K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

11 tháng 2

Các bước chuẩn bị máy may gồm kiểm tra tổng thể máy may xem có bụi bẩn, hư hỏng hay thiếu bộ phận không, vệ sinh sạch khu vực ổ chao, răng cưa và mặt bàn máy, tra dầu bôi trơn đúng vị trí theo hướng dẫn để máy hoạt động trơn tru, lắp kim may đúng loại phù hợp với chất liệu vải và siết chặt kim, lắp suốt chỉ dưới vào ổ chao đúng chiều quay, lắp chỉ trên theo đúng sơ đồ luồn chỉ của máy, điều chỉnh độ căng chỉ trên và chỉ dưới phù hợp, kiểm tra chân vịt và hạ chân vịt đúng vị trí, cắm điện và kiểm tra bàn đạp hoặc công tắc nguồn, chạy thử trên mảnh vải thừa để kiểm tra đường may trước khi may sản phẩm chính

15 tháng 2 2025

Olm chào em, cái này là môn tiếng Anh chứ em. Sao em lại đăng vào môn ngữ văn. Khi đăng câu hỏi trên cộng đồng Olm. Em vui lòng đăng đúng khối lớp để nhận sự trợ giúp tốt nhất từ Olm.

11 tháng 2

Theo em trang phục học đường cần kín đáo, lịch sự, phù hợp với lứa tuổi, màu sắc nhã nhặn, kiểu dáng đơn giản gọn gàng, tạo cảm giác thoải mái khi học tập và vận động, chất liệu thấm hút mồ hôi tốt, dễ giặt và bền, thể hiện được nét đẹp trong sáng và nề nếp của học sinh

11 tháng 2

Các bước thực hiện khi vận hành máy may gồm kiểm tra lại nguồn điện và vị trí đặt máy ổn định, chuẩn bị vải đúng kích thước và đặt vải ngay ngắn dưới chân vịt, hạ chân vịt để cố định vải, giữ nhẹ hai đầu chỉ khi bắt đầu may, đạp bàn đạp từ từ để máy chạy chậm rồi tăng dần tốc độ phù hợp, điều khiển vải thẳng theo đường may đã đánh dấu, kết thúc đường may thì giảm tốc độ và dừng máy, nâng kim lên vị trí cao nhất rồi nhấc chân vịt để lấy sản phẩm ra


Yêu cầu kĩ thuật gồm đường may thẳng đều đúng kích thước quy định, mũi may đều nhau không bỏ mũi không chồng mũi, độ căng chỉ phù hợp không nhăn vải không lỏng chỉ, mép vải được giữ đúng vị trí theo hướng dẫn, sản phẩm không bị bẩn hoặc rách trong quá trình may


Lưu ý khi vận hành gồm không đặt tay quá gần kim may để tránh tai nạn, không kéo hoặc đẩy vải mạnh làm gãy kim, tập trung quan sát đường may khi máy đang chạy, tắt nguồn khi thay kim hoặc vệ sinh máy, giữ khu vực làm việc gọn gàng an toàn


14 tháng 2 2025

Ok

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?- Cháu tên là Ngoan.- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!Mặt cậu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ

 Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:

- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?

- Cháu tên là Ngoan.

- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!

Mặt cậu bé rạng lên. Cậu nói:

- Cảm ơn cây.

- Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không? – Cây hỏi.

Cậu bé rùng mình, lắc đầu:

- Đau lắm, cháu chịu thôi!

- Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn?

Câu 1) Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm truyện

Câu 2) Từ văn bản và thực tế đời sống em hãy viết đoạn văn 200 chữ để bày tỏ suy nghĩ của em về cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống

2
11 tháng 2

Câu 1


Truyện Cậu bé và cây si già là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách ứng xử và lòng trắc ẩn. Tác phẩm xây dựng tình huống đơn giản, một cậu bé khắc tên mình lên thân cây si già, hành động tưởng như vô hại nhưng lại gây đau đớn cho cây. Thông qua lời thoại giữa cây và cậu bé, ý nghĩa câu chuyện dần được bộc lộ.


Hình ảnh cây si già được nhân hóa, biết đau, biết nói, biết hỏi han nhẹ nhàng. Khi bị khắc lên thân mình, cây không trách móc gay gắt mà dùng lời lẽ ôn tồn để trò chuyện. Cách hỏi của cây vừa khéo léo vừa thấm thía, đặc biệt là câu hỏi vì sao cậu không khắc tên lên người mình. Chính câu hỏi ấy khiến cậu bé nhận ra sự vô lí trong hành động của mình.


Nhân vật cậu bé đại diện cho sự vô tư, thiếu suy nghĩ của con người khi gây tổn hại cho người khác hay cho thiên nhiên. Khi nghe cây hỏi, cậu rùng mình vì biết đau và sợ đau, từ đó hiểu ra rằng cây cũng có cảm giác như mình.


Truyện gửi gắm thông điệp hãy biết đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Đừng làm điều mình không muốn người khác làm với mình. Qua cách kể giản dị, đối thoại ngắn gọn, tác phẩm để lại bài học đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng nhân ái và sự tôn trọng.

11 tháng 2

Câu 2


Trong cuộc sống, cách ứng xử giữa người với người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ câu chuyện về cậu bé và cây si già, ta nhận ra rằng trước khi làm điều gì, mỗi người cần biết đặt mình vào vị trí của người khác. Khi ta không muốn bị tổn thương, bị xúc phạm hay bị đối xử thiếu tôn trọng thì cũng không nên làm điều đó với người khác.


Thực tế cho thấy có những lời nói vô tình có thể làm người khác buồn rất lâu, có những hành động thiếu suy nghĩ có thể gây ra tổn thương khó bù đắp. Nếu ai cũng biết suy nghĩ thấu đáo, biết lắng nghe và cảm thông, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng, chân thành và lòng nhân ái chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh.


Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách ứng xử đúng mực, biết yêu thương, chia sẻ và cư xử có trách nhiệm. Khi ta trao đi sự tử tế, ta cũng sẽ nhận lại sự tử tế, đó là quy luật giản dị nhưng bền vững của cuộc sống.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh TrìLan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1

Trong "Chuyện tình ở Thanh Trì" tác giả đã khéo léo vẽ lên một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người trong xã hội Việt Nam trước cách mạng, với những mâu thuẫn sâu sắc và bi kịch con người bị xã hội phong kiến kìm hãm. Câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật chính không chỉ là một cuộc đấu tranh tình cảm mà còn là sựu phản ánh chân thực về những định kiến, bất công và sự phân biệt giai cấp trong xã hội đương thời. Tình yêu của họ bị ràng buộc bởi những quy tắc khắt khe của gia đình, dòng tộc và xã hội, khiến họ không thê tự do sống thật với bản thân. Hình ảnh những con người trong tác phẩm, dù đầy khát vọng và ước mơ, lại phải gánh chịu những đớn đau khi tình yêu chân thành của họ không thể vượt qua được các chuẩn mực xã hội. Qua đó, ông tái hiện một xã hội đầy bất công, nơi mỗi cá nhân đều phải đánh đổi hạnh phúc cá nhân vì trách nhiệm và những quy ước phong kiến. Câu chuyện không chỉ là một bi kịch tình yêu mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ về một xã hội mà ở đó con người không thể lựa chọn hạnh phúc cho mình.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1

Đoạn trích "Chuyện tình ở Thanh Trì" trích "Lan trì kiến văn lục" đã nói lên sự vượt lên rào cản số phận của tình yêu đôi lứa ở xã hội xưa. Tuy vậy, em lại đặc biệt ấn tượng sâu sắc khi tìm hiểu về nhân vật chàng trai trong truyện - Nguyễn Sinh. Có thể thấy rõ trong văn bản, chàng là một người có dung mạo đẹp, tư chất vốn đã thông minh, đã thế giọng hát lại trong trẻo, ngọt ngào nhưng hoàn cảnh của chàng lại rất éo le, khốn khó. Bởi Nguyễn Sinh từ nhỏ đã mồ côi cha, phải tạm gác lại việc học, tìm một công việc tạm bợ mà sinh sống qua ngày - chèo đò. Thế nhưng, khi cô con gái nhà giàu họ Trần đem lòng cảm mến chàng, nhờ người manh mối thì cha của nàng lại phá vỡ tình cảm giữa họ. Chính sự việc này khiến chàng khổ tâm, đau lòng, dằn vặt bản thân, phẫn chí mà bỏ đi xa để lập nghiệp, tự nhủ với lòng rằng sẽ tìm đủ tiền để cưới xin được nàng. Nhưng số phận lại lần nữa trêu đùa chàng trai tội nghiệp, khi mà đã rạng danh trở về, ao ước được thấy nụ cười của người mình yêu, chàng lại hay tin rằng cô gái vì quá buồn lòng mà đã ra đi mãi mãi. Từ hành động sắm sửa lễ vật đến điếu nàng cho đến sự việc nhận lấy món quà cuối cùng mà người thương để lại, có thể thấy Nguyễn Sinh là người chung thủy, tấm lòng son sắc, không phụ bạc người mình yêu và cái chết cũng không thể chia lìa được tình cảm thiêng liêng, to lớn ấy của họ. Qua hình tượng Nguyễn Sinh, nhà văn Vũ Trinh muốn nói lên khát vọng được bày tỏ của tình cảm đôi lứa, tình cảm thuần khiết, trong trẻo, đáng quý nhất và phê phán những lối hủ tục thời phong kiến của xã hội xưa.


(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền. Bài đọc: TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG     Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.     Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền.

Bài đọc:

TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG

    Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.

    Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.

    Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối thì thiền sư nói:

    - Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!

    Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng. Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương rồi khảng khái thốt lên:

    - Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.

    Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.

    Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng tử tế đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:

    - Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.

(Lâm Thanh Huyền, Truyện cực ngắn, NXB Quân Đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.7-8)

Chú thích: Tác giả Lâm Thanh Huyền (1953 - 2019). Ông là nhà văn, nhà thơ có nhiều giải thưởng văn học. Đặc điểm trong văn của ông là sự dung hợp, lĩnh hội giữa tôn giáo và văn học. Ngôn ngữ trong sáng, giàu đẹp, kinh nghiệm sống phong phú, thấm nhuần tinh thần Phật Giáo với những triết lí nhân sinh sâu sắc.

1

Truyện ngắn "Tặng một vầng trăng sáng" của Lâm Thanh Huyền gây ấn tượng sâu sắc bởi những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo. *Thứ nhất, tác phẩm xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà giàu chất thiền*. Tình huống thiền sư bắt gặp kẻ trộm trong am tranh của mình vốn đã éo le, nhưng cách ứng xử của ngài lại càng bất ngờ: không tức giận, không hô hoán mà chủ động đứng đợi, cởi áo tặng. Chính sự "ngược đời" ấy đã đẩy kịch tính lên cao và làm nổi bật tư tưởng của truyện. *Thứ hai, nghệ thuật xây dựng nhân vật tương phản làm nổi bật chủ đề*. Một bên là kẻ trộm lén lút, lo sợ, nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần. Một bên là thiền sư ung dung, tự tại, giàu lòng từ bi. Sự đối lập này khiến hành động "tặng áo" của thiền sư càng trở nên cao đẹp, cảm hóa được cái ác. *Thứ ba, ngôn ngữ truyện ngắn gọn, hàm súc nhưng giàu hình ảnh và chất thơ*. Hình ảnh "vầng trăng sáng" vừa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho lòng từ bi, trí tuệ, cho vẻ đẹp của tâm hồn đã giác ngộ. Lời văn nhẹ nhàng mà thấm thía, không triết lý khô khan nhưng vẫn khiến người đọc phải suy ngẫm. *Cuối cùng, kết cấu truyện mở* với hình ảnh vầng trăng đã "tặng" cho kẻ trộm đã khép lại tác phẩm nhưng mở ra sự thức tỉnh trong tâm hồn nhân vật và cả người đọc. Chính những đặc sắc nghệ thuật ấy đã làm nên sức hấp dẫn và giá trị nhân văn sâu sắc cho truyện ngắn.

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền. Bài đọc: ​THẰNG GÙ      Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền.

Bài đọc:

THẰNG GÙ

     Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng. Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài.

     Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi.”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ.” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy. Bọn trẻ cười ré khi thấy cái hình gấp khúc đó cứ như lăn về phía trước. Chao ôi, thằng Gù...

     [...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng. Đây quả là cả một sự kiện đối với cái làng đang mê mệt, thiếp lặng đi sau những trận mưa ròng rã này. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng, Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù.

     Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế...”. Nghe tiếng hô, thằng gù đỏ căng mặt mày, lên gân tì cái lưng gù xuống đất cố duỗi thẳng đôi chân. Phải trồng cây chuối nhiều lần nên trán nó ướt nhầy mồ hôi. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi.” vẫn thúc giục không ngớt.

     Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi.”. Tôi nín thở nhìn theo nó. Nó chen vào làm gì, cho tiền những người hát rong chăng? Tiếng ghi ta điện vẫn bập bùng, rấm rứt. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét:

     - Thế mà cười được à? Đồ độc ác!

     Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần. Tất cả bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng cúi gằm mặt xuống. Tiếng sấm ì ùng từ dãy núi dội đến. Hình như trời lại sắp mưa.

(Theo Hạ Huyền, Con gái người lính đảo, NXB Giáo dục, 2003)

1

Trong truyện ngắn Thằng Gù của Hạ Huyền, nhân vật Đức hiện lên là một cậu bé bất hạnh nhưng giàu nghị lực và khát khao được học tập. Đức bị tật nguyền, lưng gù nên thường bị mọi người gọi bằng cái tên đầy mặc cảm là “thằng Gù”. Dù đã hơn mười tuổi, em vẫn chưa được đến trường như bao bạn bè cùng trang lứa. Hình ảnh Đức chăn trâu ngoài đồng, lặng lẽ hướng mắt về phía trường học giữa tiếng đọc bài vang lên đã gợi lên niềm khao khát tri thức tha thiết và nỗi buồn tủi của một đứa trẻ thiệt thòi. Ngoại hình “gấp khúc”, chiếc lưng gù khiến Đức trở nên nhỏ bé, cô đơn nhưng bên trong em vẫn là một tâm hồn trong sáng, ham học và giàu ước mơ. Qua nhân vật Đức, tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với những số phận bất hạnh trong cuộc sống, đồng thời nhắc nhở mọi người cần biết yêu thương, tôn trọng và sẻ chia với những người khuyết tật. Truyện còn gửi gắm thông điệp ý nghĩa về quyền được học tập và được đối xử công bằng của mỗi con người.