K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau: Đoạn trích 1:    (Lược dẫn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)    Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước,...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau:

Đoạn trích 1:

   (Lược dẫn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)

   Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

   Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

  - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

   Rồi bà kể thêm:

 - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

  Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

  (Lược dẫn: Dung ăn trộm tiền của mẹ chồng để trốn về nhà nhưng bị mẹ đẻ đay nghiến. Sáng hôm sau, mẹ chồng xuống tìm nàng.)

   Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

   Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. [...] Nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

   Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

   […] Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

   - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

   Dung buồn bã trả lời:

   -  Con xin về.

(Trích Hai lần chết, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008)

Đoạn trích 2:

    (Lược dẫn: Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì chết đã lâu. Dù công việc buôn bán thuận lợi nhưng vì phải nuôi hai đứa con nheo nhóc cùng với đống nợ chồng chất nên bà để dì Hảo đi ở. Mới đầu về nhà mẹ nuôi, dì Hảo khóc ghê lắm nhưng rồi cũng quen dần và trở thành một người con gái rất ngoan đạo. Đến khi lấy chồng, dì dành cho chồng tất cả tình yêu thương nhưng chồng dì lại là một kẻ cờ bạc, rượu chè, vũ phu, không yêu dì.)

    Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng cháu giống. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy; dì làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa con.

   Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi không là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.

    Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu, hắn chửi số kiếp hắn, và sau cùng thì chửi vợ. Ô! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu rồi tình cờ có một bữa rượu say.

   Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc.

   Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ đi bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc còn hăm hai. Cái cơ nghiệp người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương.

    Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.

(Trích Dì Hảo, Tuyển tập truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao, NXB Văn học, 2017)

0

Đề thi đánh giá năng lực

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật vua Lia trong đoạn trích sau. Hồi I (Một lễ đường trong cung điện vua Lia.) LIA – Bây giờ ta muốn nói ra những điều bấy nay ta giữ kín. Truyền lấy bản đồ! Đây, ta đã chia đất nước làm ba phần. Ta quyết định cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan cùng công việc nước, đem gánh nặng đặt lên sức vóc trẻ...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật vua Lia trong đoạn trích sau.

Hồi I

(Một lễ đường trong cung điện vua Lia.)

LIA – Bây giờ ta muốn nói ra những điều bấy nay ta giữ kín. Truyền lấy bản đồ! Đây, ta đã chia đất nước làm ba phần. Ta quyết định cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan cùng công việc nước, đem gánh nặng đặt lên sức vóc trẻ trung hơn, để cho ta được thênh thang bước vào cõi thọ. Hiền tế của ta, Cor-nơ-uôn, và con ta nữa, hỡi An-ba-ni mà lòng ta thương chẳng kém, giờ đây ta tuyên bố rõ ràng về từng phần đất đai chia cho mỗi nàng công chúa của ta để tránh về sau mọi điều xích mích. Hai vương công nước Pháp và xứ Bơ-găn-đi, hai vị giai tế cao sang cùng rắp ranh công chúa út của ta, hai người qua chơi đây ướm hỏi cũng đã khá lâu, ta nên trả lời dứt khoát. Vậy, ta hỏi các con gái của ta, ngày nay ta đã từ thoái mọi phần: quyền lợi, đất đai, cũng như quan tâm việc nước; vậy thì trong các con, kẻ yêu ta nhất là ai, để cho ân trạch của ta biết mưa đổ xuống tấm lòng nào là nơi xứng đáng nhất. Gô-rơ-nin, công chúa đầu lòng của ta, cho con nói trước.

GÔ-RƠ-NIN – Thưa phụ vương, lòng con yêu phụ vương thực không lời nào tả xiết, con yêu phụ vương thiết tha hơn cả yêu ánh sáng, yêu vũ trụ, yêu tự do, yêu trên hết mọi vật quý giá nhất đời; yêu như yêu sự sống đầy duyên, đầy sức, đầy nhan sắc, đầy vinh quang; yêu như chưa có con yêu cha nào bằng, yêu như chưa có cha nào được con yêu đến thế; yêu tới mức không còn hơi sức nữa và yêu tới độ lời lẽ hóa nghèo nàn; con yêu cha thực vượt xa mọi bờ bến.

COR-ĐÊ-LI-A (nói riêng) – Cor-đê-li-a thì sao đây? Yêu mà im tiếng!

LIA – Cả cõi đất này, từ đây đến đấy, với bao nhiêu rừng cây bóng cả và đồng ruộng phì nhiêu, với bao nhiêu sông cá đầy nguồn cùng bãi bờ bát ngát, ta cho con làm nữ chủ. Đó là sở hữu của con và An-ba-ni, truyền cho con cháu đời đời. Nào, đến thứ nữ của ta thì nói sao? Rê-gan, con rất yêu quý của ta, vợ của Cor-nơ-uôn, con nói đi.

RÊ-GAN – Con với chị con đều đúc nên cùng một chất và so với chị, con biết mình con nào có kém chị? Nghe trong trái tim chân thật của con, con thấy lời chị con vừa thốt ra chính là tiếng của lòng con yêu kính đó; có điều lời ấy còn xa mới đạt tới độ nồng nàn. Con nói thực, con thù ghét mọi sinh thú ở đời, duy nhất chỉ thấy được hạnh phúc trong tấm tình con yêu đấng phụ vương rất tôn kính.

COR-ĐÊ-LI-A (nói riêng) – Hẩm hiu thay cho Cor-đê-li-a này! Không! Đâu đến nỗi vậy? Tình ta dào dạt còn phong phú hơn lời lẽ ta nhiều.

LIA – Thuộc về con và dòng dõi của con hưởng thụ đời đời là cả một phần ba phong tục đất nước đẹp tươi này, cũng rộng lớn, cũng hữu tình chẳng kém chi phần dành cho Gô-rơ-nin. Còn bây giờ, nào hòn ngọc báu rất nâng niu tuy út ít của ta, trang thục nữ thanh tân mà cả vườn nho nước Pháp và cả đồng cỏ sữa Bơc-gơ-đin đang cùng ganh nhau để chiếm được trái tim: con nói sao đây để đáng được hưởng phần ba đất nước còn trù phú hơn cả phần của hai chị con? Con nói đi.

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, con chẳng có gì đáng nói.

LIA – Chẳng có gì?

COR-ĐÊ-LI-A – Con chẳng có gì.

LIA – Chẳng có gì thì chẳng được gì hết. Nói đi nào!

COR-ĐÊ-LI-A – Tội thay cho con! Trái tim con, con không sao nâng nó lên đầu lưỡi được. Con yêu cha đúng theo đạo nghĩa kẻ làm con. Vậy đó thôi, không hơn không kém.

LIA – Thế nào, thế nào? Cor-đê-li-a? Con nên lựa lại lời mà nói, kẻo nữa con sẽ phải thiệt thòi nhiều!

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương của con, phụ vương đã sinh ra con, nuôi nấng con, thương yêu con; nghĩa nặng đó con xin đền đáp lại sao cho phải đạo; con vâng lời cha, yêu quý cha và hơn nữa, làm rõ ràng công đức phụ vương. Hai chị con nói là yêu cha đến trọn hết cả tấm tình yêu; nếu thực thế thì sao hai chị lại lấy chồng? Một ngày kia mà con lấy chồng thì vị phu tướng nào đưa tay ra đón lấy tâm nguyện của con cũng sẽ đón theo về phân nửa tấm tình con, phân nửa công phụng dưỡng với phân nửa bổn phận của con. Chắc chắn là con phải đừng lấy chồng như hai chị con mới có thể toàn tâm toàn ý dâng trọn tình con cho cha con được.

LIA – Cô nói đúng theo lòng cô đấy chứ?

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, vâng.

LIA – Ít tuổi thế mà đã vô tình đến thế sao?

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, ít tuổi thế nhưng mà chân thực.

LIA – Được lắm. Đem cái chân thực ấy đi mà làm của hồi môn. Vì rằng, thề với ánh sáng thần thiêng mặt trời, thề với bầu bí mật của Hê-cat và của trời đêm, thề với các tinh cầu có quyền năng cho ta được sống hay phải chết; tại đây, ta gạt bỏ hẳn mọi ân tình phụ tử, mọi quan hệ huyết mạch tông môn và từ đây ta coi mi vĩnh viễn là người dưng: đối với ta không vương, không bận. Đối với cái giống man rợ phải ăn thịt con mới đủ thỏa cơn thèm lòng ta gớm ghét như thế nào thì đối với mi, lòng ta cũng thế, hỡi kẻ trước đây đã từng là con gái của ta.

(Lược một đoạn: Vua Lia cho mời hai người cầu hôn công chúa út vào để bàn chuyện hôn sự. Trước mặt hai người cầu hôn, vua Lia vẫn nhất quyết không chia cho công chúa út chút của hồi môn nào, khiến cho công tước Bơ-găn-đi từ bỏ mối hôn sự.)

LIA – Vậy, ngài thôi nó là phải; vì nhân danh thứ quyền phép đã dựng nên ta, ta đã nói rõ cả với ngài về tài sản của nó rồi đấy! (Với vua nước Pháp) – Còn đối với vị anh quân đây, thì nếu ta lại đem gả cho Ngài kẻ mà ta gớm ghét, tức là làm tổn hại lớn cho tình hữu hảo của chúng ta; lòng ta sao nỡ? Vậy ta mong ngài chuyển hướng cầu duyên về một nơi xứng đáng hơn, chớ như kẻ khốn nạn kia thì tạo vật thiên nhiên cũng phải hổ ngươi vì có nó.

VUA PHÁP – Thực là chuyện kỳ dị! Có lẽ nào mà một người mà chỉ mới vừa đây thôi vẫn còn là châu báu nhất, nhà vua mở miệng là ban khen, coi là hương hoa tuổi thọ của Người, không ai tốt nết hơn, không ai đáng quý hơn, – vậy mà chỉ trong thoáng chốc lại phạm những tội gớm ghê, đến mất sạch sành sanh bao nhiêu từng ân huệ. Đến nỗi này thì: hoặc là tội lỗi nàng phải hết sức dị thường, bạo thiên nghịch địa; hoặc là lòng yêu thương của nhà vua nay đã hóa ra lẫn cẫn mất rồi! Nhưng muốn tin được là nàng có tội, họa chăng phải có một thứ tín điều mà nếu không có phép quỷ thần thì lý trí tôi không đời nào chịu chấp nhận.

COR-ĐÊ-LI-A – Tuy rằng lỗi của con là không biết khôn ngoan ngọt ngào đầu lưỡi, chỉ muốn làm hay hơn là nói giỏi, con cũng xin phụ vương truyền phán cho thiên hạ hay rằng, con mất ân sủng của phụ vương không phải vì bất cứ một hành vi nhơ nhuốc nào hoặc một bước lầm đường vô hạnh nào, mà chỉ vì con không có được ánh mắt tha thiết khẩn cầu, không có được thứ miệng đong đưa mà con vui lòng chịu thiếu, mặc dầu sự thiếu thốn đó đã khiến con mất luôn cả lòng từ ái của phụ vương.

LIA – Thà mày đừng sinh ra đời còn hơn là sinh ra lại làm thất ý ta như thế.

VUA PHÁP – Chỉ là thế thôi sao? Chỉ là chuyện một bản tính chậm lời, khéo làm mà vụng nói? Bơ-găn-đi tướng công, ngài trả lời cho nàng sao đây? Tình mà còn suy tính vấn vương thì còn tình đâu nữa? Ngài có yêu thương nàng? Bản thân nàng là một kho châu ngọc đó.

BƠ-GĂN-ĐI – Muôn tâu hoàng thượng, người cứ chỉ ban cho nguyên cái phần người đã hứa là tôi xin bái lĩnh Cor-đê-li-a về làm nữ công tước Bơ-găn-đi.

LIA – Ta không cho chi hết, ta đã thề là ta nhất quyết.

BƠ-GĂN-ĐI – Tôi đành lấy làm tiếc vậy thôi: vì nàng làm mất lòng cha, nên phải thiệt mất người chồng.

COR-ĐÊ-LI-A – Xin ngài Bơ-găn-đi yên tâm. Ngài tính lấy tài sản tôi làm đối tượng tình yêu, thì tôi không thể nào làm vợ ngài được.

VUA PHÁP – Nàng Cor-đê-li-a kiều diễm! Nàng giàu có biết bao khi chỉ có đôi bàn tay trắng, nàng càng thêm quý giá vì bị bỏ rơi, càng thêm đáng yêu bởi bị người khinh miệt. Nàng, cùng với đức hạnh của nàng, ta xin chiếm lĩnh. Ta đoạt cho ta được lắm chứ, cái phần mà thiên hạ rẫy ruồng gạt đi. Hỡi thiên địa thần minh! Lạ lùng thay, đối trước những lòng rẻ rúng giá băng kia, tình của ta trên muôn kính ngàn yêu thêm bừng cháy. Nàng công chúa không của hồi môn này, thưa hoàng thượng, tay không về với kẻ gặp phước may này, sẽ là hoàng hậu của tôi, của thần dân tôi, của cả nước Pháp thân yêu và tươi đẹp. Không một vị công tước nào của xứ Bơ-găn-đi ẩm ướt chuộc lại được nơi tôi người con gái bị hạ giá mà quý giá vô ngần này! Tạm biệt họ hàng đi, em Cor-đê-li-a! Mặc dầu người ta không tình không nghĩa. Thôi đành nơi này em mất hết nhưng chốn khác em lại được nhiều.

LIA – Thì đấy, nhà vua nước Pháp cứ việc đem nó về! Ngữ này, ta không còn chấp nhận là con gái của ta, cũng chẳng còn bao giờ ta thèm nhìn mặt nữa. Thôi đi đi! Đừng hòng ta thương, ta ân xá, hay ta ban một chút ơn lành! Nào mời, ngài công tước xứ Bơ-găn-đi.

(Lia, Bơ-găn-đi, Cor-nơ-uôn, An-ba-ni, Glô-xtơ và bọn tùy tùng vào.)

VUA PHÁP – Nàng từ biệt hai chị đi.

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa hai chị, ngọc báu của cha, Cor-đê-li-a không khỏi rơi châu khi từ biệt hai chị. Em biết lòng hai chị lắm, và nết của hai chị; vì tình ruột thịt, em không tiện gọi thẳng tên nó ra. Xin hai chị cư xử tốt với cha. Em phó thác cha cho những tấm lòng kia đã thốt nên lời tâm nguyện. Thương thay! Giá em vẫn được lòng thương của Người, thì em ưng thấy Người trong tay phụng dưỡng khác tốt hơn. Thôi, vĩnh biệt hai chị.

RÊ-GAN – Cô không phải dạy chúng tôi cách ăn ở.

GÔ-RƠ-NIN – Cô cứ gắng mà chiều đức phu quân của cô cho khéo, người ta đã cứu vớt cô khỏi chỗ khốn cùng. Cô chi li cả với điều vâng thuận ý cha; cho cô đáng đời, cô muốn tay trắng thì được tay trắng rồi đó.

COR-ĐÊ-LI-A – Thời gian rồi sẽ phơi bày ra những nhân tâm lẩn núp sau khôn khéo. Ai che giấu lỗi, thế nào cũng phải hối về sau. Mong cho các chị mọi điều thịnh vượng.

VUA PHÁP – Ta ra thôi, nàng Cor-đê-li-a mỹ lệ.

(Vua Pháp và Cor-đê-li-a vào.)

GÔ-RƠ-NIN – Em này, chị có nhiều điều rất cần bàn với em, quan hệ đến cả hai chị em ta! Chị chắc tối nay cha chúng ta lên đường.

RÊ-GAN – Đúng rồi, cha đi với chị đấy. Tháng sau thì đến lượt cha sang em.

GÔ-RƠ-NIN – Em xem, tuổi già tính nết cha đổi thay như thế đấy. Những điều trông thấy vừa đây không phải là chuyện nhỏ. Ông cụ vẫn yêu con Cor-đê-li-a hơn cả, vậy mà, đùng một cái, ruồng bỏ nó, đủ biết ông cụ thiếu suy nghĩ biết chừng nào?

RÊ-GAN – Bệnh não tuổi già! Với lại thực ra ông cụ cũng chẳng bao giờ biết giữ mình một tý gọi là có.

GÔ-RƠ-NIN – Thời ông cụ tỉnh táo phương cương nhất, cũng đã thường sinh ra cơn trận đùng đùng. Bây giờ, già rồi, bọn mình coi chừng không những rồi phải chịu đựng cái cố tật đã kinh niên mà còn phải tính đến cả những lúc dở chứng thất thường của cái tuổi khật khừ đâm cắm cảu.

RÊ-GAN – Thế nào rồi chúng mình chẳng bị ông cụ thình lình giáng cho những vố đáo để, như việc phóng trục lão Ken vừa rồi?

GÔ-RƠ-NIN – Lúc này ông cụ đang dở cuộc tiễn biệt nhà vua Pháp. Chị em ta hội ý với nhau ngay đi. Nếu cứ với tình trạng thế kia mà ông cụ vẫn nắm vững uy quyền thì chuyện tự ý thoái vị mới đây đối với chúng ta có thể trở thành một mối hậu họa.

RÊ-GAN – Chúng ta sẽ nghĩ kỹ vấn đề này.

GÔ-RƠ-NIN – Phải tính cách nào, càng sớm càng tốt.

(Trích Vua Lia, Uy-li-am Sếch-xpia)

Tóm tắt: Vua Lia là vở bi kịch năm hồi của Sếch-xpia. Nội dung vở kịch như sau:

     Vua Lia nước Anh đã già, có ba cô con gái là Gô-rơ-nin, Rê-gan và Cor-đê-ni-a. Nhà vua định chia vương quốc cho các con gái làm của hồi môn, rút lui khỏi công việc triều chính. Ông hỏi các con xem ai yêu mình nhất để quyết định việc phân chia. Sau khi quyết định việc phân chia xong xuôi, vua Lia lần lượt đến ở với hai công chúa. Nhưng không được bao lâu, họ trở mặt, thậm chí là can tâm đẩy ông ra khỏi nhà trong một đêm giông bão. Quá sốc trước sự bội phản của hai cô con gái, vua Lia đã hóa điên. 

     Bá tước Glô-xtơ có hai người con trai là Eđ-ga (con chính thức) và Eđ-mơn (con ngoài giá thú). Bá tước bị Eđ-mơn lừa gạt, hiểu nhầm rằng Eđ-ga phản bội để chiếm hết gia tài của mình. Ông cho người truy lùng Eđ-ga khắp nơi khiến chàng phải cải trang, chạy trốn. Trong khi đó, Eđ-mơn phản bội bá tước, khiến ông bị Cor-nê-uôn móc mắt. 

      Quân Pháp kéo đến trả thù cho vua Lia nhưng bại trận. Vua Lia và Cor-đê-li-a bị bắt. Eđ-mơn bí mật cho người đến sát hại hai cha con họ. Trong khi đó, Gô-rơ-nin, Rê-gan cùng muốn tằng tịu với Eđ-mơn. Gô-rơ-nin viết thư bày cho Eđ-mơn chồng cô là An-ba-ni để mình được tự do. Bức thư bị Eđ-ga bắt được và chuyển cho An-ba-ni. Eđ-mơn bị Eđ-ga trừng trị. Trước khi chết, Eđ-mơn kêu mọi người đi cứu vua Lia và Cor-đê-li-a, nhưng không kịp. Cor-đê-li-a bị tên lính thắt cổ chết. Nhà vua giết tên lính, ôm xác con gái, quá đau đớn, ông cũng từ giã cõi đời trong tiếng kèn lâm khốc. 

1
11 tháng 2

Trong đoạn trích hồi I của vở bi kịch Vua Lia, Sếch xpia đã xây dựng hình tượng vua Lia như một nhân vật vừa quyền uy, tự tin tuyệt đối vào bản thân, vừa mù quáng, nông nổi và đầy bi kịch. Qua cách ứng xử của ông với ba người con gái, đặc biệt là Cor đê li a, tác giả làm nổi bật sai lầm nghiêm trọng của một vị vua chuyên quyền, đồng thời đặt nền móng cho thảm kịch về sau.


Trước hết, vua Lia hiện lên là một ông vua đã già nhưng vẫn mang nặng tư duy độc đoán. Ông quyết định chia đất nước làm ba phần và tuyên bố thoái vị không phải vì lợi ích quốc gia mà chủ yếu để “cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan”, hưởng thọ an nhàn. Đáng chú ý hơn, việc phân chia giang sơn lại dựa trên một tiêu chí cảm tính: ai yêu ông nhất sẽ được hưởng nhiều nhất. Điều đó cho thấy ông đặt tình cảm chủ quan và lòng tự ái lên trên lí trí và trách nhiệm chính trị. Ông muốn được tâng bốc, muốn nghe những lời ngọt ngào để thỏa mãn cái tôi của mình. Khi Gô rơ nin và Rê gan dùng những lời lẽ khoa trương, giả dối để ca ngợi tình yêu dành cho cha, ông lập tức tin tưởng và ban cho họ phần đất rộng lớn.


Ngược lại, trước sự chân thực của Cor đê li a, vua Lia lại nổi giận. Ông không chấp nhận tình yêu “đúng theo đạo nghĩa kẻ làm con”, bởi nó không đáp ứng mong muốn được tôn vinh quá mức của mình. Từ một người cha từng yêu thương con út, ông sẵn sàng đoạn tuyệt “mọi ân tình phụ tử” chỉ vì bị tổn thương lòng tự ái. Hành động ấy thể hiện sự nóng nảy, cực đoan và thiếu suy xét. Ở đây, Sếch xpia đã khắc họa một bi kịch nhận thức: vua Lia không phân biệt được thật giả, không nhìn ra giá trị của sự chân thành, để rồi tự tay đẩy mình vào cô độc.


Tuy nhiên, hình tượng vua Lia không chỉ đơn thuần là một ông vua độc đoán mà còn là một con người đáng thương. Đằng sau cơn thịnh nộ là nỗi bất an của tuổi già, là khát khao được yêu thương và khẳng định giá trị bản thân. Chính vì quá cần tình yêu, ông lại trở nên mù quáng trước lời nịnh hót. Sai lầm của ông vừa mang tính cá nhân vừa phản ánh bi kịch của quyền lực khi tách rời lí trí và đạo đức.


Về nghệ thuật, Sếch xpia đã xây dựng nhân vật bằng hình thức đối thoại kịch giàu kịch tính. Lời thoại của vua Lia mang giọng điệu trang trọng, đanh thép, nhiều lời thề nguyền, thể hiện quyền uy và tính cách nóng nảy. Thủ pháp tương phản giữa lời lẽ hoa mĩ giả tạo của hai cô chị và sự chân thực giản dị của Cor đê li a càng làm nổi bật sự lầm lẫn của nhà vua. Xung đột kịch được đẩy lên cao ngay từ hồi đầu, tạo hiệu quả thẩm mĩ mạnh mẽ và báo hiệu một chuỗi bi kịch tiếp theo.


Như vậy, trong đoạn trích, vua Lia hiện lên là một nhân vật bi kịch điển hình: quyền lực nhưng thiếu sáng suốt, khao khát yêu thương nhưng lại tự tay đánh mất tình yêu chân thành. Hình tượng ấy không chỉ mở đầu cho thảm kịch gia đình và quốc gia mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về sự tỉnh táo, khiêm nhường và giá trị của chân thật trong đời sống con người.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích sau. Lớp VII: Đan Thiềm - Vũ Như Tô ĐAN THIỀM - Trời xui khiến tôi gặp ông ở chốn này. Thực là duyên kỳ ngộ. VŨ NHƯ TÔ - Tôi là một kẻ quê mùa, không biết những nhời mỉa mai bóng gió. ĐAN THIỀM - Đây là thực tình. Ông đừng nghi kỵ. Chính tôi đang muốn gặp ông để nói...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích sau.

Lớp VII: Đan Thiềm - Vũ Như Tô

ĐAN THIỀM - Trời xui khiến tôi gặp ông ở chốn này. Thực là duyên kỳ ngộ.

VŨ NHƯ TÔ - Tôi là một kẻ quê mùa, không biết những nhời mỉa mai bóng gió.

ĐAN THIỀM - Đây là thực tình. Ông đừng nghi kỵ. Chính tôi đang muốn gặp ông để nói chuyện.

VŨ NHƯ TÔ - Hỏi chuyện tôi! Để làm gì? Các người không thể nào hiểu được chuyện tôi, các người nông nổi...

ĐAN THIỀM - Ông mới gặp tôi, lấy cớ gì mà bảo tôi nông nổi?

VŨ NHƯ TÔ - Người ăn chơi thì đều nông nổi.

ĐAN THIỀM - Sao ông bảo tôi là người ăn chơi?

VŨ NHƯ TÔ - Cung nữ đều là tuồng ăn chơi. Huống chi trông quầng mắt thâm kia, tôi đoán chắc là người trong túy hương mộng cảnh.

ĐAN THIỀM - Ông nhầm lắm. Đôi mắt thâm quầng này là do những lúc thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét.

VŨ NHƯ TÔ - Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM - Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ - Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM - Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tụy quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ - Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM - Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ - Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM - Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ - Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM - Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ - Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

ĐAN THIỀM - Chính vì thế mà ông càng đáng trọng.

VŨ NHƯ TÔ - Trọng để làm gì? Tìm danh vọng chúng tôi đã chẳng chọn nghề này. Đời lẩn lút...

ĐAN THIỀM - Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ - Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM - Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ - Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM - Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được.

VŨ NHƯ TÔ - Sao vậy?

ĐAN THIỀM - Không được. Vì đức Hồng Thuận sẽ bắt ông chịu cực hình và còn đem chu di chín họ nhà ông. Ông đã tu được bao nhiêu công quả mà phạm vào tội đại ác ấy?

VŨ NHƯ TÔ - Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM - Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ - Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM - Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ - Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM - Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố.

VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài?

ĐAN THIỀM - Phải.

VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM - Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một tòa đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ - Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

 

1
11 tháng 2

Trong đoạn trích lớp VII vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa hình tượng Vũ Như Tô như một nghệ sĩ tài hoa, giàu khát vọng sáng tạo nhưng đồng thời mang trong mình bi kịch sâu sắc giữa lí tưởng nghệ thuật và hiện thực xã hội. Qua cuộc đối thoại với Đan Thiềm, nhân vật hiện lên với vẻ đẹp của tài năng, nhân cách và cả những giới hạn đầy mâu thuẫn.


Trước hết, Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, ý thức sâu sắc về giá trị tài năng của mình và nỗi đau của người có tài trong một chế độ mục nát. Chàng kể lại cảnh những người thợ giỏi bị “đóng cũi giải kinh”, bị giam cầm, bị đối xử tàn nhẫn chỉ vì dám sáng tạo. Bản thân chàng cũng từng chịu cảnh gông cùm, mẹ chết trước mắt, gia đình tan nát. Những chi tiết ấy làm nổi bật một hiện thực tàn bạo, đồng thời cho thấy Vũ Như Tô là người có lòng tự trọng và khí phách. Chàng từng thề “đành chết chứ không chịu làm gì” cho hôn quân, thể hiện thái độ kiên quyết không đem tài năng phục vụ cái xấu.


Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ là một người thợ tài giỏi mà còn là một nghệ sĩ mang khát vọng lớn lao. Chàng đau đớn vì “nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù”, vì đất nước không có nổi một công trình xứng tầm. Nỗi khổ tâm lớn nhất của chàng là “biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được”. Tài năng đối với chàng vừa là ân huệ vừa là gánh nặng. Chính khát vọng sáng tạo một công trình vĩ đại cho dân tộc đã khiến chàng rung động trước lời thuyết phục của Đan Thiềm. Khi nghe bà nói về việc “mượn tay vua” để thực hiện mộng lớn, Vũ Như Tô như được khai sáng, từ chỗ phản kháng quyết liệt chuyển sang chấp nhận xây Cửu Trùng Đài.


Ở đây, bi kịch của Vũ Như Tô bắt đầu bộc lộ rõ. Chàng tin rằng có thể tách nghệ thuật ra khỏi mục đích chính trị, tin rằng công trình sẽ “còn lại về muôn đời” bất chấp người xây dựng là hôn quân. Đó là lí tưởng thuần túy, trong sáng nhưng thiếu sự gắn bó với đời sống nhân dân đang lầm than. Chàng nghĩ đến vinh quang của đất nước, của hậu thế, nhưng chưa nhìn thấy nỗi khổ của dân chúng phải đổ mồ hôi, xương máu để xây đài. Vì vậy, Vũ Như Tô vừa đáng trọng vừa đáng thương: đáng trọng vì tài năng và khát vọng lớn, đáng thương vì ảo tưởng nghệ thuật thuần túy trong một xã hội rối ren.


Về nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng xây dựng nhân vật chủ yếu qua đối thoại kịch sắc sảo, giàu tính tranh luận. Lời nói của Vũ Như Tô khi thì gay gắt, khi đầy đau đớn, khi lại bừng sáng hi vọng, thể hiện rõ diễn biến tâm lí phức tạp. Xung đột giữa lí tưởng nghệ thuật và hiện thực tàn khốc được đặt ra gay gắt, tạo nên chiều sâu tư tưởng và sức ám ảnh thẩm mĩ.


Như vậy, Vũ Như Tô là hình tượng bi kịch tiêu biểu: một nghệ sĩ thiên tài khao khát cống hiến cho cái đẹp nhưng rơi vào vòng xoáy quyền lực và lịch sử. Qua nhân vật này, tác giả đặt ra vấn đề lớn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa tài năng cá nhân và lợi ích nhân dân, để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc cho người đọc.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) làm rõ đặc trưng nhân vật hài kịch qua nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau.   Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây. PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy. ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) làm rõ đặc trưng nhân vật hài kịch qua nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau.

 

Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục

ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây.

PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi bít tất lụa bác gửi đến cho tôi chật quá, tôi khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã đứt mất hai mắt rồi.

PHÓ MAY – Rồi nó dãn ra thì lại rộng quá ấy chứ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì sẽ rộng thật. Lại đôi giày bác bảo đóng cho tôi làm tôi đau chân ghê gớm.

PHÓ MAY – Thưa ngài, đâu có.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đâu có là thế nào!

PHÓ MAY – Không, đôi giày không làm ngài đau đâu mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi, tôi bảo là nó làm tôi đau.

PHÓ MAY – Ngài cứ tưởng tượng ra thế.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!

PHÓ MAY – Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác. Tôi thách các thợ giỏi nhất mà làm nổi đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi! 

PHÓ MAY – Nào ngài có bảo là ngài muốn may xuôi hoa đâu!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại cần phải bảo may hoa xuôi ư?

PHÓ MAY – Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả. 

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Những người quý phái mặc áo ngược hoa ư?

PHÓ MAY – Thưa ngài, vâng.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ô! Thế thì bộ áo này may được đấy.

PHÓ MAY – Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Không, không.

PHÓ MAY – Xin ngài cứ việc bảo.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi đã bảo không mà. Bác may thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?

PHÓ MAY – Còn phải nói! Tôi đố hoạ sĩ nào lấy bút mà vẽ hầu ngài bộ áo vừa khít hơn được. Ở nhà tôi có một chú thợ phụ may quần cộc thì tài nhất thiên hạ; và một chủ khác là anh hùng của thời đại về may áo chẽn đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Bộ tóc giả và lông đính mũ có được chững chạc không?

PHÓ MAY – Chững chạc tuổi!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nhìn áo của bác phó may) – Ô kìa, bác phó! Vải này là thứ hàng tôi đưa bác may bộ lễ phục trước của tôi đây mà. Tôi nhận ra đúng nó rồi.

PHÓ MAY – Chẳng là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã gạn lại một áo để mặc.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải.

PHÓ MAY – Mời ngài mặc thử bộ lễ phục chứ ạ?

ÔNG GIUỐC-DANH – Ừ, đưa đây tôi.

PHÓ MAY – Khoan đã, không thể mặc như thế được. Thứ áo này phải mặc đúng thể thức, tôi có đem người đến để mặc hầu ngài theo nhịp điệu. Ớ này ! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ lễ phục này hầu ngài theo cách thức mặc cho các nhà quý phái. 

(Bốn chú thợ phụ ra, hai chú cởi tuột quần cộc của ông Giuốc-đanh mặc lúc tập kiếm vừa rồi, hai chú thì lột áo ngắn rồi họ mặc bộ lễ phục mới vào cho ông. Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục xong, đi đi lại lại giữa đám thợ, phô áo mới cho họ xem có được không. Cởi áo, mặc áo, chân bước, miệng nói, tất cả đều theo nhịp của dàn nhạc.)

THỢ PHỤ – Bẩm ông lớn, xin ông lớn ban cho anh em ít tiền uống rượu.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Anh gọi ta là gì?

THỢ PHỤ – Bẩm, ông lớn ạ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ông lớn ư? Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là "ông lớn". Đây, ta thưởng về tiếng "ông lớn" đây này!

THỢ PHỤ – Bẩm cụ lớn, anh em chúng tôi đội ơn cụ lớn lắm lắm.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – "Cụ lớn", ồ, ồ, cụ lớn! Chú mày thong thả tí đã. Cái tiếng "cụ lớn" đáng thưởng lắm. "Cụ lớn" không phải là một tiếng tầm thường đâu nhé. Này, cụ lớn thưởng cho các chú đây.

THỢ PHỤ – Dám bẩm đức ông, anh em chúng tôi sẽ đi uống rượu chúc sức khoẻ đức ông.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại "đức ông" nữa! Hà hà! Hà hà! Các chú hãy đợi tí, đừng đi vội. Ta là đức ông kia mà! (nói riêng) Của đáng tội, nếu nó tôn ta lên bậc tướng công, thì nó sẽ được cả túi tiền mất. Đây nữa này, thưởng cho chú về tiếng "đức ông" đấy nhé.

THỢ PHỤ – Dạ, bẩm đức ông, anh em chúng tôi xin bái tạ ơn người.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nói riêng) – Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả tiền cho nó thôi.

(Bốn người thợ phụ vui mừng nhảy múa.)

(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang, trong Tuyển tập kịch Mô-li-e, NXB Sân khấu, Hà Nội, 1994)

Tóm tắt: Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trích trong vở kịch 5 hồi Trưởng giả học làm sang (1670) và là lớp kịch kết thúc hồi II. Nhân vật trung tâm của vở kịch là ông Giuốc-đanh, tuổi ngoài bốn mươi, con một nhà buôn giàu có. Tuy dốt nát, quê kệch, nhưng ông muốn học đòi làm sang. Nhiều kẻ lợi dụng tính cách đó, săn đón, nịnh hót ông để moi tiền. Ông không tán thành tình yêu của con gái là Luy-xin với chàng Clê-ông chỉ vì chàng chẳng phải là quý tộc. Cuối cùng, nhờ mưu mẹo của Cô-vi-en, là đầy tớ của mình, Clê-ông cải trang làm hoàng tử Thổ Nhĩ Kì đến hỏi Luy-xin làm vợ và được ông Giuốc-đanh ưng thuận.

1
16 tháng 2 2025

Rd tey

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau: THẦN MƯA Thần Mưa là vị Thần hình rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau:

THẦN MƯA

Thần Mưa là vị Thần hình rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi. Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần Người ở hạ giới phải lên kiện Trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày.
Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình Thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành rồng hút nước phun mưa để giúp sức Thần Mưa. (…) Khi chiếu Trời ban xuống dưới Thuỷ phủ, vua Thuỷ Tề loan báo cho các giống dưới nước ganh đua nhau mà dự thi. Trời cắt một viên Ngự sử ra sát hạch. Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa rồng. Trong một tháng trời, bao nhiêu loài thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sóng. Có con cá rô nhảy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm. Có con tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa rồng, nhưng đến lượt thứ ba thì đuối sức ngã bổ xuống, lưng cong khoăm lại... Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước. Đến lượt cá chép vào thi thì bỗng gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng, lọt vào cửa Vũ Môn. Cá chép đỗ, vây, đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dạng bộ oai nghi, cá chép hóa rồng phun nước làm ra mưa. Bởi vậy, về sau người ta có câu ví rằng:
Gái ngoan lấy được chồng khôn,
Cầm như cá vượt Vũ Môn hóa rồng.

(Theo Hoàng Minh, Việt Dũng, Thu Nga, Thần thoại Việt Nam chọn lọcNxb Thanh Niên, 2019)

1
11 tháng 2

Văn bản Thần Mưa là một truyện thần thoại tiêu biểu của dân gian Việt Nam, nhằm lí giải hiện tượng mưa nắng và gửi gắm những ước mơ, quan niệm của con người xưa về tự nhiên và cuộc sống. Qua câu chuyện, tác giả dân gian đã thể hiện chủ đề ca ngợi sức mạnh của tài năng, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên để đạt tới thành công, đồng thời phản ánh nhận thức hồn nhiên của người xưa về thế giới tự nhiên.


Trước hết, văn bản giải thích nguồn gốc của mưa thông qua hình tượng Thần Mưa. Thần được miêu tả có hình rồng, bay xuống hút nước biển, nước sông rồi phun lên trời tạo thành mưa. Cách lí giải này thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa khi chưa có kiến thức khoa học về vòng tuần hoàn của nước. Đồng thời, câu chuyện còn lí giải hiện tượng hạn hán, lũ lụt bằng tính “hay quên” của Thần Mưa, qua đó cho thấy con người đã nhân hóa tự nhiên, gán cho thiên nhiên tính cách giống con người để dễ hiểu, dễ hình dung.


Đặc biệt, phần kể về cuộc thi vượt Vũ Môn để hóa rồng làm nổi bật chủ đề ca ngợi ý chí và tài năng. Nhiều loài thủy tộc tham gia nhưng đều thất bại vì chưa đủ sức vượt qua ba đợt sóng dữ. Chỉ có cá chép kiên cường, mạnh mẽ mới vượt qua thử thách và hóa rồng. Hình ảnh cá chép vượt Vũ Môn trở thành biểu tượng cho sự nỗ lực, kiên trì và khát vọng đổi đời. Qua đó, nhân dân gửi gắm niềm tin rằng ai có ý chí và tài năng thực sự sẽ đạt được thành công.


Về nghệ thuật, truyện mang đậm đặc trưng của thể loại thần thoại. Yếu tố tưởng tượng, kì ảo được sử dụng xuyên suốt như hình ảnh thần hình rồng, cuộc thi vượt sóng, cá chép hóa rồng. Biện pháp nhân hóa giúp các lực lượng tự nhiên trở nên sinh động, gần gũi. Cách kể chuyện ngắn gọn, rõ ràng, giàu hình ảnh tạo sức hấp dẫn cho người đọc. Đặc biệt, việc kết thúc bằng câu tục ngữ “cá vượt Vũ Môn hóa rồng” làm tăng tính khái quát và ý nghĩa giáo dục của câu chuyện.


Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, Thần Mưa không chỉ giải thích hiện tượng tự nhiên một cách hồn nhiên mà còn truyền tải bài học sâu sắc về ý chí vươn lên. Văn bản vì thế vừa giàu giá trị nhận thức, vừa mang ý nghĩa nhân văn và thẩm mĩ bền vững.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nhân vật "Thần Lửa A Nhi" trong văn bản sau:  THẦN LỬA A NHI Thần Lửa A Nhi là một trong những vị thần lớn nhất và lâu đời nhất của Ấn Độ. Thần rất cao lớn, da thịt đỏ au, có bảy cánh tay màu sắc như cầu vồng, lưỡi dài và lanh lẹ lạ thường.   Chính thần đã tung lên trời quả cầu lửa sưởi ấm chúng ta, nung chín cây, lúa, đỗ, ngày...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nhân vật "Thần Lửa A Nhi" trong văn bản sau: 

THẦN LỬA A NHI

Thần Lửa A Nhi là một trong những vị thần lớn nhất và lâu đời nhất của Ấn Độ. Thần rất cao lớn, da thịt đỏ au, có bảy cánh tay màu sắc như cầu vồng, lưỡi dài và lanh lẹ lạ thường.
  Chính thần đã tung lên trời quả cầu lửa sưởi ấm chúng ta, nung chín cây, lúa, đỗ, ngày ngày soi sáng cho chúng ta làm ăn. Chính thần thắp các vì sao lên, nếu không đêm tối sẽ sâu thẳm và rùng rợn biết bao. Thần có phép phân thân[1] nên thần ở khắp mọi nhà, vào bếp nấu thức ăn, đốt đèn rọi trang sách. Không có Thần ở trong nhà, con người sẽ đói, rét, sợ sệt, sống không khác gì loài cầm thú.
  Thần có tính nóng vội, lại phải ở khắp nơi, không coi xuể công việc, nên đôi lúc vô tình gây thiệt hại cho sinh linh[2] và hoa cỏ.
  Một hôm Thần Lửa A Nhi giúp người đốt cỏ dại ở ven rừng. Mải lo đi giúp nơi khác nữa, thần không về dập lửa kịp thời, nên lửa cháy vào rừng, lan rộng ra nhanh chóng, trong rừng có năm mẹ con chim Đầu Rìu. Mẹ chim kêu than: con mình chưa biết bay, phen này mẹ con chắc bị thiêu sống.
  Bỗng chim nghĩ được một kế cứu con:
  - Các con ơi, đằng kia có cái hang chuột. Các con hãy vào đấy, mẹ sẽ khỏa cát lên lấp tạm, khi lửa tắt mẹ sẽ đến đón các con.
  - Nhưng mẹ ơi - một con chim thưa - con chuột to lắm, nó sẽ ăn thịt chúng con mất.
  - Không đâu, bé yêu ạ. Con chuột ở cái hang này đã bị diều hâu bắt rồi, chính mẹ trông thấy.
  - Còn có những con chuột khác, mẹ ạ - một chim con nữa nói - Bị chuột ăn thì đau đơn và nhục nhã quá, mẹ ơi, thà chết thiêu còn hơn.
  - Bị thiêu nóng lắm, các con ạ. Chỉ có một cách là mẹ xòe hai cánh ra ấp các con dưới bụng, che lửa cho các con. Mẹ sẽ chết cháy còn các con may chăng sống sót.
  - Không, không mẹ ơi! Không đời nào! - Bốn chú chim con đồng thanh kêu lên. Rồi chú khôn nhất nói: “Nếu mẹ chết thì chúng con cũng sẽ chết đói, chết khát thôi. Và họ Đầu Rìu nhà ta sẽ tuyệt giống, tuyệt nòi. Mẹ còn trẻ lắm. Thoát nạn này, mẹ sinh một lũ em. Mẹ hãy bay đi, bay nhanh đi, lửa đến rồi. Chúng con van mẹ”.
  - Mẹ trốn một mình sao đành chứ?
  - Trốn đi, trốn đi mẹ ơi! - Bốn chú chim con lại đồng thanh kêu lớn - Bay nhanh đi, nếu không chúng con đâm đầu vào lửa cho mà xem.
  Mấy con chim con vỗ lạch bạch những đôi cánh chưa có lông rắp[3] xông vào lửa. Chim mẹ hoảng quá, đành phải bay đi.
  Bấy giờ bốn anh em chụm đầu vào nhau kêu cầu thần Lửa.
  - Thần Lửa A Nhi quảng đại[4] ôi! Chúng con hiện nay mất mẹ, lát nữa sẽ mất xác. Rồi mẹ chúng con sẽ vì xót xa mà chết héo chết khô. Chỉ có ngài là cứu được chúng con hỡi Thần A Nhi nhân hậu[5].
  Bỗng có tiếng vang vọng từ xa:
  - Các con đừng lo sợ. Tai họa sắp qua rồi. Và mẹ các con sẽ về với các con.
  Đó là tiếng của Thần Lửa. Thần đã trở về và kịp nghe tiếng kêu thảm thiết của mấy chú chim con. Thần dập tắt ngay ngọn lửa hung dữ, liền đó chim đầu rìu mẹ cũng bay về.
  Cảm tạ Thần A Nhi nhân hậu, năm mẹ con nhuộm đỏ chùm lông mũ của mình, ngụ ý thờ Thần Lửa trên đầu.

(Theo Thần thoại Ấn Độ

Chú thích:

[1] Phép phân thân: theo sự tin tưởng của người xưa, đây là phép lạ, có thể phân chia thân mình ra để cùng một lúc có mặt và hoạt động ở nhiều nơi khác nhau.
[2] Sinh linh (từ cũ): nhân dân, dân chúng.
[3] Rắp: sắp sửa, ở đây ý chỉ lông măng.
[4] Quảng đại: rộng lớn, chỉ đức tính rộng rãi, độ lương.
[5] Nhân hậu: có lòng thương người (nhân) và ăn ở tốt, rộng rãi với mọi người (hậu).

1
11 tháng 2

Trong văn bản Thần Lửa A Nhi, nhân vật Thần Lửa được xây dựng với vẻ đẹp vừa kì vĩ vừa gần gũi, thể hiện quan niệm của người xưa về sức mạnh và ý nghĩa của lửa trong đời sống. Trước hết, A Nhi hiện lên với hình dáng phi thường, cao lớn, da đỏ au, có bảy cánh tay nhiều màu sắc. Những chi tiết ấy làm nổi bật quyền năng và vị thế của một vị thần lớn, lâu đời trong thần thoại Ấn Độ. Thần chính là nguồn sáng, nguồn nhiệt, đem lại sự sống cho con người, sưởi ấm, nấu chín thức ăn, thắp sáng đêm tối. Nhờ có Thần Lửa, con người thoát khỏi cảnh đói rét, u tối và tiến gần hơn đến đời sống văn minh.


Tuy nhiên, nhân vật không chỉ được khắc họa ở phương diện quyền năng mà còn mang nét tính cách rất “người”. Thần nóng vội, đôi khi vô tình gây thiệt hại cho muôn loài. Chi tiết này khiến nhân vật trở nên chân thực, không hoàn toàn hoàn hảo. Quan trọng hơn, khi nghe tiếng kêu cầu của bốn chú chim con, Thần đã kịp thời trở lại dập tắt ngọn lửa. Hành động ấy thể hiện lòng nhân hậu, quảng đại và ý thức trách nhiệm.


Qua hình tượng Thần Lửa A Nhi, tác giả dân gian đã gửi gắm sự tôn kính đối với lửa, đồng thời khẳng định khát vọng về một sức mạnh vừa to lớn vừa giàu tình thương, luôn bảo vệ và che chở cho sự sống.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và hình tượng nhân vật "bé Em" trong truyện ngắn sau: ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: - Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và hình tượng nhân vật "bé Em" trong truyện ngắn sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó. 

(Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học)

1
11 tháng 2

Trong truyện ngắn Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng một câu chuyện giản dị mà giàu ý nghĩa nhân văn về tình bạn tuổi thơ và sự trưởng thành trong nhận thức của trẻ nhỏ. Qua hình tượng nhân vật bé Em, tác giả làm nổi bật chủ đề ca ngợi tình bạn chân thành, sự biết nghĩ cho người khác và vẻ đẹp của lòng sẻ chia.


Trước hết, bé Em hiện lên với những nét hồn nhiên rất đúng với tâm lí trẻ con. Khi được má mua cho áo đầm hồng mới, bé háo hức tưởng tượng cảnh mình “đẹp như tiên”, muốn khoe với bạn để “tụi bạn lé con mắt”. Sự thích thú, muốn được chú ý ấy là tâm lí tự nhiên của một đứa trẻ trong dịp Tết. Lúc hỏi Bích về đồ mới, bé còn có chút vô tư, thậm chí hơi tự hào khi nói mình có bốn bộ đồ. Những chi tiết ấy khiến nhân vật trở nên chân thật, gần gũi.


Tuy nhiên, điểm đáng quý ở bé Em là sự nhạy cảm và biết nghĩ cho bạn. Khi nghe Bích chỉ có một bộ đồ mới và phải nhường cho các em nhỏ, bé Em “mất hứng hẳn”, “lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không”. Sự giằng co trong tâm trạng cho thấy bé đã nhận ra hoàn cảnh khó khăn của bạn. Đặc biệt, đến mùng hai, bé không mặc chiếc đầm hồng nổi bật mà chọn bộ đồ giản dị, “hai đứa mặc đồ hơi giống nhau”. Hành động ấy thể hiện sự tinh tế: bé sợ nếu mình diện áo đẹp quá, bạn sẽ buồn. Bé nghĩ “đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được”, một suy nghĩ tuy mộc mạc nhưng chứa đựng sự công bằng và tôn trọng tình bạn.


Qua nhân vật bé Em, tác giả khẳng định chủ đề: tình bạn chân thành quan trọng hơn vật chất hay sự hơn thua. Hạnh phúc không nằm ở việc khoe khoang áo đẹp mà ở sự đồng cảm và chia sẻ. Bé Em từ chỗ háo hức, có chút khoe khoang đã trưởng thành hơn trong suy nghĩ, biết đặt cảm xúc của bạn lên trên niềm vui riêng.


Về nghệ thuật, truyện được kể bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất đời thường. Tác giả xây dựng nhân vật qua đối thoại tự nhiên, ngôn ngữ Nam Bộ mộc mạc tạo cảm giác chân thật. Diễn biến tâm lí bé Em được miêu tả tinh tế qua những chi tiết nhỏ như ánh mắt, sự “lựng khựng”, suy nghĩ thầm kín. Chính những chi tiết giản dị ấy làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.


Như vậy, bé Em là hình tượng đẹp của tình bạn tuổi thơ: hồn nhiên mà giàu lòng thương. Qua nhân vật này, truyện Áo Tết gửi gắm thông điệp ấm áp về sự sẻ chia và trân trọng bạn bè, khiến người đọc cảm động và suy ngẫm.

Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư). Biển người mênh mông Nguyễn Ngọc Tư     [...] Hồi ngoại Phi còn sống, thấy tóc anh ra hơi liếm ót bà đã cằn nhằn: "Cái thằng, tóc tai gì mà xấp xãi, hệt du côn". [...] Phi không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về.  ...
Đọc tiếp

Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư).

Biển người mênh mông

Nguyễn Ngọc Tư

    [...] Hồi ngoại Phi còn sống, thấy tóc anh ra hơi liếm ót bà đã cằn nhằn: "Cái thằng, tóc tai gì mà xấp xãi, hệt du côn". [...] Phi không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về.

   Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại. [...] 

    Phi mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Cũng như nhiều người ở Rạch Vàm Mấm này, ông ngờ rằng má Phi chắc không phải bị tên đồn trưởng ấy làm nhục, hắn lui tới ve vãn hoài, lâu ngày phải có tình ý gì với nhau, nếu không thì giữ cái thai ấy làm gì, sinh ra thằng Phi làm gì. Ngoại Phi bảo: "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má".

    [...] Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. [...] Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, tướng tá, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay. [...] Hết lớp Mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. [...]

    Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi. [...] Má anh lâu lâu đến, hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông già Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó.

    Ông già Sáu mới dọn lại thuê một căn chung vách với nhà Phi. Ông cũng nghèo, lúc chuyển đến đồ đạc chỉ gói gọn bốn cái thùng các tông. [...]. Ông chỉ tay vô cái lồng trùm vải xanh, trong đó có con bìm bịp. [...]

    [...] Ông kể, hồi trẻ, ông toàn sống trên sông, ông có chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ nầy xứ nọ. [...] Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi: "Vậy bác Sáu gái đâu rồi?". [...] Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim: "Cổ đi rồi. Sống khổ quá nên cổ bỏ qua. Cổ lên bờ, không từ giã gì hết, bữa đó đúng là qua bậy, qua nhậu xỉn quá trời, rồi cũng có cự cãi mấy câu, cảnh nhà không con nên sanh buồn bực trong lòng, qua có hơi nặng lời, cổ khóc. Lúc thức dậy thì cổ đã đi rồi. Qua đã tìm gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò rồi mà chưa thấy. Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ.". [...]

    Rồi một bữa, ông bày ra bữa rượu để từ giã Phi: "Cha, để coi, chỗ nào chưa đi thì đi, còn sống thì còn tìm. Qua nhờ chú em một chuyện, chú em nuôi dùm qua con quỷ sứ nầy. Qua yếu rồi, sợ có lúc giữa đường lăn ra chết, để con "trời vật" nầy lại không ai lo. Qua tin tưởng chú em nhiều, đừng phụ lòng qua nghen.". 

    [...] Ông đi rồi, chỉ còn lại Phi và con bìm bịp.

    [...] Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại. 

(Theo isach.infor)

Chú thích: 

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là cây bút mang đậm dấu ấn Nam Bộ. Nguyễn Ngọc Tư đã thu hút sự chú ý của bạn đọc ngay từ những trang viết đầu tay, đồng thời được giới chuyên môn và các nhà phê bình văn học đánh giá cao. 

Qua: từ người lớn tuổi dùng để tự xưng một cách thân mật khi nói với người vai dưới.

Biểu: bảo.

Bầy hầy: bừa bãi, luộm thuộm.

Ót: gáy.

Đương thúng: đan thúng.

Rầy: mắng.

Ròng: (nước thủy triều) rút xuống.

Tía: cha.

Cổ: cô ấy.

1
17 tháng 4 2025

câu trar lio

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của văn bản sau: MÙI RƠM RẠ QUÊ MÌNH (1) Tôi sinh ra từ một vùng sâu vùng xa ở bưng biền Đồng Tháp, lớn lên giữa hương đồng cỏ nội. Nơi tôi sống ruộng lúa không hẳn là thẳng cánh cò bay mà đủ ngan ngát mùi rơm rạ sau mỗi mùa gặt.   (2) Đối với những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê thì dường như cánh đồng...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của văn bản sau:

MÙI RƠM RẠ QUÊ MÌNH

(1) Tôi sinh ra từ một vùng sâu vùng xa ở bưng biền Đồng Tháp, lớn lên giữa hương đồng cỏ nội. Nơi tôi sống ruộng lúa không hẳn là thẳng cánh cò bay mà đủ ngan ngát mùi rơm rạ sau mỗi mùa gặt.  

(2) Đối với những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê thì dường như cánh đồng đã trở thành một phần ký ức chẳng thể nào quên, bởi nó gắn liền với tuổi thơ - phần thời gian trong trẻo nhất của một đời người.  

(3) Trong ký ức của tôi, bức tranh đồng quê sống động một cách kỳ lạ. Đó là những sân phơi trải đầy lúa vàng, tụi con nít vẫn hay đi tới đi lui trên những thảm lúa ngoài sân để lúa mau khô, những bước chân nhỏ xinh in ngang dọc trên đệm lúa vàng. Chúng bước nhanh thật nhanh để tránh cái nắng trên đầu và cái nóng hừng hực dưới chân. Ngày mùa trong tôi còn là những ụ rơm, nhánh rạ trơ ra sau vụ gặt. Đâu đâu cũng thấy rơm rạ ngút ngàn, vàng những lối đi.  

(4) Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi. Mùi rơm rạ là mùi của đồng ruộng, mùi của mồ hôi ba ngày vác cuốc ra đồng, mùi của niềm vui mùa lúa trúng, mùi nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ sau mỗi vụ thất thu.  

(5) Nồi cơm mới thơm lừng, không những thơm bởi hạt gạo mà còn vì được đun bằng bếp rơm, lửa cháy bùng, cơm sôi ùng ục. Đó là cái mùi cứ phảng phất theo tôi, để rồi những tháng năm sau đó tôi đi khắp mọi miền, đi qua những đồng lúa xanh tít mắt bất chợt nhớ đến mùi thơm ấy, mùi hương của rơm rạ và mùi của chén gạo thơm hương lúa mới. Cái mùi ấy ngan ngát trong lồng ngực không dễ quên của biết bao con người lớn lên từ ruộng đồng như tôi.  

(6) […] Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi… sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc. Chao ôi, cái mùi rạ nồng nồng khó tả.  

(7) Mỗi lần về nhà đúng mùa gặt lúa, tôi hít lấy một hơi thật sâu như muốn nuốt hết cái không khí ấy, nhớ về mình còn là đứa trẻ của những tháng năm xưa. Những tháng năm đầu trần ngồi máy kéo ra đồng nghịch rơm, những tháng năm còn được nằm trọn trong vòng tay của ba mẹ.  

(8) Có sợi rơm nào bay theo gió vương qua cành lá non, phảng phất hương vị của mùa mới, mùa của yêu thương, ước vọng và hy vọng. Tôi mang theo những khát khao, những ước mơ của mình gửi vào hương vị đó để thấy ấm áp, góp nhặt yêu thương cho riêng mình.  

(9) Những kí ức tuổi thơ gắn liền với mùi rơm rạ quê hương bỗng chốc ùa về làm cho con đường đến sân bay trở nên ngắn ngủi. Tôi và anh tài xế công nghệ kia tạm gác lại những ký ức miền Tây thân thương của mình để hoà vào nhịp sống hối hả. Tôi tin là nó chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người rồi đến khi gặp người “rà đúng tần số” hoặc đôi khi chỉ cần nhắc về hai tiếng miền Tây thì những ký ức thân thương ấy lại ào ạt ùa về. Đã là tuổi thơ, là quê hương thì làm sao mà quên cho được

(Ngọc Bích, Nghĩa tình miền Tây, NXB Hồng Đức, 2022, tr. 41 - 44)

4
17 tháng 12 2025

Nghệ thuật là lĩnh vực của tình cảm thẩm mĩ, đó là một quá trình lao động khổ hạnh và gian lao. Cái thực cái tình như hai nguồn sóng giao thoa để đem lòng cộng hưởng lên trái tim người viết, người nghe, người đọc. Văn bản “Mùi rơm rạ quê mình” là một tác phẩm đậm đà chất thơ, mang đậm hương vị của miền quê, của tuổi thơ và ký ức không thể phai mờ giữa dòng cảm xúc bồi hồi, sâu lắng của tác giả. Qua đó, tác giả đã dùng mùi rơm rạ – một hình ảnh quen thuộc của vùng quê sau mỗi mùa gặt – như một chất xúc tác mạnh mẽ để gợi nhớ về những kỷ niệm thanh xuân, về những cảm xúc chan chứa tình yêu thương và nỗi niềm khôn nguôi đối với quê hương. Bài viết không chỉ thể hiện rõ nét nội dung mà còn sở hữu nghệ thuật ngôn từ tinh tế, giàu cảm xúc, đưa người đọc lạc vào không gian quê hương thân thương.

Văn bản mở đầu bằng câu chuyện về sự gắn bó của tác giả với mảnh đất quê hương – một vùng đất “sâu vùng xa” ở Đồng Tháp. Chính từ những câu chữ đầu tiên, ta đã cảm nhận được mối liên hệ mật thiết giữa con người và cánh đồng, giữa ký ức tuổi thơ và mùi rơm rạ. Mùi rơm rạ ở đây không đơn thuần chỉ là mùi của những cọng rơm sau vụ gặt mà còn chứa đựng cả hương vị của niềm vui mùa lúa trúng, của mồ hôi lao động, của nỗi buồn thất thu và của tình mẫu tử dịu êm. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm là: dù cuộc sống có đưa ta đi đến đâu, dù những kỷ niệm có phai mờ theo năm tháng, thì quê hương với những giá trị thân thương, giản dị luôn là nơi để ta tìm về, là nguồn động viên tinh thần vô giá. Tác giả đã khéo léo dùng hình ảnh của đồng quê – với những sân phơi lúa vàng, những bước chân nhỏ in đậm trên đệm lúa – để tái hiện một bức tranh tuổi thơ sống động. Đó là khoảng thời gian trong trẻo nhất của mỗi con người, nơi mà mọi cảm xúc đều được đong đầy. Những ký ức ấy không chỉ là những hình ảnh vật chất mà còn là sự gắn bó tình cảm, là những ấm áp của gia đình, của tình thân. Khi nhớ về mùi rơm rạ, tác giả như được sống lại những khoảnh khắc hạnh phúc bên gia đình, bên đồng ruộng mênh mông, qua đó thể hiện rõ nét sự nhớ nhung, hoài niệm và niềm tự hào về cội nguồn. Bên cạnh những ký ức ngọt bùi, văn bản còn phản ánh nỗi buồn chia ly khi những người con của quê hương buộc phải xa rời vùng đất thân yêu để đi tìm nghiệp ở phương xa. Qua đoạn văn “Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi…” tác giả gửi gắm tâm trạng nhớ nhung, bâng khuâng khi nhìn thấy tình cảm chân thành của tuổi trẻ bị thử thách bởi cuộc sống đô thị xa hoa, nhịp sống hối hả. Tuy nhiên, dù đi đến đâu, dù trải qua bao biến cố, những ký ức và mùi hương quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần, là nơi để mỗi người tìm lại bản sắc của mình.

Một trong những điểm sáng của văn bản chính là nghệ thuật miêu tả tinh tế, giàu cảm quan. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh quen thuộc như “sân phơi trải đầy lúa vàng”, “tụi con nít đi tới đi lui trên những thảm lúa”, “ụ rơm, nhánh rạ trơ ra sau vụ gặt” để khắc họa một không gian quê hương sống động, đầy màu sắc và sức sống. Những hình ảnh này không chỉ gợi lên cảm giác thị giác mà còn lan tỏa qua mùi hương, âm thanh của thiên nhiên, khiến người đọc như được hòa mình vào khung cảnh yên bình, mộc mạc nhưng đầy chất thơ. Hình ảnh “mùi rơm rạ” được lặp đi lặp lại xuyên suốt văn bản như một biểu tượng tinh thần của quê hương. Mùi rơm rạ không chỉ là mùi của những cọng rơm sau vụ gặt mà còn là mùi của sự lao động cần cù, của niềm vui, nỗi buồn, của tình yêu thương gia đình. Nó chứa đựng cả một quá trình sống, quá trình trưởng thành của con người nơi nông thôn. Qua đó, tác giả đã thể hiện mối liên hệ khăng khít giữa con người với thiên nhiên, giữa cảm xúc và ký ức – những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

Văn bản được trình bày dưới hình thức tự sự, qua đó tác giả chia sẻ những kỷ niệm và cảm xúc của riêng mình với quê hương. Giọng văn trữ tình, chân thật và giản dị đã làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, dễ đồng cảm. Từng đoạn văn là một mảnh ghép của ký ức, từ những hình ảnh cụ thể của đồng ruộng, của những bữa cơm được đun bằng bếp rơm cho đến những nỗi niềm riêng tư của tuổi trẻ khi xa rời miền quê. Cách kể chuyện này không chỉ làm nổi bật tính cá nhân mà còn mở ra một không gian chung của những người con của đất Việt, những người luôn mang trong tim nỗi nhớ quê hương. Tác giả khéo léo đưa hiện thực cuộc sống – những cảnh vật quen thuộc ở miền quê – hòa quyện với dòng ký ức trầm lắng của tuổi thơ. Hình ảnh “nồi cơm mới thơm lừng”, “bếp rơm, lửa cháy bùng” không chỉ gợi lên hương vị của bữa cơm gia đình mà còn là biểu tượng của sự ấm áp, của tình thân thiết được vun đắp qua năm tháng. Qua đó, văn bản không chỉ là lời kể về một vùng quê, mà còn là bản anh hùng ca về tình yêu quê hương, về sự gắn bó với cội nguồn, dù cho thời gian có trôi qua bao lâu, dù cho con người có phải xa rời nhau đến đâu thì ký ức và những giá trị đó vẫn mãi trường tồn.

Văn bản “Mùi rơm rạ quê mình” của Ngọc Bích đã thành công trong việc khắc họa một bức tranh quê hương sống động, giàu cảm xúc và đậm chất thơ. Nội dung của tác phẩm sâu sắc và giàu ý nghĩa khi thể hiện mối liên hệ giữa con người với quê hương, giữa ký ức và hiện thực, giữa cảm xúc và những giá trị văn hóa truyền thống. Từ đó, thông điệp về lòng biết ơn, sự trân trọng đối với cội nguồn và những ký ức tuổi thơ được gửi gắm một cách nhẹ nhàng nhưng đầy mạnh mẽ. Về mặt nghệ thuật, Ngọc Bích đã sử dụng ngôn từ giản dị, mộc mạc nhưng đầy chất trữ tình để tái hiện hình ảnh quê hương. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá được vận dụng một cách tinh tế, góp phần làm nổi bật những chi tiết chân thật, sống động của miền quê. Hơn nữa, nghệ thuật tự sự trong văn bản đã tạo nên sự gần gũi, thân mật giữa tác giả và người đọc, khiến cho mỗi ai cũng có thể cảm nhận và đồng cảm với những ký ức, cảm xúc mà tác giả chia sẻ.

 “Mùi rơm rạ quê mình” là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về nguồn cội, về giá trị của ký ức tuổi thơ và về tình yêu quê hương bất diệt. Tác phẩm đã thành công trong việc truyền tải một thông điệp nhân văn sâu sắc, khơi gợi trong lòng người đọc niềm tự hào và lòng trân trọng với những giá trị giản dị nhưng đầy ý nghĩa của cuộc sống.

2 tháng 3

Mùa rơm rạ quê mình” của Ngọc Bích là khúc nhạc đồng quê dịu dàng, gợi lại mùi rơm, mùi khói, mùi của những ngày tuổi thơ trong trẻo. Giữa cuộc sống đô thị hiện đại, những ký ức về quê hương và tuổi thơ vẫn luôn là nguồn mạch trong lành tưới tắm tâm hồn con người.

Ký ức tuổi thơ là những hình ảnh, âm thanh, mùi hương và cảm xúc gắn liền với quãng đời hồn nhiên nhất của mỗi người — thời gian mà ta sống thật nhất, yêu thương chân thành nhất. Đó có thể là buổi trưa trốn ngủ, là tiếng sáo diều, là mùi rơm rạ đồng quê… Những ký ức ấy, tưởng như vụn vặt, lại là sợi dây nối ta với cội nguồn. Chúng giúp con người không quên đi nơi mình sinh ra, không đánh mất bản chất hiền hòa, chất phác dù đang sống trong một thế giới đầy toan tính. Như nhân vật trong truyện, dù đã đi xa, sống giữa “phố thị xa hoa” vẫn “đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc”. Chính ký ức đã giữ lại cho họ phần hồn quê trong trẻo, nhắc họ rằng mình đến từ đâu và vì sao phải sống tử tế. Trong nhịp sống hiện đại, ký ức tuổi thơ lại càng quý giá. Khi đối mặt với áp lực, bon chen, người ta thường tìm về quá khứ để được an ủi và cân bằng. Những kỷ niệm tuổi thơ giúp ta hồi sinh cảm xúc, khơi dậy niềm tin và lòng biết ơn đối với cha mẹ, quê hương, cuộc đời. Không phải ngẫu nhiên mà những nhà văn, nhà thơ vẫn luôn trở lại với miền ký ức trong sáng ấy — bởi đó là nơi chốn của yêu thương, của “mùa yêu thương, ước vọng và hy vọng” như cách Ngọc Bích từng viết. Tuy vậy, không ít người trẻ hôm nay đang dần quên đi tuổi thơ, quê hương, mải mê chạy theo vật chất và thành công mà đánh mất tâm hồn. Khi ấy, họ trở nên khô cứng, cô đơn và mất phương hướng. Bởi một người không còn nhớ quá khứ thì chẳng thể nào tìm thấy chính mình. Ký ức tuổi thơ là dòng suối mát trong tâm hồn, là nơi lưu giữ bản ngã trong sáng nhất của mỗi con người.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau: MIỀN CỎ THƠM      (1) Có lần vào cuối đông, tôi ngồi trong trại viết của Hội Nhà văn ở Quảng Bá và nhìn ra con đê sông Hồng xanh ngun ngút những cỏ kéo dài xuống những cánh đồng vùng "Yên Phụ" mịt mùng trong màu mưa bụi xám, tôi chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Trãi nói về nỗi tâm đắc...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:

MIỀN CỎ THƠM

     (1) Có lần vào cuối đông, tôi ngồi trong trại viết của Hội Nhà văn ở Quảng Bá và nhìn ra con đê sông Hồng xanh ngun ngút những cỏ kéo dài xuống những cánh đồng vùng "Yên Phụ" mịt mùng trong màu mưa bụi xám, tôi chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Trãi nói về nỗi tâm đắc với cỏ ở Hà Nội: "Hoa thường hay héo cỏ thường tươi". Tôi nghiệm ra rằng cái thế thích chí nhất của cỏ chính là những triền đê. Ở đó, cỏ nghiễm nhiên thay thế vai trò của mọi loài hoa trên trái đất. Có lẽ ngày xưa trong một chức quan rỗi việc, Nguyễn Trãi đã có nhiều lần buông lỏng cương ngựa đi dọc triền đê này để ngắm vẻ đẹp của cỏ. Nhưng đã có mấy ai được ngắm thỏa thích màu xanh tươi của cỏ dọc thân đê giống như tôi trong buổi sáng mùa xuân ngày ấy. Vả Hà Nội vẫn là mái phố dài trải ra dưới những cây cao (như cây sấu) với những khách bộ hành đi trên vỉa hè. Nghĩa là còn lại Huế là một cố đô mang linh hồn của cỏ.

     (2) Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới những gốc đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của tôi. […] Ôi! tôi muốn làm Liệt Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố kinh xưa của tôi, thành phố nằm phơi mình giữa non xanh nước biếc, tỏa rộng linh hồn vô ưu thênh thênh trong hương cỏ.

     (3) Mùa xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Những cô sinh nữ từng rủ nhau ra đấy ngồi chơi trên vạt cỏ; lâu ngày tâm hồn họ nhiễm phải căn bệnh trầm uất, sinh ra bởi những bụi phấn tím của bông cỏ mùa xuân. Một chút u hoài đã kết tinh trong đôi mắt khiến từ đó họ trở nên dè chừng với những cuộc vui trong đời, và dưới mắt họ, những trò quyến rũ đối với thế nhân tự nhiên nhuốm chút màu ảm đạm của cái mà bà Huyện Thanh Quan khi xưa gọi là "hý trường".[1]

     (4) Mùa xuân, tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi trên những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa mặt trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định sống ở nhiều đô thị bắc nam; ở đó tôi có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên.

     (5) Mùa hạ, trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng Kim Long, khói đốt cỏ tỏa ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên một chiếc bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu kêu om sòm trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên không hề thấy bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là "yên tĩnh hơn" trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai. Mùa thu trời trở gió heo may lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi thơ bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết "Trùng Cửu". Núi đó có thể là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An, và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử. Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi, nghe tiếng chuông chùa thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói; đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo. Thơ Tuy Lý Vương nói: "Minh triêu sất mã sơn đầu quá - Ngọa thính tùng thanh ức ngã sầu"... [2]
 […]

Huế 4.8.2003
H.P.N.T
(Trích Miền cỏ thơm, Hoàng Phủ Ngọc Tường,

Tạp chí sông Hương số 179-180/01&02 - 04, 07/07/2009)

Chú thích:

[1]: Nơi biểu diễn các loại hát nghệ thuật sân khấu, rạp hát.
[2]: Sáng mai ruỗi ngựa lên đầu núi - nghe thông reo chợt nhớ ta buồn.

3
17 tháng 12 2025

Tùy bút “Miền cỏ thơm” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một bản hòa ca trữ tình sâu lắng, chan chứa tình yêu thiên nhiên và những chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc. Với hình ảnh chủ đạo là cỏ – loài cây dân dã, quen thuộc – tác giả đã gợi lên cả một miền ký ức tuổi thơ, tuổi trẻ gắn bó với xứ Huế mộng mơ. Cỏ không chỉ hiện diện trong không gian triền đê, lăng tẩm, mà còn mang trong nó hồn quê, hương tóc thiếu nữ, tiếng chuông chùa bảng lảng… Từ hình ảnh ấy, tác giả bày tỏ nỗi tiếc nuối trước sự mai một của vẻ đẹp thanh bình, trầm lắng giữa nhịp sống hiện đại xô bồ. Đoạn trích thể hiện rõ phong cách văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường: giàu chất thơ, lắng sâu suy tư và đậm đà bản sắc Huế. Qua đó, nhà văn không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà còn khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương, khát vọng sống chậm lại để lắng nghe tiếng gọi của ký ức, của thiên nhiên và của chính tâm hồn mình.

2 tháng 3

Jshssbs