(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:
– Thôi nào.
Eugène nói với lão:
– Cha hãy ngủ đi, lão Goriot tốt bụng của con, con sẽ viết thư cho họ. Ngay khi Bianchon trở lại, con sẽ đi nếu các cô ấy không đến.
– Các con gái ta không tới ư?
Ông già nức nở nhắc lại:
– Ta sẽ chết mất. Chết vì tức giận. Lúc này đây ta đã thấy tất cả cuộc đời ta, ta thật ngu ngốc. Các con ta không yêu ta, rõ ràng là chúng chưa bao giờ yêu ta. Nếu chúng không đến bây giờ thì chúng sẽ không bao giờ đến. Chúng càng đến muộn, chúng càng làm cho ta buồn khổ. Ta hiểu các con ta mà. Chúng có bao giờ quan tâm đến nỗi cô đơn, buồn phiền, đau khổ, những sự cần thiết của ta thì chúng cũng chẳng đoán biết được cái chết của ta đâu, chẳng qua chúng không hiểu thấu tình yêu thương của ta thôi. Phải, ta thấy rõ rồi, đối với chúng thì cái thói quen rút gan rút ruột ta đã khiến cho chúng không nhìn thấy những giá trị của việc ta đã làm cho chúng. Giá chúng đòi móc mắt ta thì ta cũng sẽ bảo: "Các con cứ việc móc nó ra.". Ta thật là ngu ngốc. Các con ta cứ tưởng rằng mọi người cha đều giống cha chúng. Sau này các con của chúng sẽ trả thù cho ta, chúng sẽ có lợi nếu chúng đến đây. Cậu hãy báo trước cho chúng biết rằng chúng đang làm cho chúng trở nên tồi tệ. Chúng đã phạm vào tất cả các tội ác. Cậu hãy đi đi, cậu hãy nói với chúng rằng nếu không đến nghĩa là chúng đã giết cha chúng rồi. Chúng đã phạm vào bao nhiêu tội ác rồi, đừng mang thêm tội giết cha nữa. Cậu hãy hét lên như ta đây này: "Ôi Anastasie! Ôi Delphine! Hãy đến với cha các cô đi, ông ấy đã rất tốt với các cô và giờ đây ông ấy đang sắp chết?". Chẳng có gì hết. Chẳng có một ai. Vậy thì ta sẽ phải chết như một con chó ư? Tôi đã bị con cái bỏ rơi, đó là phần thưởng cho tôi sao? Thật là độc ác và bẩn thỉu. Ta ghê tởm chúng, ta nguyền rủa chúng, kể cả khi đêm đến, ta cũng sẽ thức dậy từ quan tài để nguyền rủa chúng, bởi vì chúng ăn ở quá tệ. Ta sai lầm rồi phải không? Chúng đối xử thật tồi tệ phải không? Ôi ta vừa nói gì nhỉ? Cậu vừa nói với ta là Delphine đến rồi đấy chứ? Nó là đứa con gái tốt nhất của ta đấy. Eugène ạ, cậu như con trai của ta. Cậu cũng yêu nó chứ. Hãy đối xử với nó như một người cha ấy. Còn Anastasie bất hạnh nữa. Số phận của chúng ra sao đây? Ôi chúa ơi, ta sắp chết rồi, ta đau đớn quá. Cắt bỏ đầu ta đi, chỉ để lại cho ta mỗi trái tim thôi.
– Christophe, cậu đi tìm Bianchon đi và mang đến cho tôi một cái xe.
Eugène kêu lên sợ hãi khi nghe thấy những tiếng kêu la, rên rỉ của ông già. Cháu sẽ đi tìm các con gái của ông, người cha già nhân hậu ạ, cháu sẽ đưa họ về với cụ.
– Mau lên, mau lên, cậu hãy yêu cầu hiến binh, hiến binh.
Ông già vừa nói vừa nhìn Eugène với cái nhìn tràn đầy lý trí:
– Hãy nói với nội các chính phủ, với ngài biện lý của nhà nước để họ đưa các con của ta về, ta mong muốn điều đó biết bao!
– Nhưng cụ đã nguyền rủa họ cơ mà.
Ông già sững sờ hỏi:
– Ai đã nói thế?
– Cậu biết rõ là ta rất yêu các con ta mà. Nếu được nhìn thấy chúng thì ta đã khỏi bệnh rồi. Cậu hãy đi đi, người hàng xóm tốt bụng của ta, con trai yêu quý của ta. Con đi tìm chúng đi. Con thật là tốt. Ta muốn cảm ơn con, nhưng ta chẳng có gì cho con ngoài lời chúc phúc của một kẻ sắp chết. À ta muốn gặp Delphine, ta sẽ bảo nó thay ta trả ơn cho con. Nếu Nasie không đến, thì con dẫn Delphine đến đây. Con nói với nó rằng con sẽ không yêu nó nữa nếu nó không đến. Nó rất yêu con nên nó sẽ tới. Ôi! Ta muốn uống. Lòng yêu con đang đốt cháy ta. Hãy để cái gì đó lên đầu ta đi. Bàn tay của các con gái ta, nó sẽ cứu ta, ta cảm thấy điều đó mà... Chúa ơi! Ai sẽ làm ra tài sản cho các con ta nếu ta ra đi? Ta muốn đến Odessa để kiếm tiền cho các con ta.
– Cụ uống đi.
Eugène vừa nói vừa nâng ông già đang hấp hối lên cánh tay trái của mình, còn tay phải anh cầm chén nước thuốc đầy.
– Con phải yêu quý cha mẹ con. – Ông già vừa nói vừa siết chặt bàn tay yếu ớt của mình vào bàn tay của Eugène. – Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không? Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua. Hai thằng con rể của ta đã giết chết các con gái ta. Phải rồi, ta đã mất con sau khi chúng đi lấy chồng. Đức cha ơi, người hãy nói với nhà thờ đưa ra một luật về cưới xin đi. Cậu nghe đây. Nếu cậu yêu quý các con gái cậu thì cậu đừng cho nó lấy chồng. Con rể là một kẻ độc ác, nó làm hư hỏng con gái ta. Biết bao đám cưới đã cướp đi các con gái chúng ta. Chúng không ở bên chúng ta ngay cả khi chúng ta sắp chết. Thật khủng khiếp, ta căm thù chúng, chính những thằng con rể đã ngăn cấm các con ta đến thăm ta. Hãy giết chết chúng đi. Restaud, Nucingen, chúng mày phải chết, những tên sát nhân. Chúng phải chết hoặc là để ta được gặp các con gái ta. Ôi hết rồi, ta sẽ chết mà không gặp chúng. Anastasie, Delphine ơi, hãy đến đây đi. Cha của các con sắp ra đi rồi...
– Hỡi cha Goriot nhân hậu của con, hãy bình tĩnh nào. Cha hãy yên lặng đừng cử động, đừng nghĩ ngợi nữa.
– Ta đang hấp hối mà không gặp được các con ư?
– Cha sẽ được gặp các cô ấy.
– Đúng rồi? Ông già lẩn thẩn kêu lên. Ồ, được gặp chúng, ta sẽ chết trong sung sướng. Mà này, ta không muốn sống nữa, ta không còn thiết tha với cuộc sống nữa, ta đã đau khổ nhiều rồi. Nhưng được gặp chúng, được sờ vào cái áo chúng mặc thôi, chỉ cái áo thôi cũng đủ rồi. Ta cảm thấy có cái gì đó của các con ta, cho ta vuốt tóc chúng...
Đầu ông lão rơi phịch xuống gối giống như bị ai đó đánh rất mạnh. Bàn tay vuốt cái chăn như vuốt mái tóc của các con gái.
– Ta sẽ chúc phúc cho các con ta. – Ông già cố gắng nói. – ... Chúc phúc...
Đột nhiên ông yếu hẳn đi. Đúng lúc đó Bianchon bước vào.
– Tôi đã gặp Christophe. – Anh ta nói. – Nó sẽ mang một chiếc xe đến.
Rồi anh nhìn người bệnh và vạch mi mắt của ông cụ, mắt đã mờ không còn sự sống. "Ông ấy đã đi rồi.", Bianchon nói, rồi anh bắt mạch cho ông, anh đặt tay lên ngực ông già nhân hậu.
(Trích tiểu thuyết Lão Goriot, H. Balzac)
* Lão Goriot là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của H. Balzac, lấy bối cảnh là kinh đô Paris năm 1819, viết về số phận của ba nhân vật: Ông lão Goriot, tên tù khổ sai vượt ngục Vautrin và anh chàng sinh viên luật Eugène de Rastignac. Trong đó, lão Goriot là người có số phận đáng thương, bất hạnh nhất. Lão vốn là một tiểu thương giàu có, khát khao muốn bước chân vào giới quý tộc. Lão cũng là một người cha rất yêu thương con. Các con gái của lão là Anastasie và Delphine muốn gì lão cũng đều đáp ứng. Vì muốn các con được bước chân vào giới quý tộc nên lão đã gả hai cô con gái cho gã quý tộc Restaud và người chủ ngân hàng Nucingen. Nhưng, sau khi kết hôn, hai cô con gái cũng không ngừng bòn rút hết tất cả số tiền của cha, đẩy lão vào cuộc sống nghèo khổ, không một xu dính túi. Đoạn trích trên là tình cảnh của lão Goriot vào những phút giây cuối cùng của cuộc đời.
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Đề tài của văn bản trên là gì?
Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac sau đây: – Con phải yêu quý cha mẹ con. – Ông già vừa nói vừa siết chặt bàn tay yếu ớt của mình vào bàn tay của Eugène. – Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không? Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua. gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì?
Câu 4. Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?
Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot.
Phần II. Viết
Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)
Phân tích nhân vật “tôi” trong đoạn trích
Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và yêu nghệ thuật. Cậu có thể nhìn thấy trong bức tranh hình ảnh con trăn nuốt con voi, trong khi người lớn chỉ thấy một chiếc mũ vô nghĩa. Điều đó cho thấy cậu có khả năng quan sát tinh tế và một tâm hồn sáng tạo phong phú. Tuy nhiên, trước sự thờ ơ và không thấu hiểu của người lớn, cậu dần cảm thấy thất vọng và từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Nhân vật “tôi” cũng là người giàu suy tư, bởi khi trưởng thành, cậu nhận ra rằng người lớn thường không tự hiểu được những điều giản dị mà trẻ em cảm nhận rất rõ. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự trân trọng thế giới nội tâm trẻ thơ và đồng thời bày tỏ nỗi tiếc nuối khi con người lớn lên đã đánh mất khả năng mơ mộng và sáng tạo ban đầu của mình.
Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)
Suy nghĩ về ý kiến: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.”
Giacomo Leopardi từng cho rằng: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói đã gợi ra sự đối lập sâu sắc giữa thế giới của trẻ em và thế giới của người lớn, đồng thời gửi gắm một triết lí nhân sinh đầy ý nghĩa.
Trẻ con có một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Với các em, một hòn sỏi có thể trở thành kho báu, một bức tranh nguệch ngoạc có thể là cả thế giới thần tiên, một câu chuyện nhỏ cũng đủ làm nên niềm vui lớn. Các em nhìn cuộc sống bằng đôi mắt tò mò và háo hức, luôn khám phá mọi điều xung quanh bằng cảm xúc chân thành. Vì thế, “nơi chẳng có gì” đối với người lớn lại trở thành “tất cả” đối với trẻ em, bởi các em biết cảm nhận giá trị từ những điều rất giản dị.
Ngược lại, khi trưởng thành, con người dần bị cuốn vào guồng quay của công việc, danh lợi và những toan tính thực tế. Người lớn có trong tay rất nhiều thứ: tiền bạc, tri thức, địa vị, tiện nghi vật chất. Nhưng chính sự bận rộn và áp lực ấy khiến họ đánh mất khả năng rung cảm trước những điều nhỏ bé. Họ có thể đứng trước một bầu trời đầy sao mà không thấy đẹp, sống giữa tình yêu thương mà không nhận ra hạnh phúc. Bởi vậy, dù “có tất cả”, họ vẫn “chẳng tìm được gì” cho tâm hồn mình.
Ý kiến của Leopardi không nhằm phủ nhận vai trò của người lớn mà nhắc nhở con người hãy biết giữ lại một phần tâm hồn trẻ thơ trong quá trình trưởng thành. Con người cần học cách sống chậm lại, biết trân trọng những niềm vui giản dị như một buổi chiều yên bình, một lời hỏi thăm chân thành, hay một giấc mơ nhỏ bé của bản thân. Khi đó, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn, không chỉ là chuỗi ngày mưu sinh khô khan.
Từ góc nhìn của người trẻ, em nhận thấy rằng mình cần biết dung hòa giữa hai thế giới: vừa học tập, rèn luyện để trở thành người trưởng thành có trách nhiệm, vừa giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và lòng yêu cái đẹp. Không nên để áp lực học tập hay thành tích làm mất đi niềm vui sống và khả năng mơ ước. Chỉ khi giữ được “đứa trẻ” trong tâm hồn, con người mới có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn.
Như vậy, câu nói của Leopardi là lời nhắn nhủ sâu sắc: hãy học ở trẻ em cách nhìn cuộc sống bằng trái tim trong sáng và giàu cảm xúc. Khi biết tìm thấy “tất cả” trong những điều giản dị, con người sẽ không còn cảm thấy trống rỗng dù đang sống giữa thế giới đầy đủ và hiện đại.
Câu 1:
Nhân vật "tôi" trong đoạn trích mở đầu của tác phẩm Hoàng tử bé không chỉ đơn thuần là người kể chuyện, mà còn là hiện thân của một bi kịch về sự lạc lõng giữa thế giới người lớn khô khan. Ngay từ khi lên sáu, "tôi" đã bộc lộ một bản năng nghệ sĩ thuần khiết với trí tưởng tượng vượt xa những giới hạn vật lý thông thường. Hình ảnh con trăn nuốt chửng con thú dữ trong cuốn sách về rừng hoang đã khơi dậy trong cậu bé một khát khao tái hiện thế giới qua lăng kính cá nhân. Tuy nhiên, bức "kiệt tác số một" – vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi – lại trở thành một phép thử nghiệt ngã cho sự kết nối giữa hai thế giới: trẻ thơ và người lớn.Sự đối lập giữa cái nhìn của "tôi" và "người lớn" chính là điểm mấu chốt khắc họa tính cách nhân vật. Trong khi cậu bé nhìn thấy một cuộc đấu tranh sinh tồn mãnh liệt và đầy bí ẩn bên trong bụng con trăn, thì những người lớn chỉ thấy một "cái mũ" tầm thường và vô hại. Nỗi thất vọng của "tôi" không chỉ đến từ việc bị chê bai kỹ năng hội họa, mà sâu sắc hơn, đó là nỗi đau khi trí tưởng tượng bị từ chối. Phản ứng của người lớn – khuyên cậu nên gạt bỏ những bức vẽ "vô bổ" để tập trung vào địa lý, lịch sử, toán học – đại diện cho áp lực của xã hội thực dụng, nơi những giá trị tinh thần bị bóp nghẹt bởi những con số và sự hữu dụng bề nổi.Chính vì sự cô độc ấy, "tôi" đã phải chọn một ngã rẽ khác: trở thành phi công. Nghề nghiệp này cho phép nhân vật bay lượn trên bầu trời, giữ một khoảng cách nhất định với mặt đất đầy những quy tắc cứng nhắc. Thế nhưng, dù đã trưởng thành và tiếp xúc với rất nhiều "người lớn quan trọng", nhân vật "tôi" vẫn luôn mang theo bức vẽ số một như một "chiếc la bàn tâm hồn". Cậu dùng nó để tìm kiếm một người bạn thực sự, một người có khả năng nhìn thấu lớp vỏ "cái mũ" để thấy con voi bên trong. Nhân vật "tôi" vừa là một người lớn đã "bị thuần hóa" bởi cuộc đời, nhưng cũng vừa là một đứa trẻ vĩnh cửu, luôn khao khát sự thấu cảm và sự chân thực. Qua nhân vật này, Saint-Exupéry đã gửi gắm một thông điệp xót xa: sự trưởng thành đôi khi là một quá trình đánh mất đi đôi mắt của trái tim, và nhân vật "tôi" chính là người đang nỗ lực cứu vãn những mảnh vỡ cuối cùng của sự hồn nhiên đó.
Trong mênh mông của văn học thế giới, hiếm có tác phẩm nào thức tỉnh tâm hồn con người về sự hồn nhiên mạnh mẽ như Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry. Qua hình ảnh cậu bé với bức vẽ con trăn nuốt voi bị người lớn coi là cái mũ, ta sực nhớ đến nhận định đầy suy tư của Giacomo Leopardi: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". Câu nói như một tấm gương phản chiếu sự đối lập nghiệt ngã giữa hai thế giới quan: một bên là sự giàu có của trí tưởng tượng, một bên là sự nghèo nàn của tâm hồn thực dụng.
Trước hết, tại sao nói "trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì"? Với một đứa trẻ, thế giới không vận hành bằng những con số hay định nghĩa khô khan. "Chẳng có gì" ở đây có thể là một hòn đá cuội, một chiếc hộp rỗng, hay một đường kẻ nguệch ngoạc trên giấy. Nhưng qua lăng kính của trẻ thơ, hòn đá ấy là một hành tinh xa xôi, chiếc hộp là ngôi nhà của một con cừu bí ẩn, và đường kẻ ấy chính là con trăn đang tiêu hóa một con voi khổng lồ. Trẻ em sở hữu một năng lực kỳ diệu: năng lực sáng tạo ra ý nghĩa. Chúng không nhìn sự vật bằng hình dáng vật lý đơn thuần mà nhìn bằng trái tim và niềm tin thuần khiết. Với chúng, thế giới là một kho báu vô tận mà mỗi ngóc ngách đều ẩn chứa một câu chuyện.
Ngược lại, bi kịch nằm ở vế thứ hai: "người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". "Tất cả" ở đây chính là sự đủ đầy về kiến thức, vật chất, địa vị và những trải nghiệm thực tế. Người lớn biết rõ về địa lý, lịch sử, toán học; họ sở hữu những chiếc cà vạt sang trọng và bàn luận về chính trị, bài bạc. Thế nhưng, chính sự "biết tất cả" ấy lại vô tình trở thành bức tường ngăn cách họ với vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Khi tâm hồn đã bị "thuần hóa" bởi tư duy thực dụng, họ chỉ nhìn thấy những gì có ích, có giá trị sử dụng. Họ nhìn bức vẽ của nhân vật "tôi" và chỉ thấy một cái mũ vì họ đã mất đi khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc. Họ có tất cả các phương tiện để hiểu thế giới, nhưng lại thiếu đi cái "chìa khóa" quan trọng nhất: sự rung động và trí tưởng tượng.
Sự đối lập này dẫn đến một hệ lụy xót xa mà chúng ta thấy trong đoạn trích: nhân vật "tôi" đã phải từ bỏ ước mơ họa sĩ để học lái máy bay. Xã hội người lớn tôn vinh những môn học "văn hóa" nhưng lại xem nhẹ những giấc mơ "viển vông". Họ nhân danh sự trưởng thành để ép buộc trẻ em phải nhìn thế giới theo cách của họ – một cách nhìn phẳng lặng, thiếu màu sắc và đầy tính toán. Khi người lớn khuyên cậu bé hãy "để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán", họ đã vô tình dập tắt một mầm mống nghệ thuật thiên tài, biến một tâm hồn bay bổng thành một bánh răng trong bộ máy xã hội.
Tuy nhiên, bài học từ câu nói của Leopardi không phải để chúng ta phủ nhận sự trưởng thành, mà là để nhắc nhở chúng ta về sự cân bằng. Chúng ta cần kiến thức để sinh tồn, nhưng chúng ta cần trí tưởng tượng để "sống" đúng nghĩa. Một người lớn thực sự sáng suốt là người dù có đi khắp thế gian, am tường mọi lẽ, vẫn giữ được trong lòng một "đứa trẻ" biết ngạc nhiên trước một bông hoa hay biết đau lòng trước một bức vẽ bị hiểu lầm. Như nhân vật "tôi", dù đã trở thành phi công, vẫn luôn giữ bức vẽ số một bên mình như một lời nhắc nhở về bản ngã chân thật.
Tóm lại, thế giới không thay đổi, chỉ có cách chúng ta nhìn thế giới là thay đổi. Đừng để sự giàu có về vật chất và kiến thức tỉ lệ nghịch với sự nghèo nàn của tâm hồn. Hãy học cách "tìm thấy tất cả" từ những điều giản đơn nhất, để cuộc đời không chỉ là một chuỗi những phép tính khô khan, mà là một cuộc phiêu lưu đầy màu sắc của trái tim. Bởi sau cùng, như lời của chính Hoàng tử bé: "Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Những gì cốt yếu thì mắt thường không nhìn thấy được".