Có bao nhiêu alkyne ứng với công thức phân tử C3H4?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
\(CuO+H_2SO_4\rightarrow CuSO_4+H_2O\)
0,2 0,2 0,2 0,2
số mol CuO là: \(n_{CuO}=\dfrac{m_{CuO}}{M_{CuO}}=\dfrac{16}{80}=0,2\left(g\right)\)
khối lượng chất tan \(H_2SO_4\text{ là: }\)
\(m_{H_2SO_4}=n_{H_2SO_4}\cdot M_{H_2SO_4}=0,2\cdot98=19,6\left(g\right)\)
nồng độ phần trăm dung dịch \(H_2SO_4\text{ là: }\)
\(C\%=\dfrac{m_{ct}}{m_{dd}}\cdot100\%=\dfrac{19,6}{150}\cdot100\%\approx13,07\%\)
Giai: 1) San xuat 100 L ruou 10° yeu cau 10 % the tich la etanol nen luong etanol can la 10 L. Voi ty trong ruou etylic gan 0,8 kg/L thi khoi luong etanol la 10 × 0,8 = 8 kg. Theo phan ung C6H12O6 → 2 C2H5OH + 2 CO2, 180 g glucozo tao ra 92 g etanol. Luong glucozo ly thuyet can la 8 × 180/92 ≈ 15,65 kg. Do hieu suat len men chi 80 % nen luong glucozo thuc te phai dung la 15,65/0,8 ≈ 19,56 kg. Nho chi chua 30 % glucozo nen khoi luong nho can dung la 19,56/0,30 ≈ 65,2 kg (khoang 65 kg). 2) Voi 50 kg nho chua 40 % glucozo thi luong glucozo la 0,40 × 50 = 20 kg. Theo phan ung tren, 180 g glucozo tao ra 92 g etanol, do do khoi luong etanol ly thuyet thu duoc tu 20 kg glucozo la 20 × 92/180 ≈ 10,22 kg. Hieu suat thuc te H = 90 % nen khoi luong etanol thu duoc la 10,22 × 90/100 ≈ 9,20 kg. Ty trong ruou etylic la 0,8 kg/L, nen the tich etanol la 9,20/0,8 ≈ 11,5 L. Ruou 12° chua 12 % etanol theo the tich nen the tich ruou thu duoc V = 11,5/0,12 ≈ 95,8 L (khoang 96 L).
a, \(CaCO_3+2CH_3COOH\rightarrow\left(CH_3COO\right)_2Ca+CO_2+H_2O\)
b, Ta có: \(n_{CO_2}=\dfrac{2,479}{24,79}=0,1\left(mol\right)\)
Theo PT: \(n_{CH_3COOH}=2n_{CO_2}=0,2\left(mol\right)\)
\(\Rightarrow m_{CaCO_3}=0,2.100=20\left(g\right)\)
c, \(n_{\left(CH_3COO\right)_2Ca}=n_{CO_2}=0,1\left(mol\right)\)
\(\Rightarrow m_{\left(CH_3COO\right)_2Ca}=0,1.158=15,8\left(g\right)\)
- Trích mẫu thử.
- Nhỏ vài giọt từng mẫu thử vào giấy quỳ tím.
+ Quỳ hóa đỏ: HCl
+ Quỳ hóa xanh: NaOH
+ Quỳ không đổi màu: NaCl
- Dán nhãn.
hcl đổi màu quỳ tím thành đỏ
Naoh đổi màu quỳ tím thành XAnh
Nacl làm quỳ tím không chuyển màu
a; \(Mg+2HCl\rightarrow MgCl_2+H_2\)
0,1 0,2 0,1 0,1
số mol HCl là: \(C_M=\dfrac{n}{V}\)
\(\Rightarrow n=C_M\cdot V=1\cdot0,2=0,2\left(mol\right)\)
số mol Mg là: \(n_{Mg}=\dfrac{m_{Mg}}{M_{Mg}}=\dfrac{2,4}{24}=0,1\left(mol\right)\)
lập tỉ lệ: \(\dfrac{n_{Mg}}{1}=\dfrac{0,1}{1}=\dfrac{n_{HCl}}{2}=\dfrac{0,2}{2}\)
b; thể tích khí thoát ra là:
V = 24,79 x n = 24,79 x 0,1 = 2,479 (L)
c; nồng độ \(MgCl_2\) thu được là:
\(C_{M_{MgCl_2}}=\dfrac{n_{MgCl_2}}{V_{MgCl_2}}=\dfrac{0,1}{0,2}=0,5\left(M\right)\)
Cho dung dịch potassium hydroxide (KOH) thì quỳ tím sẽ thành xanh bn nhé.
Lực lưỡng cực-lưỡng cực là một loại lực liên phân tử (IMF) xảy ra giữa các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu. Dưới đây là phần giải thích chi tiết:
1. Lưỡng cực là gì?
- Lưỡng cực xảy ra khi có sự phân bố không đồng đều của điện tích trong một phân tử. Điều này dẫn đến một đầu của phân tử mang điện tích dương một phần (δ+) và đầu kia mang điện tích âm một phần (δ-).
- Các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu là những phân tử có sự khác biệt về độ âm điện giữa các nguyên tử cấu thành, và hình dạng phân tử không đối xứng. Ví dụ: HCl, H₂O.
2. Lực lưỡng cực-lưỡng cực hoạt động như thế nào?
- Các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu hút nhau do sự tương tác giữa đầu dương của một phân tử và đầu âm của phân tử kia.
- Sự sắp xếp này làm giảm năng lượng tiềm năng giữa các phân tử và làm tăng tính ổn định của hệ thống.
- Độ mạnh của lực lưỡng cực-lưỡng cực phụ thuộc vào độ lớn của lưỡng cực và khoảng cách giữa các phân tử.
3. Ảnh hưởng đến tính chất vật lý:
- Lực lưỡng cực-lưỡng cực ảnh hưởng đến các tính chất vật lý như nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy.
- Các chất có lực lưỡng cực-lưỡng cực mạnh hơn thường có nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy cao hơn so với các chất chỉ có lực phân tán London.
4. So sánh với các IMF khác:
- Lực phân tán London (Lực Van der Waals):
- Có mặt trong tất cả các phân tử, kể cả phân tử không cực.
- Là kết quả của sự dao động tạm thời của đám mây electron, tạo ra lưỡng cực tức thời.
- Yếu hơn lực lưỡng cực-lưỡng cực.
- Liên kết hydro:
- Là một loại lực lưỡng cực-lưỡng cực đặc biệt mạnh.
- Xảy ra khi hydro liên kết với các nguyên tử có độ âm điện cao như oxy (O), nitơ (N) hoặc flo (F).
- Mạnh hơn nhiều so với lực lưỡng cực-lưỡng cực thông thường.
Tóm lại: Lực lưỡng cực-lưỡng cực là một lực hút tĩnh điện giữa các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu, góp phần vào các tính chất vật lý của chất.
Khi nhiệt độ tăng, độ tan của SO₂ (lưu huỳnh điôxít) trong nước giảm vì nguyên lý nhiệt động học và tính chất của quá trình hòa tan của khí trong dung môi.
Để hiểu rõ hơn, ta cần xem xét các yếu tố sau:
1. Quá trình hòa tan khí trong nước
Khi một khí như SO₂ hòa tan vào nước, quá trình này có thể được mô tả như một quá trình hấp thụ nhiệt. Khi SO₂ tan vào nước, nó sẽ phản ứng với nước và tạo ra các hợp chất như axit sulfuric (H₂SO₄) và axit hyposulfuric (H₂S₂O₃):
\(S O_{2} + H_{2} O \rightleftharpoons H_{2} S O_{3}\)
Quá trình hòa tan khí vào dung môi (như nước) thường mang tính hấp thụ nhiệt, tức là quá trình này cần nhiệt lượng để tiếp diễn.
2. Ảnh hưởng của nhiệt độ
- Khi nhiệt độ tăng, năng lượng nhiệt cung cấp cho hệ tăng lên. Đối với các quá trình hấp thụ nhiệt, khi nhiệt độ tăng, phản ứng ngược (quá trình giải phóng khí ra khỏi dung dịch) trở nên thuận lợi hơn, tức là khí sẽ rời khỏi dung dịch thay vì tiếp tục hòa tan vào nước.
- Điều này làm cho khả năng hòa tan của khí giảm. Do đó, khi nhiệt độ tăng, độ tan của SO₂ trong nước giảm đi.
3. Theo lý thuyết Le Chatelier
Theo nguyên lý Le Chatelier, khi nhiệt độ của một hệ tăng lên, hệ sẽ điều chỉnh để giảm bớt sự thay đổi đó. Nếu quá trình hòa tan của SO₂ vào nước là quá trình hấp thụ nhiệt, hệ sẽ phản ứng bằng cách giải phóng khí để làm giảm tác động của nhiệt độ cao, dẫn đến việc giảm độ tan của SO₂.
4. Tính chất khí
SO₂ là một khí có khả năng tan vào nước, nhưng độ hòa tan của khí trong dung môi (như nước) thường giảm khi nhiệt độ tăng. Điều này là do tính chất của khí nói chung: hầu hết các khí đều ít tan hơn trong nước khi nhiệt độ cao.
Kết luận
Vì vậy, khi nhiệt độ tăng, độ tan của SO₂ trong nước giảm do quá trình hòa tan khí vào dung môi là một quá trình hấp thụ nhiệt, và khi nhiệt độ tăng, khí sẽ dễ dàng rời khỏi dung dịch hơn là hòa tan vào trong đó.
Có 2 đồng phân là : C nối 3 CH nối 2 CH2
CH2 nối 2 C nối 2 CH2