ ngày xưa cũng dạy: Không ai vẹn mười cả (nhân vô thập toàn). Hiện đại hay cổ xưa, ở nơi này hay nơi khác, nhìn nhận và đánh giá con người, luôn là khó khăn. Nhìn nhận, quan trọng nhất là sắc sảo. Đánh giá, cần thiết là sự bao dung, có tình có lí. Chúng ta đều biết câu tục ngữ: "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn.". Hình ảnh rõ và quá gần gũi. Triết lí thì sâu sắc. Ngay ngón tay trên bàn tay một con người còn rất khác nhau, nữa là con người trong xã hội. Xoè bàn tay nhìn, ta đã có một lời khuyên đầy nhân hậu, bao dung và cụ thể. Tuy nhiên, đôi với câu chuyện đèn và trăng thì sự gợi mở cho những suy nghĩ về bản thân là sâu sắc hơn cả. Sự tự nhìn nhận và đánh giá mình là yêu cầu thường xuyên, nhưng cũng là khó khăn nhất. Nếu bạn là trăng thì đâu là các loại mây có thể che mờ ánh sáng? Nếu là đèn (Ta nghĩ lại, cái đèn ở trong câu này là thứ đèn rất cổ. Có thể chỉ là một đĩa dầu - dầu lạc, dầu vừng,... với một sợi bấc đặt trong đĩa. Như câu này trong Kiều: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao".) thì gió sẽ tự phía nào? Tránh gió chăng, hay che chắn cách nào?

      Suy rộng ra, chuyện đèn và trăng chính là việc cần biết người, biết mình; mà quan trọng hơn là biết mình. Biết mình để làm gì? Chủ yếu để sửa mình. Đó là con đường chắc chắn nhất để phát triển, dù là một cá nhân, hay một nhóm, hay cả cộng đồng. Không tự biết mình, biết sai mà không sửa, đó chắc chắn là mầm sống của lụi tàn, thua kém, diệt vong,...

(Theo Phạm Đức, qdnd.vn, 28-2-2008)

Câu 1. Xác định kiểu văn bản của văn bản trên.

Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? 

Câu 3. Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào?

Câu 4. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì?

Câu 5. Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản.

42

Câu 1:Kiểu văn bản: Nghị luận

Câu 2:Vấn đề: Bàn về việc tự nhận thức, đánh giá bản thân (biết mình, biết người) trong cuộc sống.

Câu 3:Bằng chứng tác giả dùng:Câu ca dao “Đèn và trăng” (làm dẫn chứng chính).Hình ảnh ngón tay dài – ngắn (so sánh, minh họa) Dẫn thêm Truyện Kiều (tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao.Mục đích: làm rõ việc mỗi người có điểm mạnh – yếu khác nhau, cần biết mình.

Câu 4:Mục đích:Khuyên con người biết tự nhìn nhận, đánh giá bản thân .Từ đó sửa mình để phát triển.Nội dung:Không ai hoàn hảo, ai cũng có mặt mạnh – yếu.Cần biết mình, hiểu mình.Biết sai mà sửa → mới tiến bộ, không thì sẽ tụt lùi

Câu 5:Nhận xét cách lập luận:Chặt chẽ, logic (từ ca dao → mở rộng → rút ra bài học)Dẫn chứng gần gũi, dễ hiểu Kết hợp giải thích + so sánh+ mở rộng vấn đề.Làm cho bài viết thuyết phục và dễ tiếp nhận

15 tháng 4

Câu 1: Xác định kiểu văn bản của văn bản trên. Trả lời: Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội/triết lý).

Câu 2: Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? Trả lời: Vấn đề chính là sự nhìn nhận, đánh giá về bản thân và người khác. Tác giả nhấn mạnh việc mỗi người đều có thế mạnh và hạn chế riêng, từ đó khuyên chúng ta cần biết mình, biết người, sống bao dung và không ngừng tự hoàn thiện.

Câu 3: Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào? Trả lời: Tác giả sử dụng các bằng chứng: Câu ca dao về cuộc đối thoại giữa đèn và trăng (đèn khoe tỏ hơn trăng nhưng sợ gió, trăng khoe tỏ hơn đèn nhưng bị mây che). - Câu tục ngữ: "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn". - Hình ảnh thực tế về chiếc đèn dầu cổ và các hiện tượng tự nhiên (gió, mây).

Câu 4: Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì? - Mục đích: Thuyết phục người đọc về thái độ sống đúng đắn: cần khiêm tốn, biết thừa nhận khuyết điểm để sửa mình và bao dung với người khác. - Nội dung: Phân tích sự tương đối của các giá trị thông qua hình ảnh đèn và trăng, từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc "biết mình" để phát triển cá nhân và cộng đồng.

Câu 5: Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản. Trả lời: Cách lập luận rất chặt chẽ, sắc sảo và giàu tính thuyết phục. Tác giả đi từ văn hóa dân gian (ca dao, tục ngữ) đến những suy ngẫm triết lý sâu sắc; cách đặt vấn đề tự nhiên, ngôn ngữ gần gũi nhưng đầy sức nặng, giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận bài học về sự tự nhận thức.

#Tham khảo

Tiêu chí               Văn minh Văn Lang - Âu Lạc                                        Văn minh Chăm Pa

Địa bànBắc Bộ và Bắc Trung Bộ (chủ yếu là vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả)Miền Trung Việt Nam (từ Quảng Bình đến Bình Thuận)
Cơ sở văn hóaVăn hóa Đông Sơn (trống đồng, thạp đồng, đồ gốm, công cụ sắt)Văn hóa Sa Huỳnh (đồ gốm, công cụ sắt, táng thức mộ chum)
Kinh tếNông nghiệp lúa nước, trồng trọt kết hợp với săn bắt, đánh cá và chăn nuôiNông nghiệp lúa nước, nhưng chú trọng thương mại, đánh bắt hải sản, chế tác đá, gốm, và buôn bán với Ấn Độ, Trung Hoa

Văn hóa

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tục xăm mình, các lễ hội liên quan đến nông nghiệpBị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa Ấn Độ (Hindu giáo, Phật giáo), nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc đền tháp phát triển rực rỡ
18 tháng 3 2025

Tham khảo

Tiêu chíVăn minh Văn Lang - Âu LạcVăn minh Chăm Pa

Địa bànPhạm vi chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, bao gồm các tỉnh như Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ.Phạm vi chủ yếu ở miền Trung Việt Nam, từ Quảng Bình đến Bình Thuận, bao gồm các tỉnh như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa.
Cơ sở văn hóaVăn hóa nông nghiệp trồng lúa nước, tổ chức xã hội bộ lạc, mang ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á.Văn hóa Ấn Độ, ảnh hưởng mạnh mẽ từ Ấn Độ, với tôn giáo Hindu và Phật giáo, có yếu tố văn hóa Đông Nam Á.
Kinh tếKinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi, thủ công nghiệp (dệt, gốm).Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đánh bắt thủy sản, thương mại và đặc biệt phát triển nghệ thuật điêu khắc và xây dựng các công trình tôn giáo.
Văn hóaVăn hóa chủ yếu tập trung vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thần linh, và các lễ hội dân gian.Văn hóa Chăm Pa chủ yếu là văn hóa tôn thờ thần linh, đặc biệt là thần Shiva trong Hindu giáo, với các đền thờ lớn và điêu khắc nghệ thuật nổi bật.