K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:      Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,      Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,          Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.      Buổi chiến trận mạng người như rác,      Phận đã đành đạn lạc tên rơi,          Lập lòe...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:

     Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

     Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,

         Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

     Buổi chiến trận mạng người như rác,

     Phận đã đành đạn lạc tên rơi,

         Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

     Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,

     Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

         Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

     Sống đã chịu một đời phiền não,

     Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

         Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

     Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

     Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

     Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

                                  (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1))

Chú thích: 

Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812).

85
23 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh đã thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo và tinh thần nhân văn cao cả của Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh trong xã hội. Qua những câu thơ giàu sức gợi, tác giả khắc họa hình ảnh những con người nghèo khổ, bị cuốn vào chiến tranh, loạn lạc, mất mát cả mạng sống lẫn tương lai. Họ là những người lính chết nơi chiến địa, những kẻ tha hương, những phụ nữ chịu nhiều đau khổ, những con người sống trong cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa. Bằng sự cảm thông sâu sắc, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc xót thương cho những kiếp người bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biện pháp so sánh, ẩn dụ, liệt kê kết hợp với giọng điệu ai oán, thống thiết, tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Nhịp thơ chậm, buồn, góp phần thể hiện không khí tang thương, đau xót. Qua đó, tác phẩm không chỉ là lời cầu siêu cho các linh hồn mà còn là bản cáo trạng đối với xã hội phong kiến bất công, đồng thời khẳng định giá trị nhân đạo bền vững trong sáng tác của Nguyễn Du.

26 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một trong những phần thể hiện rõ nhất tấm lòng nhân đạo mà sâu sắc của nhà thơ. Qua việc nhắc đến nhiều hạng người khác nhau như kẻ bị bắt đi lính, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất lang thang đầu đường xó chợ, Nguyễn Du đã khắc họa một bức tranh đầy ám ảnh về những kiếp người sống trong đau khổ, chết trong cô đơn và tủi phận. Dù số phận mỗi người khác nhau, họ đều chung cảnh đời lầm than, bị chiến tranh áp bức, đói nghèo và xã hội tàn nhẫn xô đẩy đến bước đường cùng. Nỗi thương cảm của Nguyễn Du không dừng ở sự xót xa mà còn là nỗi trăn trở âm thầm , dai dẳng về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ với " phận đàn bà" đầy cay đắng. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi lối liệt kê liên tiếp, hình ảnh chân thực, giàu sức gợi, ngôn ngữ Nôm gần với đời sống. Giọng điệu văn tế chậm buồn, ai oán khiến nỗi đau của các linh hồn như thấm sâu vào lòng người đọc. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ viết cho người đã khuất mà còn lay động mạnh mẽ lương tri của người đang sống.

Đề thi đánh giá năng lực

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau: - Về thôi nàng ơi Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió Cô đơn giữa mây trời? - Thế để đâu những lời Ta đã hẹn với người ta thương nhớ? - Người ấy chẳng bao giờ về nữa Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao Đất nước qua trăm trận binh đao Lở bồi,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau:

- Về thôi nàng ơi
Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa
Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió
Cô đơn giữa mây trời?

- Thế để đâu những lời
Ta đã hẹn với người ta thương nhớ?

- Người ấy chẳng bao giờ về nữa
Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao
Đất nước qua trăm trận binh đao
Lở bồi, dâu bể...

- Người đời biết thân ta hoá đá
Nhưng hay đâu ta hoá đá niềm tin
Hoá đá nỗi cô đơn
Và thời gian chờ đợi!

- Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi
Ngày người ấy trở về
Chẳng ai hiểu bằng ta điều đó
Chẳng ai hiểu bằng ta nỗi khổ
Của người vợ chờ chồng...

Ta hoá đá đợi triệu lần nỗi đợi
Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong.

(Trò chuyện với nàng Vọng Phu, Vương Trọng, Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, tr.257 - 258)

89
23 tháng 1

Trong đoạn thơ, hình tượng nàng Vọng Phu hiện lên như biểu tượng cảm động cho lòng chung thủy và đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam. Nàng đứng chờ chồng giữa mưa gió, mây trời, trong cô đơn và khắc khoải, mang theo nỗi nhớ thương khôn nguôi. Thời gian trôi qua, chiến tranh, loạn lạc khiến người ra đi không bao giờ trở lại, nhưng nàng vẫn một lòng son sắt, không từ bỏ niềm tin. Sự chờ đợi bền bỉ ấy dần hóa thành bi kịch khi nàng “hóa đá”, không chỉ là hóa thân về thể xác mà còn là sự hóa thân của nỗi đau, của niềm tin và khát vọng đoàn tụ. Qua đó, tác giả khắc họa nỗi cô đơn, tủi cực và thiệt thòi của người vợ có chồng ra trận. Đồng thời, hình tượng nàng Vọng Phu còn phản ánh những mất mát to lớn do chiến tranh gây ra, để lại bao cảnh chia lìa, dang dở. Bằng giọng thơ da diết, xúc động, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và trân trọng đối với số phận, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ và hôm nay.

26 tháng 1

Hình tượng nàng Vọng Phu trong bài thơ Vọng Phu của Chế Lan Viên hiện lên đầy ám ảnh,mang vẻ đẹp bi thương mà cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong nỗi chờ đợi chiến miên. Nàng đứng " trong mưa trong gió" , cô độc giữa không gian mênh mông của trời đất, gợi lên dáng hình nhỏ bé nhưng bền bỉ trước sự khắc nghiệt của thời gian và lịch sử. Bi kịch của nàng không chỉ là người chồng " chẳng bao giờ về nữa" ,mà còn là sự tan vỡ của lời hẹn ước trước những " binh đao, dâu bể ". Đặc biệt hình ảnh nàng " hoá đá " không đơn thuần là sự hóa thân thể xác, mà là sự hóa thân của niềm tin, của nỗi cô đơn và của năm tháng chờ mong vô tận. Nàng chấp nhận hoá đá để giữ trọn lòng thuỷ chung, để gánh chịu nỗi đau thay cho bao người vợ trong suốt chiều dài lịch sử. Qua đó, Chế Lan Viên đã nâng nàng Vọng Phu từ một số phận cá nhân thành biểu tượng sâu nhân văn sâu sắc về đức hi sinh và lòng chung thuỷ bất tử của người phụ nữ.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “em” trong văn bản Chân quê của Nguyễn Bính.         CHÂN QUÊ Hôm qua em đi tỉnh về, Đợi em ở mãi con đê đầu làng. Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng. Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi! Nào đâu cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? Nói ra sợ mất...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “em” trong văn bản Chân quê của Nguyễn Bính.

        CHÂN QUÊ

Hôm qua em đi tỉnh về,
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em,
Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.
Như hôm em đi lễ chùa,
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                 (Nguyễn Bính, In trong Tổng hợp Văn học Việt Nam, tập 25, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr.257 - 458)

106

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho người con gái làng quê trước sự đổi thay của đời sống. “Em” vốn mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, gắn liền với những trang phục truyền thống như yếm lụa, áo tứ thân, khăn mỏ quạ – những nét rất “quê” nhưng đậm đà bản sắc. Thế nhưng chỉ sau một chuyến “đi tỉnh về”, “em” đã thay đổi: khăn nhung, quần lĩnh, áo khuy bấm khiến “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Sự thay đổi ấy không chỉ nằm ở cách ăn mặc mà còn gợi ra sự phai nhạt của tâm hồn quê mùa, chân chất. Qua ánh nhìn và lời trách yêu của “anh”, nhân vật “em” trở thành biểu tượng cho sự va chạm giữa truyền thống và lối sống thị thành đang len lỏi vào làng quê. Nguyễn Bính không lên án gay gắt mà thể hiện nỗi tiếc nuối, xót xa trước nguy cơ mất đi vẻ đẹp thuần khiết của con người nông thôn. Từ nhân vật “em”, nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết với quê hương và khát vọng gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống giữa dòng chảy đổi thay của cuộc sống.


23 tháng 1

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên với vẻ đẹp giản dị, hồn nhiên của người con gái làng quê, nhưng cũng đang chịu tác động của cuộc sống nơi thị thành. Khi “em đi tỉnh về”, hình ảnh cô gái với khăn nhung, áo khuy bấm, quần lĩnh rộn ràng đã khiến “anh” không khỏi băn khoăn, lo lắng. Sự thay đổi về trang phục không chỉ thể hiện vẻ ngoài mới mẻ mà còn gợi lên nguy cơ phai nhạt bản sắc quê hương. Tuy nhiên, “em” không phải là người chạy theo lối sống phù hoa, xa hoa, mà chỉ đang trong quá trình trưởng thành, khám phá bản thân. Ẩn sâu trong cô vẫn là nét đẹp mộc mạc, chân thành và thuần khiết. Qua nhân vật “em”, Nguyễn Bính thể hiện niềm trân trọng đối với vẻ đẹp truyền thống và gửi gắm mong muốn con người biết giữ gìn cốt cách quê hương giữa dòng chảy đổi thay của thời đại. Hình ảnh “em” vì thế vừa gần gũi, vừa gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc hôm nay.

28 tháng 1

hiện tượng tâm lý đám đông đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong giới trẻ hiện nay, gây ra nhiều tác hại tiêu cực. Tác hại lớn nhất là việc giới trẻ dễ dàng mất đi cá nhân, bị cuốn theo số đông mà thiếu suy xét thấu đáo. Điều này dẫn đến phát thiếu kiểm soát khi quy phạm pháp luật hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội chẳng hạn, nhiều hạn chế tham gia vào các trào lưu độc hại mạng xã hội, bắt nạt trực tiếp, tụ tập gây rối trật tự công cộng chỉ vì giống mọi người hay sợ bị cô lập hơn nữa, tâm lý đám đông còn kìm hãm sự phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo của cá nhân khi mọi người đều suy nghĩ hành động theo chung, không ai dám như vậy khác biệt, dẫn đến sự nhất nhất Muy tiêu cực và Về lâu dài, điều này , khiến họ trở nên thụ động và dễ bị dẫn dắt bởi những thông tin sai lệch hoặc những kẻ có đồ xấu. Để khắc phục tình trạng này, giới trẻ cần rèn luyện bản lĩnh, tư duy độc lập, và khả năng phân tích thông tin một cách khách quan. Giáo dục về truyền thông và tâm lý hoặc đám đông trong nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cho các ban tre

Tâm lí đám đông là hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội và đang tác động mạnh mẽ đến giới trẻ hiện nay. Trước hết, tâm lí đám đông khiến nhiều bạn trẻ hành động theo số đông mà thiếu sự suy xét đúng sai, dẫn đến việc chạy theo những trào lưu lệch chuẩn. Điều này không chỉ làm mất đi bản sắc cá nhân mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức và lối sống. Bên cạnh đó, khi bị chi phối bởi đám đông, giới trẻ dễ đánh mất chính kiến, trở nên thụ động và thiếu bản lĩnh trước những vấn đề của cuộc sống. Nguy hiểm hơn, tâm lí đám đông có thể dẫn đến các hành vi bốc đồng, vi phạm pháp luật hoặc lan truyền thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện tư duy độc lập, biết chọn lọc thông tin và giữ vững lập trường để không bị cuốn theo những ảnh hưởng tiêu cực từ đám đông.


23 tháng 1


Việc đảm bảo quyền lợi của học sinh trong trường học hiện nay giữ vai trò vô cùng quan trọng. Khi quyền lợi của học sinh được tôn trọng, các em sẽ có môi trường học tập an toàn, lành mạnh và bình đẳng. Điều này giúp học sinh yên tâm học tập, phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức và kĩ năng sống. Đảm bảo quyền lợi học sinh còn góp phần hạn chế các vấn đề tiêu cực như bạo lực học đường, phân biệt đối xử hay xâm phạm nhân phẩm. Đồng thời, khi được lắng nghe và bảo vệ, học sinh sẽ mạnh dạn bày tỏ ý kiến, phát huy tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm. Về phía nhà trường, việc bảo vệ quyền lợi học sinh giúp xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, hiện đại và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Vì vậy, đảm bảo quyền lợi của học sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là nhiệm vụ chung của gia đình và toàn xã hội.


Đảm bảo quyền lợi của học sinh trong trường học hiện nay có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục. Trước hết, khi quyền lợi của học sinh được tôn trọng và bảo vệ, các em sẽ cảm thấy an toàn, được lắng nghe và yên tâm học tập. Điều này góp phần xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, lành mạnh và nhân văn. Bên cạnh đó, việc đảm bảo quyền lợi còn giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức và kĩ năng sống, từ đó hình thành nhân cách tự tin, trách nhiệm. Ngoài ra, việc tôn trọng quyền lợi của học sinh còn hạn chế các hiện tượng tiêu cực như bạo lực học đường, phân biệt đối xử hay áp đặt không phù hợp. Quan trọng hơn, điều này giúp học sinh nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ của bản thân, chuẩn bị hành trang cần thiết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

28 tháng 1

Thời gian là tài sản vô giá của mỗi con người, nhưng không phải ai cũng biết sử dụng thời gian một cách hiệu quả. Để không lãng phí thời gian, trước hết mỗi người cần xác định rõ mục tiêu học tập và cuộc sống của bản thân. Khi có mục tiêu cụ thể, ta sẽ biết mình cần làm gì và tránh sa đà vào những việc vô bổ. Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch hằng ngày, hằng tuần sẽ giúp quản lí thời gian khoa học hơn, cân bằng giữa học tập, nghỉ ngơi và giải trí. Ngoài ra, cần hạn chế các thói quen xấu như lười biếng, trì hoãn hay sử dụng quá nhiều thời gian cho mạng xã hội. Mỗi người cũng nên rèn luyện tính kỉ luật, biết quý trọng từng phút giây đang có. Khi biết sử dụng thời gian hợp lí, con người sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc, học tập và từng bước tiến gần hơn đến thành công trong tương lai.





Thời gian là tài sản vô giá của con người, một khi đã trôi qua sẽ không thể lấy lại. Vì vậy, việc sử dụng thời gian hợp lí là yêu cầu cần thiết đối với mỗi người, đặc biệt là giới trẻ. Trước hết, mỗi người cần xác định rõ mục tiêu học tập và cuộc sống để có định hướng sử dụng thời gian phù hợp. Việc lập kế hoạch cụ thể theo ngày, theo tuần sẽ giúp tránh tình trạng sống tùy tiện, thiếu khoa học. Bên cạnh đó, cần rèn luyện tính kỉ luật, chủ động loại bỏ những thói quen gây lãng phí thời gian như nghiện mạng xã hội, trì hoãn công việc. Ngoài ra, việc tận dụng thời gian rảnh để đọc sách, rèn luyện kĩ năng và chăm sóc sức khỏe cũng góp phần nâng cao giá trị của thời gian. Khi biết trân trọng từng phút giây, con người không chỉ sống hiệu quả hơn mà còn tạo nền tảng vững chắc cho tương lai.

23 tháng 1

Lối sống ích kỉ gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng đối với giới trẻ trong xã hội hiện nay. khi chỉ biết nghĩ đến bản thân, nhiều bạn trẻ trở nên vô cảm trước khó khăn, nỗi đau của người khác, từ đó làm suy giảm những giá trị tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia và tinh thần trách nhiệm. Điều này khiến các mối quan hệ bạn bè, gia đình dễ rạn nứt, người trẻ dần bị cô lập và mất đi sự gắn kết cần thiết trong cuộc sống. Bên cạnh đó, lối sống ích kỉ còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hình thành nhân cách. Giới trẻ sống ích kỉ thường khó chấp nhận ý kiến đóng góp, thiếu tinh thần hợp tác, dẫn đến hạn chế trong học tập và công việc. Không chỉ vậy, khi quen đặt lợi ích cá nhân lên trên tập thể, họ dễ có những hành vi thiếu chuẩn mực, làm tổn hại đến uy tín và tương lai của chính mình. Về lâu dài, lối sống ích kỉ khiến người trẻ đánh mất nhiều cơ hội phát triển, khó đạt được thành công bền vững và hạnh phúc trọn vẹn. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ tác hại của lối sống ích kỉ để biết sống vị tha, trách nhiệm và góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn


23 tháng 1

Lối sống ích kỉ đang là một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ hiện nay. Sống ích kỉ khiến con người chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà thờ ơ với cảm xúc, quyền lợi của người khác. Điều này làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên lạnh nhạt, thiếu sự gắn kết và cảm thông. Đối với giới trẻ, lối sống ích kỉ còn cản trở sự phát triển nhân cách, khiến họ khó hòa nhập với tập thể, dễ bị cô lập trong học tập và cuộc sống. Hơn nữa, khi chỉ biết nhận mà không biết cho đi, con người sẽ đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia và trách nhiệm cộng đồng. Về lâu dài, lối sống ích kỉ không chỉ gây tổn hại cho xã hội mà còn khiến chính người trẻ trở nên nghèo nàn về tinh thần. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ tác hại của lối sống ích kỉ để biết sống yêu thương, quan tâm và cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng.


Trong cuộc sống, thái độ sống tích cực đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Sống tích cực là biết nhìn nhận mọi việc bằng tinh thần lạc quan, chủ động vượt qua khó khăn thay vì than vãn hay buông xuôi. Khi đối diện với thử thách, người có thái độ sống tích cực sẽ coi đó là cơ hội để rèn luyện bản thân, tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành hơn. Nhờ vậy, họ luôn giữ được niềm tin vào bản thân và tương lai. Thái độ sống tích cực còn giúp con người lan tỏa năng lượng tốt đẹp đến những người xung quanh, xây dựng các mối quan hệ hài hòa và gắn bó. Trong học tập cũng như lao động, tinh thần tích cực giúp chúng ta kiên trì, nỗ lực và không ngại thất bại. Ngược lại, nếu sống bi quan, tiêu cực, con người dễ rơi vào chán nản, mất phương hướng và đánh mất nhiều cơ hội quý giá. Vì thế, mỗi người cần rèn luyện cho mình lối sống tích cực bằng cách biết trân trọng những điều giản dị, không ngừng học hỏi, dám ước mơ và hành động vì mục tiêu tốt đẹp. Sống tích cực không chỉ giúp ta hạnh phúc hơn mà còn góp phần làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa.


Thái độ sống tích cực là kim chỉ nam dẫn lối chúng ta vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Nó không chỉ là 1 trạng thái tinh thần mà còn là một phong cách sống, một cách chúng ta nhìn nhận và phản ứng với thế giới xung quanh. Khi ta có thái độ sống tích cực, ta sẽ nhìn thấy cơ hội trong khó khăn, thay vì chỉ thấy những rào cản. Chúng ta sẽ có thêm động lực để cố gắng, để không ngừng học hỏi và phát triển bản thân. Thái độ sống tích cực giúp giảm bớt lo âu và căng thẳng, tăng cường sức khoẻ tinh thần cho bản thân. Một người có thái độ sống tích cực thường có mối quan hệ tốt đẹp với mọi người, dễ dàng hoà nhập và nhận được sự giúp đỡ khi cần thiết. Họ biết cách trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống từ những điều nhỏ nhặt nhất. Thái độ sống tích cực là nguồn cảm hứng cho những người xung quanh. Nó còn lan toả năng lượng tích cực tạo nên một cộng đồng sống tốt đẹp.

Đọc đoạn trích sau:    Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về....
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau:

   Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ hồ Tây.

    Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói:

  - Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên.

  Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:  

  - Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.

  Dương Trạm nói:  

  - Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà ngươi, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên…  

(Trích Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016, tr. 142)  

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể loại của đoạn trích trên.

Câu 2. Điều gì khiến Dương Trạm được Đức Đế quân khen là có bụng tốt và tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng?  

Câu 3. Giải thích nghĩa của từ "kiềm thúc".

Câu 4: Các chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích đem lại tác dụng gì? 

Câu 5. Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta? (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)

0
Đọc đoạn trích sau:    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau:

   (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)  

    Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:  

   - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?  

   Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.  

   Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: "Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin". Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.  

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn,  NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)  

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.

Câu 2. Chàng trai xem chiếc hộp con chứa khối đỏ trong hoàn cảnh nào? 

Câu 3. Xác định chủ đề của đoạn trích.

Câu 4. Nêu cảm nhận của anh/chị về chi tiết sau: “Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến  thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.”.

Câu 5. Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu thời phong kiến? (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)

4

câu 1 kể chuyện

2 tháng 1

Câu 1 phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là: tự sự

Câu 2

Tràng trai sem chiếc hộp con chưa khối đỏ trong hoàn cảnaisau khi đến điếu cô gái và được bố cô gái mời ở lại ăn cơm

Câu 3

Chủ đề chính của đoạn trích là nói về tình yêu của Nguyễn Sinh và cô gái nọ

Câu 4

"Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.".

Cảm nhận của tôi là chàng trai rất yêu cô gái

Câu 5

Qua câu chuyện tình bi kịch ở Thanh Trì Khát vọng tình yêu tự do tinh yêu thời phong kiến Được thể hiện là khát vọng chính đáng Nhưng cũng đầy xót xa .Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến đầy rẫy những rào cản, khát vọng này thường