Sống mòn
Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.
Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.
Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...
Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?
(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)
Chú thích:
(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.
Câu 1
Bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng của Nguyễn Đức Hạnh đã khắc họa cảm động số phận những người phụ nữ lao động nghèo giữa phố thị. Hình ảnh họ hiện lên với “những nhem nhuốc bên ngoài che giấu / bao ngọt lành, nóng hổi bên trong”, cho thấy vẻ lam lũ bề ngoài đối lập với tấm lòng giàu yêu thương. Tác giả đặc biệt xót xa trước thái độ “thờ ơ”, “rẻ rúng” của người qua đường, qua đó phê phán sự vô cảm của xã hội. Câu thơ “người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” là ẩn dụ giàu sức gợi, diễn tả sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Bài thơ sử dụng thể tự do, giọng điệu trữ tình, nhiều hình ảnh gần gũi như hạt ngô, mùi thơm bếp lửa, bờ vai cha… tạo nên không gian ấm áp mà day dứt. Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ và ngôn ngữ giản dị giúp người đọc thấu hiểu hơn những mảnh đời nhỏ bé. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng, cảm thông với những người lao động bình dị quanh ta.
Câu 2
Nghị luận về câu nói của Vivian Greene
“Cuộc sống không phải là để chờ đợi cơn bão đi qua, cuộc sống là để học được cách khiêu vũ trong mưa.” Câu nói của Vivian Greene gửi đến mỗi người thông điệp sâu sắc về thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Cuộc đời không phải lúc nào cũng êm đềm; khó khăn, thử thách giống như những cơn mưa bất chợt. Nếu chỉ đứng yên chờ bão tan, ta sẽ lãng phí thời gian và cơ hội. Điều quan trọng là dám bước vào “cơn mưa” ấy với bản lĩnh và niềm tin.
“Khiêu vũ trong mưa” là hình ảnh ẩn dụ cho việc chủ động thích nghi, biến nghịch cảnh thành trải nghiệm có ý nghĩa. Người biết sống tích cực sẽ không gục ngã trước thất bại mà xem đó là bài học để trưởng thành. Lịch sử và thực tế đã chứng minh nhiều con người thành công nhờ dám đối diện thử thách: những vận động viên vượt chấn thương để chạm tới huy chương, những học sinh nghèo nỗ lực học tập để đổi thay số phận. Chính tinh thần lạc quan giúp họ mạnh mẽ hơn sau mỗi lần vấp ngã.
Ngược lại, nếu chỉ than thân trách phận, con người dễ rơi vào bi quan, bỏ lỡ cơ hội hoàn thiện mình. Cuộc sống hiện đại đầy biến động: áp lực học tập, công việc, dịch bệnh, thiên tai… Tất cả đều là “những cơn bão” không thể tránh. Thái độ đúng đắn không phải trốn chạy mà là rèn luyện kĩ năng, ý chí để vượt qua. Biết tìm niềm vui trong gian khó, ta sẽ giữ được cân bằng và khám phá nhiều giá trị mới.
Tuy nhiên, “khiêu vũ trong mưa” không có nghĩa là liều lĩnh bất chấp, mà cần đi cùng sự tỉnh táo và chuẩn bị. Mỗi người phải trang bị tri thức, sức khỏe, kĩ năng sống và sự sẻ chia với cộng đồng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường để thế hệ trẻ học cách đối diện thử thách một cách nhân văn.
Là học sinh, em nhận thấy mình phải tập sống chủ động: không nản chí khi điểm số chưa như ý, không né tránh khó khăn mà cố gắng từng ngày. Em sẽ rèn luyện ý chí, nuôi dưỡng ước mơ và lan tỏa năng lượng tích cực tới bạn bè. Bởi chỉ khi dám “khiêu vũ trong mưa”, ta mới cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc sống.
Câu nói của Vivian Greene nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở hoàn cảnh thuận lợi mà ở cách con người đối diện hoàn cảnh. Hãy sống bản lĩnh, lạc quan để biến mỗi cơn mưa cuộc đời thành điệu nhảy của niềm tin và hi vọng.
Câu 1:
Bài thơ "Những người đàn bà bán ngô nướng" của Nguyễn Đức Hạnh là một tiếng lòng xót xa và trân trọng đối với những thân phận lao động nghèo. Về nội dung, tác phẩm khắc họa hình ảnh người phụ nữ lam lũ, "nhem nhuốc" bên lề đường, nhưng ẩn sâu bên trong là cả một tấm lòng hy sinh cao cả: "bán dần từng mảnh đời mình nuôi con". Bài thơ không chỉ tả thực cái nghèo mà còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn — những giá trị "ngọt lành, nóng hổi" bền bỉ như hương vị của bắp ngô nướng dù trải qua "cháy" vẫn "còn thơm". Về nghệ thuật, thể thơ tự do giúp mạch cảm xúc tuôn trào tự nhiên. Tác giả sử dụng thành công thủ pháp đối lập giữa cái nhìn "thờ ơ" của người đời với sự tận hiến của người mẹ, cùng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như "mảnh đời", "hạt ngô - giọt lệ". Qua đó, bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc niềm thấu cảm sâu sắc và bài học về thái độ trân trọng đối với những giá trị bình dị mà thiêng liêng trong cuộc sống.